Thứ tư 04/03/2026 19:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong pháp luật hình sự Liên bang Nga và kinh nghiệm cho Việt Nam

Bài viết phân tích, so sánh, đối chiếu các quy định đặc thù về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên trong pháp luật hình sự Việt Nam và Liên Bang Nga, để rút ra những kinh nghiệm và kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam về thời hiệu đối với người dưới 18 tuổi.

Tóm tắt: Bài viết phân tích, so sánh, đối chiếu các quy định đặc thù về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên trong pháp luật hình sự Việt Nam và Liên Bang Nga, để rút ra những kinh nghiệm và kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam về thời hiệu đối với người dưới 18 tuổi.

Abstract: The article analyzes, compares and contrasts the specific provisions on the statute of limitations for criminal prosecution against minors in the criminal law of Vietnam and the Russian Federation, in order to draw experiences and propose to complete the provisions of the Vietnam Penal Code on the statute of limitations for persons under 18 years of ag.

1. Quy về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội của Bộ luật Hình sự Việt Nam
Theo quy định của Công ước quốc tế về quyền trẻ em, thì “trẻ em” được hiểu là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn[1]. Phù hợp với quy định này, Luật Trẻ em năm 2016 của Việt Nam đưa ra khái niệm: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”[2]. Tuy nhiên, Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi”. Như vậy, theo pháp luật Việt Nam người chưa thành niên bao gồm trẻ em và người từ đủ 16 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi.
Xuất phát từ đặc thù tâm lý lứa tuổi, người dưới 18 tuổi luôn là đối tượng cần được sự quan tâm và bảo vệ đặc biệt. Thể hiện điều này, Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự) đã có những quy định để bảo đảm quyền lợi cho người dưới 18 tuổi có hành vi phạm tội. Cụ thể: Bộ luật Hình sự còn có sự phân hóa trách nhiệm hình sự (TNHS) rõ ràng giữa người trên 18 tuổi và người dưới 18 tuổi phạm tội bằng việc dành riêng Chương XII để quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (từ Điều 90 đến Điều 107) để quy định TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trên cơ sở thể hiện rõ nguyên tắc: Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội; quy định những trường hợp có thể miễn TNHS và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục[3]; việc truy cứu TNHS người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào những đặc điểm về nhân thân của họ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm; không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa; án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi phạm tội, thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm (Điều 91). Đây là những quy định mang tính chất nhân đạo, đồng thời, thể hiện quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam lấy phòng ngừa tội phạm là trọng tâm hơn vấn đề trừng trị tội phạm nói chung và đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng.
Tuy nhiên, trong Chương XII vấn đề thời hiệu dành riêng đối với người dưới 18 tuổi chưa được quy định nên áp dụng như người trên 18 tuổi. Điều 27 Bộ luật Hình sự quy định, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự (khoản 1 Điều 27). Theo đó, đối với người dưới 18 tuổi thời hiệu truy cứ trách nhiệm hình sự là 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng; 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng; 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng; 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên, với người dưới 18 tuổi, thời hiệu này chỉ được tính đối với những tội danh cụ thể[4]. Khi hết thời hạn này, người phạm tội không bị truy cứu TNHS khi thỏa mãn các điều kiện:
Thứ nhất, trong thời hạn nói trên, người phạm tội không được phạm tội mới mà Bộ luật Hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên 01 năm tù. Nếu trong thời hạn trên, người phạm tội phạm tội mới mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên 01 năm tù thì thời gian đã qua không được tính và thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày phạm tội mới.
Thứ hai, trong thời hạn nói trên, người phạm tội không được cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã thì thời gian trốn tránh không được tính và thời hiệu được tính lại kể từ khi người phạm tội ra tự thú hoặc bị bắt giữ.
Với quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự như trên có thể thấy, các điều kiện không phạm tội mới mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội đó là đến 01 năm tù, không được cố tình trốn tránh và chưa có lệnh truy nã là những điều kiện để chứng tỏ người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa hoặc tính nguy hiểm cho xã hội của người phạm tội là không còn đáng kể để làm cơ sở miễn TNHS do hết thời hiệu nên người phạm tội được áp dụng như nhau là phù hợp nhưng điều kiện về khoảng thời gian đã trôi qua kể từ ngày thực hiện tội phạm để tính thời hiệu được áp dụng như nhau giữa người đủ 18 tuổi và người dưới 18 tuổi phạm tội cho thấy sự chưa nhất quán trong đường lối xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội.
Mặt khác, theo tác giả, thời hiệu trong Bộ luật Hình sự là một trong những chế định phản ánh nguyên tắc nhân đạo trong pháp luật hình sự Việt Nam. Nên cũng cần có quy định riêng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Bởi vì, người phạm tội phải bị truy cứu TNHS và phải chấp hành hình phạt nhưng khi được áp dụng chế định thời hiệu thì người phạm tội không bị truy cứu TNHS. Do đó, đối với người dưới 18 tuổi cũng cần được quan tâm đặc biệt hơn và đối xử nhân đạo, khoan hồng.
2. Quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong Bộ luật Hình sự Liên bang Nga
Bộ luật Hình sự Liên bang Nga đã dành riêng Chương 14 để quy định các đặc điểm về TNHS và hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội (Bộ luật Hình sự Liên bang Nga không quy định người dưới 18 tuổi như Việt Nam). Về cơ bản, Bộ luật Hình sự Liên bang Nga và Bộ luật Hình sự Việt Nam có những điểm tương đồng khi quy định một chương riêng biệt để xử lý người chưa thành niên phạm tội ngoài những quy định chung. Theo Bộ luật Hình sự Liên bang Nga, người chưa thành niên là người từ 14 đến dưới 18 tuổi, tính đến thời điểm phạm tội[5]. Khi người chưa thành niên phạm tội, họ có thể bị áp dụng hình phạt[6] hoặc biện pháp giáo dục cưỡng chế. Về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, Bộ luật Hình sự Liên Bang Nga quy định tại Điều 78, cụ thể:
“1. Một người được miễn trách nhiệm hình sự khi thời hạn sau đây đã hết kể từ ngày phạm tội
a. Hai năm khi phạm tội ít nghiêm trọng
b. Sáu năm khi phạm tội nghiêm trọng
c. Mười năm khi phạm tội nghiêm trọng
d. Mười lăm năm khi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng
2. Thời hạn được tính từ ngày phạm tội đến thời điểm bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Nếu một người phạm tội mới thì thời hạn đối với mỗi tội phạm sẽ được tính độc lập.
3. Việc trốn trong thời hạn này sẽ bị dừng lại nếu người phạm tội trốn tránh điều tra hoặc xét xử tại tòa án. Trong trường hợp này, thời hạn giới hạn sẽ được tiếp tục kể từ thời điểm giam giữ người nói trên hoặc thừa nhận tội lỗi của anh ta”.
Tuy có điểm khác biệt vời thời hiệu truy cứu TNHS đối với từng loại tội nhưng nhìn chung cơ bản vẫn có những điểm tương đồng so với Bộ luật Hình sự Việt Nam. Nhưng quy định về thời hiệu này không phải cho tất cả người phạm tội, mà đối với người người chưa thành niên, Bộ luật Hình sự Liên bang Nga có quy định riêng. Theo đó, Điều 94 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga quy định về thời hiệu áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội: “Thời hiệu đã được xem xét tại các Điều 78 và Điều 83[7] Bộ luật này, khi miễn TNHS hoặc miễn chấp hành hình phạt cho người chưa thành niên phạm tội sẽ được giảm đi một nửa”. Như vậy, Bộ luật Hình sự Liên bang Nga quy định cả thời hiệu truy cứu TNHS đối với người chưa thành niên phạm tội từ đủ 14 đến chưa đủ 18 tuổi, cụ thể là 01 năm khi phạm tội ít nghiêm trọng, 03 năm khi phạm tội nghiêm trọng, 05 năm khi phạm tội nghiêm trọng, 07 năm 06 tháng khi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
Đồng thời, thời hiệu này cũng chỉ áp dụng đối với người chưa thành niên khi họ phạm những tội mà theo quy định của Bộ luật Hình sự Liên bang Nga phải chịu TNHS theo quy định tại Điều 20 về tuổi chịu TNHS[8]. Với quy định trên, người chưa thành niên phạm tội luôn được hưởng một thời hiệu ngắn hơn so với người đã thành niên là quy định có lợi theo chuẩn mực quốc tế về hướng xử lý đối với người chưa thanh niên phạm tội có sự phân biệt đối với người đã thành niên, góp phần bảo đảm cho người chưa thành niên có điều kiện tốt nhất để mau chóng tái hòa nhập cộng đồng.
3. Kinh nghiệm cho Việt Nam về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi
Bên cạnh những quy định chung về quyền con người, quyền công dân, Hiến pháp năm 2013 còn dành riêng một điều để bảo vệ quyền của trẻ em, theo đó, trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em; nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em (Điều 37). Bên cạnh đó, Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á và quốc gia thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em vào ngày 20/2/1990. Theo công ước, trẻ em vì một lý do nào đó phải tham gia vào các hoạt động tư pháp hình sự thì mọi biện pháp xử lý phải xuất phát từ yêu cầu giáo dục chứ không phải trừng trị. Đồng thời, phải bảo đảm rằng, việc đối xử với trẻ em phải trên cơ sở tôn trọng nhân phẩm và phẩm giá của các em, phù hợp với độ tuổi và mức độ trưởng thành, thúc đẩy tái hòa nhập cộng đồng.
Ngoài ra, Hướng dẫn làm việc với trẻ em trong tư pháp hình sự 1997 (Guidelines for Action on Children in the Criminal Justice System 1997) đã đưa ra những nội dung nhằm giúp cho các quốc gia thành viên thực hiện Công ước về quyền trẻ em, thực hiện các mục tiêu của Công ước; sử dụng và áp dụng các quy tắc, tiêu chuẩn của Liên Hợp quốc trong lĩnh vực tư pháp liên quan đến người chưa thành niên. Theo đó, các quốc gia cần thấy được tầm quan trọng của một cách tiếp cận quốc gia nhất quán và toàn diện trên lĩnh vực tư pháp người chưa thành niên, dựa trên cơ sở tôn trọng tính liên kết, không thể chia cắt của tất cả các quyền của trẻ em[9]. Hướng dẫn này cũng nêu rõ các quốc gia thành viên cần có một quy trình tư pháp toàn diện trong đó lấy trẻ em làm trung tâm. Các luật hiện hành và dự kiến ban hành về lĩnh vực tư pháp liên quan, cũng như tác động của chúng với trẻ em cần phải được rà soát, đánh giá bởi các chuyên gia độc lập hoặc bằng các hình thức tư vấn khác. Thủ tục đặc biệt cần được xây dựng để đáp ứng các nhu cầu đặc biệt của trẻ em, cần giảm thiểu việc đưa trẻ em vào các cơ sở tập trung kín. Việc cách ly trẻ em như vậy chỉ nên thực hiện phù hợp với Điều 37 (b)[10] của Công ước về quyền trẻ em và chỉ được coi là biện pháp cuối cùng, áp dụng trong một thời gian ngắn. Biện pháp nhục hình trong hệ thống tư pháp và bảo trợ xã hội dành cho trẻ em cần bị nghiêm cấm. Đồng thời, xác định các bước đi thích hợp nhằm tạo một loạt các biện pháp giáo dục và có tính chất thay thế ở các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, nhằm ngăn ngừa sự tái phạm và thúc đẩy khả năng tái hòa nhập xã hội của trẻ em phạm pháp.
Nghiên cứu, phân tích pháp luật Liên bang Nga về thời hiệu truy cứu TNHS đối với người chưa thành niên (người dưới 18 tuổi), tác giả kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam về thời hiệu đối với người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi phạm tội theo hướng, nên quy định thời hiệu đối với người dưới 18 tuổi phạm tội có thời hạn bằng 1/2 so với người trên 18 tuổi phạm tội. Đây là quy định có lợi cho người dưới 18 tuổi, nhằm bảo đảm được tốt hơn quyền lợi của họ.

TS. Lê Tiến Hoàng
Trường Đại học Cảnh sát nhân dân


[1]. Article 1 Convention on the right of the Child: “… A child means every human being below the age of eighteen years unless under the law applicable to the child, majority is attained earlier”.
[2]. Xem: Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016.
[3]. Khoản 2 Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ tội phạm quy định tại các điều 134, 141, 171, 248, 249, 250, 251 và 252; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật này, trừ tội phạm quy định tại các điều 123, 134, 141, 142, 144, 150, 151, 168, 171, 248, 249, 250, 251 và 252; người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án”.
[4]. Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này”.
[5]. УК РФ Статья 87. Уголовная ответственность несовершеннолетних
[6]. УК РФ Статья 88. Виды наказаний, назначаемых несовершеннолетним “. Видами наказаний, назначаемых несовершеннолетним, являются:а) штраф;б) лишение права заниматься определенной деятельностью;в) обязательные работы;г) исправительные работы;д) ограничение свободы; е) лишение свободы на определенный срок.”
[7]. УК РФ Статья 83. Освобождение от отбывания наказания в связи с истечением сроков давности обвинительного приговора суда “ 1.Лицо, осужденное за совершение преступления, освобождается от отбывания наказания, если обвинительный приговор суда не был приведен в исполнение в следующие сроки со дня вступления его в законную силу: а) два года при осуждении за преступление небольшой тяжести;б) шесть лет при осуждении за преступление средней тяжести;в) десять лет при осуждении за тяжкое преступление;г) пятнадцать лет при осуждении за особо тяжкое преступление.
[8]. УК РФ Статья 20. Возраст, с которого наступает уголовная ответственность “1. Уголовной ответственности подлежит лицо, достигшее ко времени совершения преступления шестнадцатилетнего возраста; 2. Лица, достигшие ко времени совершения преступления четырнадцатилетнего возраста, подлежат уголовной ответственности за убийство (статья 105), умышленное причинение тяжкого вреда здоровью (статья 111), умышленное причинение средней тяжести вреда здоровью (статья 112), похищение человека (статья 126), изнасилование (статья 131), насильственные действия сексуального характера (статья 132), кражу (статья 158), грабеж (статья 161), разбой (статья 162), вымогательство (статья 163), неправомерное завладение автомобилем или иным транспортным средством без цели хищения (статья 166), умышленные уничтожение или повреждение имущества при отягчающих обстоятельствах (часть вторая статьи 167), террористический акт (статья 205), прохождение обучения в целях осуществления террористической деятельности (статья 205.3), участие в террористическом сообществе (часть вторая статьи 205.4), участие в деятельности террористической организации (часть вторая статьи 205.5), несообщение о преступлении (статья 205.6), захват заложника (статья 206), заведомо ложное сообщение об акте терроризма (статья 207), участие в незаконном вооруженном формировании (часть вторая статьи 208), угон судна воздушного или водного транспорта либо железнодорожного подвижного состава (статья 211), участие в массовых беспорядках (часть вторая статьи 212), хулиганство при отягчающих обстоятельствах (части вторая и третья статьи 213), вандализм (статья 214), незаконные приобретение, передачу, сбыт, хранение, перевозку или ношение взрывчатых веществ или взрывных устройств (статья 222.1), незаконное изготовление взрывчатых веществ или взрывных устройств (статья 223.1), хищение либо вымогательство оружия, боеприпасов, взрывчатых веществ и взрывных устройств (статья 226), хищение либо вымогательство наркотических средств или психотропных веществ (статья 229), приведение в негодность транспортных средств или путей сообщения (статья 267), посягательство на жизнь государственного или общественного деятеля (статья 277), нападение на лиц или учреждения, которые пользуются международной защитой (статья 360), акт международного терроризма (статья 361).
[9]. Guidelines for Action on Children in the Criminal Justice System 1997 “The importance of a comprehensive and consistent national approach in the area of juvenile justice should be recognized, with respect for the interdependence and inpisibility of all rights of the child”.
[10]. Article 37 Convention on the right of the Child: “No child shall be deprived of his or her liberty unlawfully or arbitrarily. The arrest, detention or imprisonment of a child shall be in conformity with the law and shall be used only as a measure of last resort and for the shortest appropriate period of time”.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: