Chủ nhật 26/04/2026 02:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thị trường dịch vụ pháp lý và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Phát triển thị trường dịch vụ pháp lý là một trong những biện pháp góp phần quản trị rủi ro pháp lý, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp; đồng thời góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước.

Tóm tắt: Phát triển thị trường dịch vụ pháp lý là một trong những biện pháp góp phần quản trị rủi ro pháp lý, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp; đồng thời góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước. Tuy nhiên, hiện nay, thị trường dịch vụ pháp lý ở Việt Nam được đánh giá còn sơ khai, thiếu các cơ chế hữu hiệu để thúc đẩy thị trường dịch vụ pháp lý phát triển. Bài viết này tập trung nhận diện về thị trường dịch vụ pháp lý ở Việt Nam, cũng như làm rõ những định hướng về chính sách, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến phát triển thị trường dịch vụ pháp lý trong thời gian tới.

Abstract: Developing the legal service market is one of the measures contributing to the management of legal risks, and protecting the legitimate rights and interests of people and businesses; at the same time, contributing to the improvement of the effectiveness and efficiency of the State's management. However, at present, the legal service market in Vietnam is considered to be in its infancy, lacking effective mechanism to promote the development of the legal services market. This article focuses on identifying the legal service market in Vietnam, as well as clarifying the policy directions, proposing to improve the legal regulations related to the development of the legal service market in the next time.

1. Vài nét về thị trường dịch vụ pháp lý và phát triển thị trường dịch vụ pháp lý ở Việt Nam
Theo The Business Research Company[1] thì: “Thị trường dịch vụ pháp lý bao gồm các hoạt động cung cấp dịch vụ, hàng hóa liên quan đến pháp luật bởi các tổ chức (bao gồm các tổ chức, các cá nhân kinh doanh và các hợp danh); họ tư vấn cho khách hàng (cá nhân, doanh nghiệp hoặc các tổ chức khác) về các quyền và lợi ích hợp pháp của họ; đồng thời đại diện cho khách hàng trong các vụ việc dân sự và hình sự, giao dịch kinh doanh và các vấn đề khác thông qua tư vấn pháp lý và các hỗ trợ khác. Các nhà cung cấp dịch vụ pháp lý có nguồn lực chính là con người. Họ thường khai thác các kiến thức và kỹ năng của nhân viên trên cơ sở giao việc cho một cá nhân hay một nhóm (nhân viên) chịu trách nhiệm cung cấp các dịch vụ (pháp lý) cho khách hàng”[2].
Có thể hiểu, thị trường dịch vụ pháp lý là nơi những tổ chức, cá nhân có hiểu biết, có kiến thức và chuyên môn pháp luật được Nhà nước tổ chức hoặc cho phép hành nghề thực hiện các dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu được biết, được tư vấn hoặc giúp đỡ về mặt pháp lý của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Hiểu theo cách khác, thị trường dịch vụ pháp lý là nơi cung cấp dịch vụ, hàng hóa liên quan đến pháp luật do những tổ chức, cá nhân có hiểu biết, có kiến thức và chuyên môn pháp luật được Nhà nước tổ chức hoặc cho phép hành nghề. Họ tư vấn cho khách hàng (cá nhân, doanh nghiệp hoặc các tổ chức khác) về các quyền và lợi ích hợp pháp của họ; đồng thời đại diện cho khách hàng trong các vụ việc dân sự và hình sự, giao dịch kinh doanh và các vấn đề khác thông qua tư vấn pháp lý và các hỗ trợ khác theo quy định của pháp luật.
Trước hết, thị trường dịch vụ pháp lý được xác định là “thị trường dịch vụ”, do vậy, nó mang đầy đủ các đặc điểm, yếu tố của thị trường nói chung như tuân thủ và vận hành theo các quy luật của thị trường (quy luật cung - cầu; quy luật giá trị; quy luật cạnh tranh...) và mang đầy đủ đặc điểm của thị trường dịch vụ, như tính tính vô hình, tính không thể tách rời, tính không thể cất giữ, tính đa dạng và sự tham gia của người tiêu dùng... Tuy nhiên, nó cũng có những đặc điểm riêng như: Phụ thuộc vào quy định pháp luật của mỗi quốc gia; chịu sự tác động của định hướng đối ngoại của quốc gia và gắn chặt với sự phát triển kinh tế - xã hội ở từng thời kỳ và vùng miền.
Ở Việt Nam hiện nay, pháp luật chưa có quy định riêng về thị trường dịch vụ pháp lý, chỉ có các quy định về hình thức, thẩm quyền quản lý, cung cấp/thực hiện một hoặc nhiều hoạt động là dịch vụ pháp lý, như: Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012); Luật Trọng tài thương mại năm 2010; Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017… và các văn bản hướng dẫn thi hành. Nội dung các văn bản này quy định về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng; quy định cụ thể về tiêu chuẩn hành nghề, chứng chỉ hành nghề, hình thức hành nghề, quyền và nghĩa vụ của các chức danh; trình tự, thủ tục hành nghề và về thù lao, chi phí, nội dung quản lý nhà nước theo phạm vi tương ứng.
Về hợp tác quốc tế, Việt Nam cam kết mở cửa trong biểu cam kết dịch vụ của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO); Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) (các nghị định thư của Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ); Hiệp định thương mại tự do song phương với Nhật Bản, Chi Lê, Hàn Quốc, Liên minh kinh tế Á - Âu; các Hiệp định trong khuôn khổ ASEAN; Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Châu Âu (EVFTA). Cụ thể, Việt Nam nhất quán trong các cam kết quốc tế về mức độ mở cửa thị trường như sau:
Dịch vụ pháp lý (CPC 861) không bao gồm tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa hay đại diện cho khách hàng của mình trước Tòa án Việt Nam; dịch vụ giấy tờ pháp lý và công chứng liên quan tới pháp luật Việt Nam. Các phương thức cung cấp dịch vụ pháp lý cụ thể là: (i) Cung cấp qua biên giới có mức cam kết không hạn chế. (ii) Tiêu dùng ở nước ngoài có mức cam kết không hạn chế. (iii) Hiện diện thương mại có mức cam kết như sau: Tổ chức luật sư nước ngoài được phép thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới các hình thức là chi nhánh của tổ chức luật sư nước ngoài, công ty con của tổ chức luật sư nước ngoài, công ty luật nước ngoài, công ty hợp danh giữa tổ chức luật sư nước ngoài và công ty luật hợp danh Việt Nam. Hiện diện thương mại của tổ chức luật sư nước ngoài được phép tư vấn luật Việt Nam nếu luật sư tư vấn đã tốt nghiệp đại học luật của Việt Nam và đáp ứng được các yêu cầu áp dụng cho luật sư hành nghề tương tự của Việt Nam (nhấn mạnh). (iv) Hiện diện của thể nhân chưa cam kết, trừ các cam kết chung.
Ở Việt Nam, từ năm 2011, để từng bước xây dựng và vận hành thị trường dịch vụ pháp lý, Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020[3] đã được ban hành, trong đó, đề ra một số quan điểm, định hướng để phát triển đội ngũ luật sư đủ về số lượng, bảo đảm về chất lượng, vững vàng về bản lĩnh chính trị, trong sáng về đạo đức nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và nhu cầu của xã hội, thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XI của Đảng, Chiến lược cải cách tư pháp, góp phần đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, phát huy dân chủ, phát triển kinh tế nhanh, bền vững, tạo nền tảng để nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Đồng thời với việc phát triển số lượng và nâng cao chất lượng, Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020 cũng đặt ra định hướng phát triển nghề luật sư theo hướng chuyên nghiệp hóa, đáp ứng nhu cầu dịch vụ pháp lý ngày càng cao của cơ quan, tổ chức, công dân, doanh nghiệp; nâng cao vị trí, vai trò của đội ngũ luật sư trong việc tham gia hoạch định chính sách, xây dựng, giám sát thực thi pháp luật, thực hiện trách nhiệm xã hội, góp phần bảo đảm thực hiện chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp, bảo vệ công lý, xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, sự “tự do hóa” của nghề luật sư sau khi Việt Nam gia nhập WTO, để nâng cao và đáp ứng yêu cầu hội nhập, Chiến lược đã đề ra định hướng phát triển hoạt động hành nghề luật sư trở thành nghề chuyên nghiệp, trong đó chú trọng phát triển tổ chức hành nghề luật sư hành nghề chuyên sâu trong một số lĩnh vực, có khả năng cạnh tranh cao, từng bước chiếm lĩnh thị trường dịch vụ pháp lý trong khu vực và trên thế giới.
Theo Báo cáo kết quả thực hiện Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020 và Đề án “Phát triển đội ngũ luật sư phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế từ năm 2010 đến năm 2020” của Bộ Tư pháp (Báo cáo số 05/BC-BTP ngày 08/01/2021), từ thời điểm triển khai Chiến lược (năm 2011) đến năm 2020, đội ngũ luật sư cả nước đã tăng từ 6.250 người lên hơn 15.000 người. Số lượng luật sư hành nghề chuyên sâu trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài theo Đề án “Phát triển đội ngũ luật sư phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế từ năm 2010 đến năm 2020” được phê duyệt theo Quyết định số 123/QĐ-TTg ngày 18/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ (Đề án 123) đã có bước phát triển, tăng hơn 50 lần và đạt mục tiêu của Đề án[4]. Đa số luật sư phục vụ hội nhập trưởng thành qua môi trường làm việc thực tế, học hỏi, trao đổi với các đồng nghiệp nước ngoài tại thị trường trong nước.
Về phát triển tổ chức hành nghề luật sư, mục tiêu của Chiến lược là phát triển từ 5 - 10 tổ chức hành nghề luật sư tại các tỉnh khó khăn. Số lượng tổ chức hành nghề luật sư tăng từ 2.928 (năm 2011) lên hơn 4.400 tổ chức (năm 2020), tập trung chủ yếu tại Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Ở các tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, số lượng tổ chức hành nghề luật sư cũng đã có sự gia tăng[5]. Việc thành lập nhiều tổ chức hành nghề luật sư đã tạo điều kiện cho cá nhân, tổ chức thuận lợi hơn trong việc tiếp cận với dịch vụ của luật sư. Công tác quản trị, điều hành của các tổ chức hành nghề tiếp tục được hoàn thiện theo hướng chuyên nghiệp với việc đầu tư nghiêm túc cho hoạt động hành nghề; tập trung vào các lĩnh vực chuyên sâu.
Số lượng tổ chức hành nghề luật sư chuyên sâu trong lĩnh vực thương mại quốc tế đã đạt khoảng 50 tổ chức, vượt mục tiêu cụ thể trong Đề án 123. Một số tổ chức hành nghề luật sư bước đầu phát huy được thế mạnh, xây dựng được thương hiệu của mình, cũng như tạo được sự tín nhiệm trên thị trường dịch vụ pháp lý trong khu vực và quốc tế, trở thành “đối tác” cạnh tranh với các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài và được các tạp chí uy tín trong khu vực xếp hạng đang ngày một gia tăng với nhiều gương mặt mới. Các tổ chức hành nghề luật sư này cũng là nơi tập hợp đông đảo đội ngũ luật sư giỏi, thông thạo ngoại ngữ, am hiểu pháp luật, tập quán thương mại quốc tế, có khả năng giúp Chính phủ, các doanh nghiệp, tổ chức giải quyết các vụ việc phức tạp liên quan hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần đào tạo, phát triển đội ngũ luật sư Việt Nam trong lĩnh vực này.
Theo Báo cáo số 09/BC-LĐLSVN ngày 04/5/2020 của Liên đoàn Luật sư Việt Nam, từ tháng 6/2009 đến hết năm 2019, các luật sư đã tham gia 333.907 vụ việc về tố tụng[6], 121.744 vụ việc về dân sự và hôn nhân gia đình, 54.170 vụ việc về kinh tế, thương mại, 11.725 vụ việc về hành chính, lao động. Hiện nay, 100% các vụ án theo yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng đều có luật sư tham gia. Hoạt động tham gia tố tụng của luật sư đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, giảm tình trạng oan sai, làm sáng tỏ sự thật khách quan, xét xử đúng người đúng tội, bước đầu thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa. Hoạt động tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp, tổ chức trong các lĩnh vực đầu tư, thương mại quốc tế đã tạo được tín nhiệm trên thị trường dịch vụ pháp lý trong khu vực, trở thành “đối tác” cạnh tranh với các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài. Các luật sư, tổ chức hành nghề luật sư đã tích cực, chủ động tham gia trợ giúp, hợp tác với các công ty luật nước ngoài trong quá trình giải quyết vụ việc về phòng vệ thương mại của nước ngoài đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, giải quyết tranh chấp theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO mà một bên tham gia là Chính phủ Việt Nam[7].
Hoạt động đại diện ngoài tố tụng và các dịch vụ pháp lý khác như dịch vụ liên quan đến thành lập doanh nghiệp, chuyển nhượng bất động sản, xuất nhập cảnh... cũng có chiều hướng gia tăng trong thời gian gần đây. Báo cáo cũng đã đưa ra đánh giá: Tổ chức, quy mô và chất lượng hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư đã bài bản, chuyên nghiệp hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Một số tổ chức hành nghề luật sư có xu hướng hoạt động chuyên sâu trong các giao dịch đầu tư, mua bán - tái cấu trúc doanh nghiệp, thị trường vốn, thị trường bất động sản, sở hữu trí tuệ, hàng hải, logistics, tham gia tranh tụng và trọng tài thương mại có yếu tố nước ngoài… và có xu hướng “quốc tế hóa”, phát triển thị trường ra nước ngoài; tuyển dụng luật sư nước ngoài làm việc; quan tâm đào tạo luật sư thông qua việc thuyên chuyển luật sư tới các văn phòng luật sư tại các nước châu Á, châu Mỹ; tổ chức hội thảo về kỹ năng hành nghề trong lĩnh vực thương mại quốc tế với sự tham gia của luật sư trong và ngoài nước. Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đối tượng chính sách và công tác xã hội khác được các luật sư quan tâm thực hiện. Hầu hết, các Đoàn Luật sư đều phát động phong trào để luật sư tham gia trợ giúp pháp lý miễn phí, trực tiếp cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người nghèo, người yếu thế bằng các hình thức khác nhau[8].
Thời gian gần đây, ngành dịch vụ pháp lý tại Việt Nam đứng trước cơ hội phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, đi cùng với cơ hội đó là áp lực cạnh tranh với các luật sư đồng nghiệp đến từ nước ngoài khi thị trường dịch vụ pháp lý cũng phải mở cửa theo cam kết WTO và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (FTA). Yêu cầu thông thạo ngoại ngữ, cập nhật được thông tin và kiến thức liên tục để bắt kịp với sự thay đổi của đời sống kinh tế - xã hội cũng là những rào cản mà các luật sư, tổ chức hành nghề luật sư phải vượt qua nếu muốn đón nhận thành công cơ hội này[9].
Từ thực tiễn và các nhận định, đánh giá trên cho thấy, các hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý của luật sư trong thời gian qua rất sôi động, với hàng trăm nghìn dịch vụ mỗi năm và được thực hiện trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, đã phúc đáp được nhu cầu sử dụng dịch vụ của tổ chức và công dân. Việc tham gia vào thị trường dịch vụ pháp lý của các chủ thể, nhất là của các chủ thể quản lý đã thúc đẩy, định hướng hoạt động dịch vụ pháp lý nhằm bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức và công dân. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, khi Đảng và Nhà nước đang quyết liệt chỉ đạo tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và năng lực kiến tạo, phát triển.
2. Một số giải pháp phát triển thị trường dịch vụ pháp lý ở Việt Nam trong thời gian tới
Từ năm 1991, trong “Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000” Đảng ta đã xác định, một trong những giải pháp đổi mới và hoàn thiện các công cụ quản lý vĩ mô trọng yếu của Nhà nước là phát triển các hình thức dịch vụ pháp lý; mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo các luật gia, nhất là về luật kinh tế[10]. Thực hiện định hướng này, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 05/02/2007 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO đã xác định rõ chủ trương xã hội hóa mạnh mẽ hoạt động bổ trợ tư pháp và tăng cường đào tạo, bồi dưỡng để hình thành và phát triển được đội ngũ chuyên gia pháp luật và luật sư am hiểu luật pháp quốc tế, giỏi ngoại ngữ, có đủ khả năng tham gia tranh tụng quốc tế. Đặc biệt, Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 30/3/2009 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động luật sư đã đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao vị trí, vai trò của luật sư, bảo đảm cơ chế để luật sư thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm, kiện toàn tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư…
Các định hướng này tiếp tục được kế thừa và khẳng định tại Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Theo đó, trong Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2016 - 2020 và phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2021 - 2025 khi đánh giá về kết quả thực hiện các đột phá chiến lược đã khẳng định: “Hoạt động luật sư, công chứng, trợ giúp pháp lý, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp có bước phát triển mạnh, thị trường dịch vụ pháp lý bước đầu có đóng góp tích cực cho việc quản trị rủi ro pháp lý trong hoạt động đầu tư, kinh doanh và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp”[11]. Cũng trong Báo cáo này, một trong các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững trên cơ sở giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô là “tiếp tục phát triển mạnh thị trường dịch vụ pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi để người dân, doanh nghiệp tăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động đầu tư, kinh doanh và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp”[12]. Phát triển mạnh thị trường dịch vụ pháp lý cũng là một trong những giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và năng lực kiến tạo phát triển[13]. Đó là các chủ trương, định hướng quan trọng của Đảng về phát triển dịch vụ pháp lý cũng như định hướng xây dựng và phát triển thị trường dịch vụ pháp lý trong thời gian tới.
Để tiếp tục phát triển mạnh thị trường dịch vụ pháp lý theo định hướng đã được khẳng định tại Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng, trong thời gian tới, cần thực hiện một số công việc sau:
Một là, sớm hoàn thiện chính sách, pháp luật về dịch vụ pháp lý và thị trường dịch vụ pháp lý cũng như có cơ chế phù hợp để thúc đẩy thị trường dịch vụ pháp lý phát triển nhằm phục vụ nhu cầu ngày càng đa dạng của người dân và doanh nghiệp; qua đó, đề cao hiệu quả phòng ngừa, tính nhân đạo, khắc phục các rủi ro pháp lý trong hoạt động đầu tư, kinh doanh và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp. Đồng thời, đồng bộ hóa các quy định pháp luật trong nước so với các thông lệ, quy tắc thực hành thương mại quốc tế và việc thực hiện công khai minh bạch hóa các thiết chế quản lý theo quy định của WTO.
Hai là, hoàn thiện pháp luật về dân sự, thương mại bảo đảm sự an toàn, thông thoáng, công bằng trong các quan hệ dân sự, thương mại cũng như trong giải quyết vụ việc khi có tranh chấp; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng; giải quyết kịp thời những vấn đề mới phát sinh liên quan đến sự phát triển của khoa học, công nghệ, các tranh chấp có yếu tố nước ngoài, tranh chấp phi truyền thống.
Ba là, hoàn thiện pháp luật về tố tụng tư pháp và tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi và tăng khả năng tiếp cận công lý của người dân, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền của những người tham gia tố tụng; bảo đảm tính độc lập, khách quan, tuân thủ pháp luật của điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán trong hoạt động tư pháp. Đồng thời, hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền hành nghề của luật sư, tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư tham gia đầy đủ và thực chất trong hoạt động tố tụng.
Bốn là, tiếp tục hoàn thiện pháp luật về bổ trợ tư pháp đồng bộ với pháp luật tố tụng tư pháp; phát huy một cách thực chất vai trò của chế định bổ trợ tư pháp nhất là vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp; tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý về luật sư và hành nghề luật sư; nâng cao chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư; khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các chủ thể tham gia vào thị trường dịch vụ pháp lý phát triển, nhất là các tổ chức hành nghề luật sư.
Năm là, tiếp tục kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực, trách nhiệm tự quản của Liên Đoàn luật sư Việt Nam và các Đoàn Luật sư; bảo đảm thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về luật sư; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp. Có cơ chế phù hợp để phát huy hơn nữa trí tuệ tập thể của đội ngũ luật sư Việt Nam trong việc đóng góp vào công cuộc xây dựng kinh tế - xã hội của đất nước; xây dựng, hoàn thiện pháp luật và phản biện chính sách của Đảng và Nhà nước.
Sáu là, tiếp tục đổi mới chương trình đào tạo nghề luật sư theo hướng gắn kết với đào tạo các chức danh tư pháp khác; có cơ chế kiểm soát chặt chẽ hơn chất lượng đào tạo cử nhân luật, đào tạo nghề luật sư, tập sự hành nghề luật sư. Tăng cường bồi dưỡng, đào tạo hình thành đội ngũ luật sư có khả năng tư vấn, tranh tụng trong lĩnh vực thương mại quốc tế và các vấn đề pháp lý có yếu tố nước ngoài.

ThS. Dương Bạch Long
Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp




[1]. https://www.thebusinessresearchcompany.com/.
[2]. Theo Báo cáo thị trường dịch vụ pháp lý, nguồn: https://www.thebusinessresearchcompany.com/report/legal-services-market.
[3]. Ban hành kèm theo Quyết định số 1072/QĐ-TTg ngày 05/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ.
[4]. Mỗi năm, cả nước phát triển từ 800 - 1.000 luật sư và phấn đấu đạt khoảng 1.000 luật sư phục vụ yêu cầu hội nhập quốc tế. Một số tỉnh, thành phố phát triển số lượng luật sư đã đạt mục tiêu của tỉnh đề ra đến năm 2020 (Quảng Ninh, Đắk Lắk, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Đồng Tháp).
[5]. Nếu như thời điểm tháng 12/2009 có 07 địa phương có 01 - 02 văn phòng luật sư, thì đến nay, trên toàn quốc chỉ còn 02 tỉnh có 01 - 02 văn phòng luật sư (Hà Nam và Lai Châu), 02 tỉnh có dưới 05 tổ chức hành nghề luật sư (Yên Bái, Bắc Kạn).
[6]. Trong đó có 146.268 vụ án hình sự (72.028 vụ án do khách hàng mời, 74.240 vụ án do cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu).
[7]. Vụ Saigon Metropolitan, vụ kiện Trịnh Vĩnh Bình, vụ kiện Dialasie, vụ kiện South Fork, các vụ kiện tôm, cá ba sa...
[8]. Tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng; trực tiếp tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật.
[9]. Nguồn: http://ilawyers.i-law.vn/cac-xu-huong-thi-truong-dich-vu-phap-ly-viet-nam-nam-2018/.
[10]. Xem tại: https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-vii/chien-luoc-on-dinh-va-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-den-nam-2000-1559, truy cập ngày 09/6/2022.
[11]. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (2021), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, Tập 2, tr. 31, 32.
[12]. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (2021), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, Tập 2, tr. 98.
[13]. Tại điểm 10 Mục IV - Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu trong Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2016 - 2020 và phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2021 -2025 khi xác định các nhiệm vụ, giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và năng lực kiến tạo phát triển đã xác định nhiệm vụ: “Phát triển mạnh thị trường dịch vụ pháp lý, các hoạt động luật sư, tư vấn pháp luật, bổ trợ tư pháp và các thiết chế giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án”, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (2021), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 2, tr. 149, 150.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: