Thứ hai 26/10/2026 02:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong pháp luật hình sự Liên bang Nga và kinh nghiệm cho Việt Nam

Bài viết phân tích, so sánh, đối chiếu các quy định đặc thù về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên trong pháp luật hình sự Việt Nam và Liên Bang Nga, để rút ra những kinh nghiệm và kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam về thời hiệu đối với người dưới 18 tuổi.

Tóm tắt: Bài viết phân tích, so sánh, đối chiếu các quy định đặc thù về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên trong pháp luật hình sự Việt Nam và Liên Bang Nga, để rút ra những kinh nghiệm và kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam về thời hiệu đối với người dưới 18 tuổi.

Abstract: The article analyzes, compares and contrasts the specific provisions on the statute of limitations for criminal prosecution against minors in the criminal law of Vietnam and the Russian Federation, in order to draw experiences and propose to complete the provisions of the Vietnam Penal Code on the statute of limitations for persons under 18 years of ag.

1. Quy về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội của Bộ luật Hình sự Việt Nam
Theo quy định của Công ước quốc tế về quyền trẻ em, thì “trẻ em” được hiểu là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn[1]. Phù hợp với quy định này, Luật Trẻ em năm 2016 của Việt Nam đưa ra khái niệm: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”[2]. Tuy nhiên, Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi”. Như vậy, theo pháp luật Việt Nam người chưa thành niên bao gồm trẻ em và người từ đủ 16 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi.
Xuất phát từ đặc thù tâm lý lứa tuổi, người dưới 18 tuổi luôn là đối tượng cần được sự quan tâm và bảo vệ đặc biệt. Thể hiện điều này, Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự) đã có những quy định để bảo đảm quyền lợi cho người dưới 18 tuổi có hành vi phạm tội. Cụ thể: Bộ luật Hình sự còn có sự phân hóa trách nhiệm hình sự (TNHS) rõ ràng giữa người trên 18 tuổi và người dưới 18 tuổi phạm tội bằng việc dành riêng Chương XII để quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (từ Điều 90 đến Điều 107) để quy định TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trên cơ sở thể hiện rõ nguyên tắc: Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội; quy định những trường hợp có thể miễn TNHS và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục[3]; việc truy cứu TNHS người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào những đặc điểm về nhân thân của họ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm; không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa; án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi phạm tội, thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm (Điều 91). Đây là những quy định mang tính chất nhân đạo, đồng thời, thể hiện quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam lấy phòng ngừa tội phạm là trọng tâm hơn vấn đề trừng trị tội phạm nói chung và đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng.
Tuy nhiên, trong Chương XII vấn đề thời hiệu dành riêng đối với người dưới 18 tuổi chưa được quy định nên áp dụng như người trên 18 tuổi. Điều 27 Bộ luật Hình sự quy định, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự (khoản 1 Điều 27). Theo đó, đối với người dưới 18 tuổi thời hiệu truy cứ trách nhiệm hình sự là 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng; 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng; 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng; 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên, với người dưới 18 tuổi, thời hiệu này chỉ được tính đối với những tội danh cụ thể[4]. Khi hết thời hạn này, người phạm tội không bị truy cứu TNHS khi thỏa mãn các điều kiện:
Thứ nhất, trong thời hạn nói trên, người phạm tội không được phạm tội mới mà Bộ luật Hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên 01 năm tù. Nếu trong thời hạn trên, người phạm tội phạm tội mới mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên 01 năm tù thì thời gian đã qua không được tính và thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày phạm tội mới.
Thứ hai, trong thời hạn nói trên, người phạm tội không được cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã thì thời gian trốn tránh không được tính và thời hiệu được tính lại kể từ khi người phạm tội ra tự thú hoặc bị bắt giữ.
Với quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự như trên có thể thấy, các điều kiện không phạm tội mới mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội đó là đến 01 năm tù, không được cố tình trốn tránh và chưa có lệnh truy nã là những điều kiện để chứng tỏ người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa hoặc tính nguy hiểm cho xã hội của người phạm tội là không còn đáng kể để làm cơ sở miễn TNHS do hết thời hiệu nên người phạm tội được áp dụng như nhau là phù hợp nhưng điều kiện về khoảng thời gian đã trôi qua kể từ ngày thực hiện tội phạm để tính thời hiệu được áp dụng như nhau giữa người đủ 18 tuổi và người dưới 18 tuổi phạm tội cho thấy sự chưa nhất quán trong đường lối xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội.
Mặt khác, theo tác giả, thời hiệu trong Bộ luật Hình sự là một trong những chế định phản ánh nguyên tắc nhân đạo trong pháp luật hình sự Việt Nam. Nên cũng cần có quy định riêng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Bởi vì, người phạm tội phải bị truy cứu TNHS và phải chấp hành hình phạt nhưng khi được áp dụng chế định thời hiệu thì người phạm tội không bị truy cứu TNHS. Do đó, đối với người dưới 18 tuổi cũng cần được quan tâm đặc biệt hơn và đối xử nhân đạo, khoan hồng.
2. Quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong Bộ luật Hình sự Liên bang Nga
Bộ luật Hình sự Liên bang Nga đã dành riêng Chương 14 để quy định các đặc điểm về TNHS và hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội (Bộ luật Hình sự Liên bang Nga không quy định người dưới 18 tuổi như Việt Nam). Về cơ bản, Bộ luật Hình sự Liên bang Nga và Bộ luật Hình sự Việt Nam có những điểm tương đồng khi quy định một chương riêng biệt để xử lý người chưa thành niên phạm tội ngoài những quy định chung. Theo Bộ luật Hình sự Liên bang Nga, người chưa thành niên là người từ 14 đến dưới 18 tuổi, tính đến thời điểm phạm tội[5]. Khi người chưa thành niên phạm tội, họ có thể bị áp dụng hình phạt[6] hoặc biện pháp giáo dục cưỡng chế. Về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, Bộ luật Hình sự Liên Bang Nga quy định tại Điều 78, cụ thể:
“1. Một người được miễn trách nhiệm hình sự khi thời hạn sau đây đã hết kể từ ngày phạm tội
a. Hai năm khi phạm tội ít nghiêm trọng
b. Sáu năm khi phạm tội nghiêm trọng
c. Mười năm khi phạm tội nghiêm trọng
d. Mười lăm năm khi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng
2. Thời hạn được tính từ ngày phạm tội đến thời điểm bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Nếu một người phạm tội mới thì thời hạn đối với mỗi tội phạm sẽ được tính độc lập.
3. Việc trốn trong thời hạn này sẽ bị dừng lại nếu người phạm tội trốn tránh điều tra hoặc xét xử tại tòa án. Trong trường hợp này, thời hạn giới hạn sẽ được tiếp tục kể từ thời điểm giam giữ người nói trên hoặc thừa nhận tội lỗi của anh ta”.
Tuy có điểm khác biệt vời thời hiệu truy cứu TNHS đối với từng loại tội nhưng nhìn chung cơ bản vẫn có những điểm tương đồng so với Bộ luật Hình sự Việt Nam. Nhưng quy định về thời hiệu này không phải cho tất cả người phạm tội, mà đối với người người chưa thành niên, Bộ luật Hình sự Liên bang Nga có quy định riêng. Theo đó, Điều 94 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga quy định về thời hiệu áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội: “Thời hiệu đã được xem xét tại các Điều 78 và Điều 83[7] Bộ luật này, khi miễn TNHS hoặc miễn chấp hành hình phạt cho người chưa thành niên phạm tội sẽ được giảm đi một nửa”. Như vậy, Bộ luật Hình sự Liên bang Nga quy định cả thời hiệu truy cứu TNHS đối với người chưa thành niên phạm tội từ đủ 14 đến chưa đủ 18 tuổi, cụ thể là 01 năm khi phạm tội ít nghiêm trọng, 03 năm khi phạm tội nghiêm trọng, 05 năm khi phạm tội nghiêm trọng, 07 năm 06 tháng khi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
Đồng thời, thời hiệu này cũng chỉ áp dụng đối với người chưa thành niên khi họ phạm những tội mà theo quy định của Bộ luật Hình sự Liên bang Nga phải chịu TNHS theo quy định tại Điều 20 về tuổi chịu TNHS[8]. Với quy định trên, người chưa thành niên phạm tội luôn được hưởng một thời hiệu ngắn hơn so với người đã thành niên là quy định có lợi theo chuẩn mực quốc tế về hướng xử lý đối với người chưa thanh niên phạm tội có sự phân biệt đối với người đã thành niên, góp phần bảo đảm cho người chưa thành niên có điều kiện tốt nhất để mau chóng tái hòa nhập cộng đồng.
3. Kinh nghiệm cho Việt Nam về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi
Bên cạnh những quy định chung về quyền con người, quyền công dân, Hiến pháp năm 2013 còn dành riêng một điều để bảo vệ quyền của trẻ em, theo đó, trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em; nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em (Điều 37). Bên cạnh đó, Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á và quốc gia thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em vào ngày 20/2/1990. Theo công ước, trẻ em vì một lý do nào đó phải tham gia vào các hoạt động tư pháp hình sự thì mọi biện pháp xử lý phải xuất phát từ yêu cầu giáo dục chứ không phải trừng trị. Đồng thời, phải bảo đảm rằng, việc đối xử với trẻ em phải trên cơ sở tôn trọng nhân phẩm và phẩm giá của các em, phù hợp với độ tuổi và mức độ trưởng thành, thúc đẩy tái hòa nhập cộng đồng.
Ngoài ra, Hướng dẫn làm việc với trẻ em trong tư pháp hình sự 1997 (Guidelines for Action on Children in the Criminal Justice System 1997) đã đưa ra những nội dung nhằm giúp cho các quốc gia thành viên thực hiện Công ước về quyền trẻ em, thực hiện các mục tiêu của Công ước; sử dụng và áp dụng các quy tắc, tiêu chuẩn của Liên Hợp quốc trong lĩnh vực tư pháp liên quan đến người chưa thành niên. Theo đó, các quốc gia cần thấy được tầm quan trọng của một cách tiếp cận quốc gia nhất quán và toàn diện trên lĩnh vực tư pháp người chưa thành niên, dựa trên cơ sở tôn trọng tính liên kết, không thể chia cắt của tất cả các quyền của trẻ em[9]. Hướng dẫn này cũng nêu rõ các quốc gia thành viên cần có một quy trình tư pháp toàn diện trong đó lấy trẻ em làm trung tâm. Các luật hiện hành và dự kiến ban hành về lĩnh vực tư pháp liên quan, cũng như tác động của chúng với trẻ em cần phải được rà soát, đánh giá bởi các chuyên gia độc lập hoặc bằng các hình thức tư vấn khác. Thủ tục đặc biệt cần được xây dựng để đáp ứng các nhu cầu đặc biệt của trẻ em, cần giảm thiểu việc đưa trẻ em vào các cơ sở tập trung kín. Việc cách ly trẻ em như vậy chỉ nên thực hiện phù hợp với Điều 37 (b)[10] của Công ước về quyền trẻ em và chỉ được coi là biện pháp cuối cùng, áp dụng trong một thời gian ngắn. Biện pháp nhục hình trong hệ thống tư pháp và bảo trợ xã hội dành cho trẻ em cần bị nghiêm cấm. Đồng thời, xác định các bước đi thích hợp nhằm tạo một loạt các biện pháp giáo dục và có tính chất thay thế ở các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, nhằm ngăn ngừa sự tái phạm và thúc đẩy khả năng tái hòa nhập xã hội của trẻ em phạm pháp.
Nghiên cứu, phân tích pháp luật Liên bang Nga về thời hiệu truy cứu TNHS đối với người chưa thành niên (người dưới 18 tuổi), tác giả kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam về thời hiệu đối với người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi phạm tội theo hướng, nên quy định thời hiệu đối với người dưới 18 tuổi phạm tội có thời hạn bằng 1/2 so với người trên 18 tuổi phạm tội. Đây là quy định có lợi cho người dưới 18 tuổi, nhằm bảo đảm được tốt hơn quyền lợi của họ.

TS. Lê Tiến Hoàng
Trường Đại học Cảnh sát nhân dân


[1]. Article 1 Convention on the right of the Child: “… A child means every human being below the age of eighteen years unless under the law applicable to the child, majority is attained earlier”.
[2]. Xem: Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016.
[3]. Khoản 2 Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ tội phạm quy định tại các điều 134, 141, 171, 248, 249, 250, 251 và 252; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật này, trừ tội phạm quy định tại các điều 123, 134, 141, 142, 144, 150, 151, 168, 171, 248, 249, 250, 251 và 252; người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án”.
[4]. Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này”.
[5]. УК РФ Статья 87. Уголовная ответственность несовершеннолетних
[6]. УК РФ Статья 88. Виды наказаний, назначаемых несовершеннолетним “. Видами наказаний, назначаемых несовершеннолетним, являются:а) штраф;б) лишение права заниматься определенной деятельностью;в) обязательные работы;г) исправительные работы;д) ограничение свободы; е) лишение свободы на определенный срок.”
[7]. УК РФ Статья 83. Освобождение от отбывания наказания в связи с истечением сроков давности обвинительного приговора суда “ 1.Лицо, осужденное за совершение преступления, освобождается от отбывания наказания, если обвинительный приговор суда не был приведен в исполнение в следующие сроки со дня вступления его в законную силу: а) два года при осуждении за преступление небольшой тяжести;б) шесть лет при осуждении за преступление средней тяжести;в) десять лет при осуждении за тяжкое преступление;г) пятнадцать лет при осуждении за особо тяжкое преступление.
[8]. УК РФ Статья 20. Возраст, с которого наступает уголовная ответственность “1. Уголовной ответственности подлежит лицо, достигшее ко времени совершения преступления шестнадцатилетнего возраста; 2. Лица, достигшие ко времени совершения преступления четырнадцатилетнего возраста, подлежат уголовной ответственности за убийство (статья 105), умышленное причинение тяжкого вреда здоровью (статья 111), умышленное причинение средней тяжести вреда здоровью (статья 112), похищение человека (статья 126), изнасилование (статья 131), насильственные действия сексуального характера (статья 132), кражу (статья 158), грабеж (статья 161), разбой (статья 162), вымогательство (статья 163), неправомерное завладение автомобилем или иным транспортным средством без цели хищения (статья 166), умышленные уничтожение или повреждение имущества при отягчающих обстоятельствах (часть вторая статьи 167), террористический акт (статья 205), прохождение обучения в целях осуществления террористической деятельности (статья 205.3), участие в террористическом сообществе (часть вторая статьи 205.4), участие в деятельности террористической организации (часть вторая статьи 205.5), несообщение о преступлении (статья 205.6), захват заложника (статья 206), заведомо ложное сообщение об акте терроризма (статья 207), участие в незаконном вооруженном формировании (часть вторая статьи 208), угон судна воздушного или водного транспорта либо железнодорожного подвижного состава (статья 211), участие в массовых беспорядках (часть вторая статьи 212), хулиганство при отягчающих обстоятельствах (части вторая и третья статьи 213), вандализм (статья 214), незаконные приобретение, передачу, сбыт, хранение, перевозку или ношение взрывчатых веществ или взрывных устройств (статья 222.1), незаконное изготовление взрывчатых веществ или взрывных устройств (статья 223.1), хищение либо вымогательство оружия, боеприпасов, взрывчатых веществ и взрывных устройств (статья 226), хищение либо вымогательство наркотических средств или психотропных веществ (статья 229), приведение в негодность транспортных средств или путей сообщения (статья 267), посягательство на жизнь государственного или общественного деятеля (статья 277), нападение на лиц или учреждения, которые пользуются международной защитой (статья 360), акт международного терроризма (статья 361).
[9]. Guidelines for Action on Children in the Criminal Justice System 1997 “The importance of a comprehensive and consistent national approach in the area of juvenile justice should be recognized, with respect for the interdependence and inpisibility of all rights of the child”.
[10]. Article 37 Convention on the right of the Child: “No child shall be deprived of his or her liberty unlawfully or arbitrarily. The arrest, detention or imprisonment of a child shall be in conformity with the law and shall be used only as a measure of last resort and for the shortest appropriate period of time”.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Tóm tắt: Đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động đo lường mức độ đạt được mục tiêu chính sách và tác động thực tế của quy định pháp luật sau khi tổ chức thi hành. Nghiên cứu khái quát các tiêu chí đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật, phân tích những quy định tương ứng trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật1 (dự thảo Luật). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật bước đầu xác lập cơ sở pháp lý cho hoạt động này, nhưng một số quy định còn hạn chế, bất cập. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí, phương thức đánh giá, xác định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các chủ thể và cơ chế sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh, hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai, việc xử lý đất có nguồn gốc nông, lâm trường đặt ra yêu cầu hoàn thiện điều kiện công nhận quyền sử dụng đất và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền này trên thực tế. Nghiên cứu phân tích các quy phạm pháp luật hiện hành, đối chiếu với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)1 (dự thảo Luật). Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc công nhận quyền sử dụng đất còn phụ thuộc đáng kể vào công tác rà soát, lập phương án sử dụng đất và xử lý quỹ đất có nguồn gốc nông, lâm nghiệp. Những vướng mắc tập trung ở tiến độ thực hiện, điều kiện công nhận, mối quan hệ với các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận và cơ chế xử lý khi công ty không thực hiện trách nhiệm. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định của dự thảo Luật về điều kiện công nhận quyền, sự tham gia của người đang sử dụng đất và cơ chế tiếp tục xử lý quỹ đất, nhằm bảo đảm khả năng thực hiện quyền của người đang sử dụng đất.
Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Xử lý vật chứng là hoạt động xác định địa vị pháp lý của vật chứng, đồng thời, tác động trực tiếp đến giá trị chứng minh và quyền tài sản. Nghiên cứu phân tích Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) trong mối liên hệ với Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) và pháp luật dân sự, tập trung làm rõ căn cứ tịch thu, thẩm quyền, hình thức và thủ tục xử lý; tiêu chí xác định công cụ, phương tiện phạm tội và lỗi của chủ sở hữu; cơ chế xử lý tài sản chung, tài sản thế chấp; phạm vi, trình tự giao vật chứng đặc thù cho cơ quan chuyên ngành và việc bảo đảm quyền của người thứ ba. Trên cơ sở nhận diện các bất cập, nghiên cứu đề xuất sửa đổi Điều 85, Điều 106 BLTTHS năm 2015, hoàn thiện thủ tục đối với tài sản bảo đảm và ban hành hướng dẫn liên ngành nhằm thống nhất hoạt động giao, tiếp nhận, bảo quản và xử lý vật chứng.
Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.

Theo dõi chúng tôi trên: