Thứ năm 01/10/2026 08:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thủ tục khai tử ở Việt Nam - Thực trạng và khuyến nghị

Bài viết này nghiên cứu các quy định pháp luật về thủ tục khai tử, đồng thời phân tích thực trạng thực hiện thủ tục khai tử ở Việt Nam hiện nay, từ đó, đề xuất hướng hoàn thiện liên quan đến vấn đề này trong thời gian tới.

Tóm tắt: Bài viết này nghiên cứu các quy định pháp luật về thủ tục khai tử, đồng thời phân tích thực trạng thực hiện thủ tục khai tử ở Việt Nam hiện nay, từ đó, đề xuất hướng hoàn thiện liên quan đến vấn đề này trong thời gian tới.

Abstract: This article studies the legal provisions on the death declaration procedure, and analyzes the current status of carrying out the death declaration procedure in Vietnam, thereby making improvement direction for this issue in the next time.

1. Một số vấn đề về khai tử và thủ tục khai tử theo pháp luật Việt Nam
1.1. Khai tử
“Khai tử” được đề cập trong khoản 2, 3 Điều 30 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Cá nhân chết phải được khai tử. Trẻ em sinh ra mà sống được từ hai mươi bốn giờ trở lên mới chết thì phải được khai sinh và khai tử; nếu sinh ra mà sống dưới hai mươi bốn giờ thì không phải khai sinh và khai tử, trừ trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ có yêu cầu”. Luật Hộ tịch năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành không đưa ra khái niệm khai tử mà khai tử chỉ được nhắc đến trong điểm e khoản 2 Điều 3 là một sự kiện hộ tịch phải xác nhận vào sổ hộ tịch.
Theo Từ điển Tiếng Việt, khai tử là quy định pháp lý bắt buộc lúc có một người chết phải khai báo ngay với bộ phận hộ tịch của chính quyền địa phương để xin giấy chứng nhận tử vong và giấy phép chôn cất. Mục đích của thủ tục khai tử là để quản lý tình hình hộ tịch, nhân khẩu của địa phương, là việc cần thiết trong công tác dân số, quản lý nhà nước, phát triển kinh tế…
Như vậy, khai tử có thể hiểu là một sự kiện hộ tịch được ghi nhận vào sổ hộ tịch xác định sự kiện một cá nhân chết, trừ trường hợp trẻ sinh ra và chết trong vòng 24 giờ sau khi sinh thì không bắt buộc khai sinh và khai tử.
1.2. Thủ tục đăng ký khai tử
- Thủ tục đăng ký khai tử: (i) Người có trách nhiệm đi đăng ký khai tử nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy báo tử hoặc giấy tờ khác thay giấy báo tử cho cơ quan đăng ký hộ tịch; (ii) Ngay sau khi nhận giấy tờ hợp lệ, nếu thấy việc khai tử đúng thì công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung khai tử vào sổ hộ tịch, người đi khai tử ký tên vào sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người đi khai tử; (iii) Công chức tư pháp - hộ tịch khóa thông tin hộ tịch của người chết trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử[1].
Các loại giấy tờ phải nộp cho cơ quan có thẩm quyền đăng ký hộ tịch bao gồm: (i) Tờ khai theo mẫu quy định; (ii) Giấy báo tử hoặc giấy tờ khác thay cho giấy báo tử; (iii) Chứng minh nhân dân/Hộ chiếu/Căn cước công dân hoặc giấy tờ khác chứng minh nhân thân của người đăng ký khai tử; (iv) Giấy tờ chứng minh nơi cư trú cuối cùng của người chết, nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì giấy tờ chứng minh nơi người đó chết hoặc nơi phát hiện thi thể người đó.
- Giấy báo tử: Giấy báo tử hay giấy chứng tử là một tài liệu pháp lý quan trọng do một người hành nghề y tế cấp, trong đó nêu rõ thời điểm một người chết, tuyên bố ngày, tháng, địa điểm và nguyên nhân cái chết của một người. Người hành nghề y tế phải chịu trách nhiệm chuyên môn để bảo đảm việc hoàn thành chính xác giấy báo tử[2]. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Giấy báo tử phải do thầy thuốc của cơ quan y tế địa phương cấp sau khi khám xác kỹ lưỡng để xác định chết, thời gian chết, nguyên nhân chết”. Theo hai quan điểm trên thì giấy báo tử nhất thiết phải do người hành nghề y tế cấp và người cấp phải chịu trách nhiệm chuyên môn cho việc xác định một người là đã chết và nguyên nhân chết của người đó.
Luật Hộ tịch năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành không đưa ra khái niệm về giấy báo tử. Trong thủ tục khai tử, giấy báo tử có thể được thay thế bằng các loại giấy tờ khác do nhiều cơ quan có thẩm quyền cấp, bao gồm: (i) Giấy báo tử do Thủ trưởng cơ quan y tế cấp đối với người chết tại cơ sở y tế; (ii) Giấy xác nhận việc thi hành án tử hình của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình; (iii) Quyết định tuyên bố một người là đã chết của Tòa án; (iv) Văn bản xác nhận của cơ quan công an hoặc Kết quả giám định của cơ quan giám định pháp y; (v) Giấy báo tử do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó chết cấp trong các trường hợp còn lại.
Trong trường hợp người chết không chết tại cơ sở y tế, bị thi hành án tử hình, bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố một người là đã chết hoặc chết trên phương tiện giao thông, chết do tai nạn, bị giết, chết đột ngột hoặc chết có nghi vấn sẽ có hai điểm chưa thực sự hợp lý: (i) Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó chết vừa có thẩm quyền cấp giấy báo tử, vừa có thẩm quyền cấp khai tử; (ii) Người có thẩm quyền cấp giấy báo tử không có chuyên môn y khoa,vì vậy, không thể có một bằng chứng khoa học nào về nguyên nhân cái chết của người chết cũng như xác định người chết là ai, có thực sự là người được khai tử không.
2. Thực trạng thực hiện thủ tục khai tử ở Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, không khai tử cho người chết.
Hiện nay, tại địa bàn một số tỉnh, nhất là đồng bào vùng sâu, vùng xa, đa số người dân thường chết tại gia đình - là nơi cư trú cuối cùng của người chết. Qua công tác thanh tra, kiểm tra vào báo cáo số liệu hàng năm về việc đăng ký khai tử cho thấy, số liệu đăng ký khai tử chiếm tỷ lệ rất thấp so với số người chết. Nguyên nhân một phần là do quan niệm của một số người đăng ký khai tử đối với người chết là không cần thiết và phải thực hiện thủ tục hành chính rườm rà[3].
Thứ hai, khai tử cho người còn sống nhằm trục lợi.
Trên thực tế, có nhiều trường hợp người thân thích khai tử cho người thân còn sống để trục lợi. Một số vụ việc điển hình như:
- Vụ con dâu khai tử cho cha mẹ chồng còn sống để hưởng thừa kế: Năm 1998, cụ H (90 tuổi) cho con trai cả là T mảnh đất rộng hơn 180 m2, nhưng chưa làm thủ tục tặng cho chính thức. Năm 2005, sau khi ông T qua đời, vợ ông là bà V, cũng là con dâu của vợ chồng cụ H đã đến một Phòng Công chứng trên địa bàn để thực hiện thủ tục kê khai di sản thừa kế. Bà V chỉ kê khai tên mình và hai người con gái thuộc diện thừa kế tài sản của chồng, còn cha mẹ chồng là vợ chồng cụ H thì bà lại khai là đã chết. Có kèm theo giấy khai tử do chính quyền địa phương cấp. Năm 2015, con gái bà V gặp vợ chồng cụ H, kể về việc mẹ mình đã bán và sang tên thửa đất cho người khác. Lúc này, vợ chồng cụ H mới biết mình bị “khai tử” từ 10 năm trước[4].
- Vụ mẹ ruột khai tử cho con trai 3 tuổi còn sống để không cho chồng cũ thăm nom con: Ngày 11/5/2022, bà P đến Ủy ban nhân dân phường nơi cư trú làm thủ tục khai tử cho cháu L (sinh năm 2019) là con trai bà P. Tại Ủy ban nhân dân phường, bà P khai cháu L bị viêm phổi và mất vào 18 giờ 30 phút ngày 04/5/2022 và chết tại nhà. Ông N, người ký giấy khai tử cho cháu L cho biết, khi đến phường làm giấy khai tử cho con trai, bà P có mang theo các giấy tờ tùy thân. Tại phường, bà P khóc lóc, mặt lộ rõ vẻ đau buồn và có ký cam kết khai đúng sự thật. Lý do người mẹ này đăng ký khai tử cho con vì không muốn chồng cũ đến thăm con, bởi hai người dù đã ly hôn nhưng vẫn xảy ra mâu thuẫn[5]. Trong trường hợp này, cán bộ phường đã không xác minh và cũng không có chuyên môn về y khoa mà vẫn ký giấy khai tử thông qua biểu lộ cảm xúc của bà P.
- Trường hợp khai tử cho người còn sống để nhận tiền tuất, phí mai táng: Theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, người lao động tham gia đóng bảo hiểm xã hội đủ 15 năm trở lên chưa hưởng bảo hiểm xã hội một lần; người đang hưởng lương hưu; người lao động chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; người hưởng trợ cấp tai nạn lao động, tai nạn nghề nghiệp hàng tháng với mức suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên... khi chết thì thân nhân được hưởng chế độ tử tuất hàng tháng. Trong trường hợp không còn thân nhân hưởng trợ cấp hàng tháng thì được hưởng chế độ tử tuất một lần. Từ đây, nhiều người đã khai tử cho người thân của mình để trục lợi tiền tuất một lần[6],[7].
Thứ ba, nguy cơ bỏ lọt tội phạm khi khai tử cho người chết tại nhà.
Năm 2012, bà L thua lô, đề với số tiền lớn, bà bàn với chồng là anh C bán nhà để trả nợ nhưng chồng không đồng ý. Bà L mua thuốc trừ sâu tiêm vào người chồng đến chết, rồi loan tin chồng bị đột quỵ. Gia đình vội vàng tiến hành tang lễ và đưa thi thể người chồng an táng. Do nghi ngờ về cái chết đột ngột của anh C (anh C là cảnh sát giao thông), đồng nghiệp của anh yêu cầu cơ quan điều tra giám định pháp y[8]. Giả thiết trong trường hợp này, đồng nghiệp của anh C không có sự “nhạy bén” về chuyên môn, nghiệp vụ thì cái chết anh C đã được khai tử một cách dễ dàng với nguyên nhân đột quỵ và chết tại nhà.
3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về khai tử ở Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống thông tin quốc gia về cá nhân, xây dựng và triển khai kho dữ liệu mở và tiến hành khai tử điện tử.
Tiếp tục triển khai hiệu quả hơn nữa Đề án “phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2021 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030” nhằm ứng dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, hệ thống định danh và xác thực điện tử, thẻ Căn cước công dân, để phục vụ 05 nhóm tiện ích tập trung vào giải quyết thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công trực tuyến; phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; hoàn thiện hệ sinh thái Chính phủ số; phục vụ chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo các cấp và phục vụ công dân số. Đề án này giúp tinh gọn các thủ tục hành chính và áp dụng thống nhất trong toàn quốc, trong đó có thủ tục khai tử.
Thứ hai, giấy báo tử phải do người có chuyên môn y khoa cấp trong trường hợp chết tại nhà.
Quy định chặt chẽ ở khâu cấp giấy báo tử là giải pháp để khắc phục trường hợp khai tử cho người còn sống nhằm trục lợi hay khai tử cho người thân chết “bất thường” thành nguyên nhân chết “tự nhiên” tại nhà để qua mặt cơ quan chức năng. Mấu chốt trong thủ tục cấp giấy báo là thẩm quyền cấp giấy báo tử phải thuộc về người có chuyên môn y khoa. Thực trạng hiện nay cho thấy, việc không xác minh thông tin về sự kiện chết và nguyên nhân chết mà cấp giấy báo tử dựa trên niềm tin đã gây ra nhiều hệ lụy xã hội như đã phân tích ở phần trên. Trường hợp, Ủy ban nhân dân có xác minh thì cũng chưa đủ chuyên môn y khoa để xác định nguyên nhân chết của người được khai tử là “bình thường” hay “bất thường”.
Về vấn đề này, có thể tham khảo pháp luật của Úc, theo đó, việc đăng ký tất cả các trường hợp tử vong là bắt buộc. Đạo luật Đăng ký khai sinh, khai tử và kết hôn yêu cầu một người, thường là Giám đốc nhà tang lễ, phải thông báo cho Cơ quan đăng ký khai sinh, tử và kết hôn trong vòng 14 ngày, kể từ ngày cử hành tang lễ. Bác sỹ chịu trách nhiệm chăm sóc y tế cho một người trước khi chết hoặc người khám cho người chết sau khi chết, phải điền đầy đủ và ký vào giấy chứng nhận nguyên nhân tử vong. Giấy chứng nhận này phải được cấp trong vòng 48 giờ sau khi người đó qua đời và được trao cho Giám đốc nhà tang lễ hoặc những người sắp xếp dịch vụ tang lễ. Bác sỹ không bắt buộc phải cung cấp thông báo này về nguyên nhân tử vong trong các trường hợp mà cái chết được báo cáo cho nhân viên điều tra của bang.
Trong hầu hết các trường hợp, Giám đốc nhà tang lễ thay mặt gia đình hoặc những người đại diện cho người chết thay mặt gia đình hoặc những người đại diện cho người chết tại thời điểm đăng ký khai tử cấp giấy chứng tử. Sau khi đăng ký, Cơ quan đăng ký khai sinh, tử và kết hôn sẽ gửi giấy chứng tử cho Giám đốc nhà tang lễ để chuyển tiếp. Bất cứ lúc nào sau khi cái chết được đăng ký, người nộp đơn đủ điều kiện có thể nộp đơn trực tiếp cho Cơ quan đăng ký khai sinh, tử và kết hôn hoặc Tòa án gần nhất để được cấp giấy chứng tử[9].
Như vậy, thủ tục khai tử ở Úc đòi hỏi người cấp giấy chứng tử nhất thiết phải có chuyên môn y khoa và phải chịu trách nhiệm cho quyết định cấp giấy chứng tử của mình trước pháp luật. Quan điểm của nhà làm luật xem khai tử là một thủ tục hộ tịch quan trọng. Vì vậy, bất chấp thủ tục rườm rà cũng phải thực hiện đầy đủ và quan trọng, nhất là khâu cấp giấy chứng tử.
Vì vậy, tác giả đề xuất sửa đổi quy định về cấp giấy báo tử cho người chết theo hướng, nếu người chết không chết tại cơ sở y tế, bị thi hành án tử hình, bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố một người là đã chết hoặc chết trên phương tiện giao thông, chết do tai nạn, bị giết, chết đột ngột hoặc chết có nghi vấn thì giấy báo tử phải do bác sỹ cấp.
Thứ ba, bổ sung trường hợp xử phạt vi phạm hành chính do không khai tử cho người thân trong thời hạn quy định mà không cần mục đích trục lợi.
Theo khoản 1 Điều 33 Luật Hộ tịch năm 2014, khai tử là trách nhiệm của người thân thích hoặc đại diện của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan (trường hợp không có người thân thích). Tuy nhiên, chỉ khi nào khai tử cho người còn sống, không khai tử cho người chết để trục lợi mới bị xử phạt vi phạm hành chính. Theo Điều 41 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (Nghị định số 82/2020/NĐ-CP) thì chỉ những hành vi sau đây mới bị coi là vi phạm hành chính và bị xử phạt vi phạm về đăng ký khai tử: (i) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp để làm thủ tục đăng ký khai tử. (ii) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: a. Làm chứng sai sự thật cho người khác để đăng ký khai tử; b. Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật để được đăng ký khai tử. (iii) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: a. Làm thủ tục đăng ký khai tử cho người đang sống; b. Không làm thủ tục đăng ký khai tử cho người đã chết để trục lợi; c. Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật khi làm thủ tục đăng ký khai tử để trục lợi.
Như vậy, có thể thấy, đối với trường hợp không khai tử cho người chết mà không có mục đích trục lợi đang thiếu chế tài. Vì vậy, tác giả kiến nghị bổ sung chế tài hành chính đối với hành vi không khai tử cho người chết khi hết hạn quy định theo hướng, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày một người chết, người có nghĩa vụ khai tử cho người chết được quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Hộ tịch năm 2014 có trách nhiệm khai tử cho người chết. Nếu không khai tử thì bị xử phạt vi phạm hành chính từ 1.000.000 đến 3.000.000 đồng (khoản 1 Điều 41 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP).

ThS. Hồ Thị Thanh Trúc
Khoa Kinh tế - Luật, Trường Đại học Tài chính - Marketing



[1]. Điều 51 Luật Hộ tịch năm 2014.
[2]. Sara Bird (2011), How to complete a death certifcate, Australian family Physician Vol.40, no.6, June 2021, Page.449, nguồn: https://www.racgp.org.au/getattachment/42ea840e-ce92-4ee7-8ae6-dd615a4acd3d/How-to-complete-a-death-certificate.aspx, truy cập ngày 28/7/2022.
[3]. Bộ Tư pháp (2016), Thủ tục khai tử cho công dân Việt Nam chết tại gia đình là nơi cư trú cuối cùng, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2027, truy cập ngày 30/7/2022.
[4]. Hữu Thiện (2022), Con dâu đi khai tử bố mẹ chồng còn sống, https://kenh14.vn/ha-noi-con-dau-noi-ve-nguon-con-di-khai-tu-bo-me-chong-du-ho-dang-con-song-20220114144832893.chn, truy cập ngày 28/7/2022.
[5]. Bình Minh (2022), Vụ người mẹ khai tử cho con 3 tuổi còn sống, https://www.24h.com.vn/tin-tuc-trong-ngay/vu-me-khai-tu-con-3-tuoi-du-van-con-song-co-nen-giao-con-cho-nguoi-cha-cham-soc-c46a1362691.html, truy cập ngày 28/7/2022.
[6]. Thành An (2014), Khai tử cha mẹ để nhận tuất một cục, https://tuoitre.vn/khai-tu-cha-me-de-nhan-tuat-mot-cuc-602021.htm, truy cập ngày 28/7/2022.
[7]. Báo Pháp luật (2013), Khai tử cho người sống để trục lợi tiền mai táng phí, https://suckhoedoisong.vn/khai-tu-nguoi-song-de-truc-loi-tien-mai-tang-phi-16960010.htm, truy cập ngày 28/7/2022.
[8]. Đàm Đệ (2012), Vợ trung tá cảnh sát giao thông giết chồng tàn ác như thế nào?, https://vietnamnet.vn/vo-trung-ta-csgt-giet-chong-tan-ac-the-nao-64247.html, truy cập ngày 28/7/2022.
[9]. Apply for a death certificate, https://www.wa.gov.au/service/justice/civil-law/apply-death-certificate#: ~:text=This%20certificate%20must%20be%20issued,reported%20to%20the%20State%20Coroner, ngày truy cập 22/8/2022.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.

Theo dõi chúng tôi trên: