Thứ tư 23/09/2026 01:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân theo pháp luật Việt Nam và một số quốc gia

Thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân theo pháp luật Việt Nam và một số quốc gia

Tóm tắt: Bài viết phân tích và đánh giá một số quy định của pháp luật về thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân, đồng thời, nghiên cứu quy định pháp luật tố tụng hình sự của Hàn Quốc, Cộng hòa Croatia, Bosnia và Herzegovina, để đưa ra đề xuất hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 của Việt Nam.

Abstract: The article analyzes and evaluates a number of legal provisions on criminal prosecution procedures against legal entities, and at the same time, studies the criminal procedure law of Korea, the Republic of Croatia, Bosnia and Herzegovina, to make a proposal to improve the provisions of the 2015 Criminal Procedure Code of Vietnam.

1. Những vấn đề liên quan đến kỹ thuật lập pháp

Thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) pháp nhân là một trong số các thủ tục đặc biệt được quy định tại Chương XXIX (từ Điều 431 đến Điều 446) Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Đây là những quy định phải được ưu tiên áp dụng khi tiến hành giải quyết các vụ án hình sự (VAHS) do pháp nhân thực hiện. Về kỹ thuật lập pháp, nhà làm luật lựa chọn những quy định khác biệt so với thủ tục tố tụng hình sự (TTHS) đối với cá nhân để đưa vào chương này; đồng thời, có thể dẫn chiếu đến một số điều luật trong các chương khác khi thật sự cần thiết.

Chương XXIX có tên gọi là “Thủ tục tố tụng truy cứu TNHS pháp nhân”. Việc sử dụng thuật ngữ “pháp nhân” trong chương này nói riêng và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nói chung là không bảo đảm tính đồng bộ với Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Luật Thi hành án hình sự năm 2019, nhà làm luật đều sử dụng thuật ngữ “pháp nhân thương mại”[1]. Về lý thuyết, luật hình thức (luật tố tụng hình sự) được xây dựng trên cơ sở luật nội dung (luật hình sự), do đó, cần phải thay thế tất cả cụm từ “pháp nhân” trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 bằng cụm từ “pháp nhân thương mại”. Điểm hạn chế về kỹ thuật lập pháp này đã được nhiều tác giả phát hiện và đưa ra đề xuất khắc phục như trên[2].

Trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, còn có một thuật ngữ khác cũng cần phải điều chỉnh là thuật ngữ “pháp nhân phạm tội” được sử dụng tại các điều 18, 20, 55 và 444[3]. Trong đó, Điều 18 và Điều 20 ghi nhận hai nguyên tắc cơ bản của TTHS là: (i) Trách nhiệm khởi tố và xử lý VAHS; (ii) Trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS. Thuật ngữ “pháp nhân phạm tội” trong hai điều luật này có thể chấp nhận được vì nội dung của chúng một phần hướng đến việc “xử lý” đúng người, pháp nhân phạm tội. Tuy nhiên, khoản 20 Điều 55 (quy định về người tham gia tố tụng) và khoản 2 Điều 444 (quy định về thẩm quyền và thủ tục xét xử đối với pháp nhân) thì việc “gắn tên” pháp nhân phạm tội là không hợp lý, vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội vì thời điểm này chưa có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án đối với pháp nhân.

Cấu trúc Chương XXIX cũng cần điều chỉnh lại cho hợp lý và tương đồng với cấu trúc Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quy định chung nên được chuyển lên trước quy định điều chỉnh các giai đoạn tố tụng cụ thể. Ngoài ra, quy định điều chỉnh nhóm các vấn đề liên quan đến một đối tượng nên đặt ở các vị trí kế tiếp nhau. Theo đó, những điều luật sau đây cần được chuyển lên ngay sau Điều 431. Phạm vi áp dụng:

- Điều 434. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân tham gia tố tụng;

- Điều 435. Quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân;

- Điều 440. Triệu tập người đại diện theo pháp luật của pháp nhân;

- Điều 441. Những vấn đề cần phải chứng minh khi tiến hành tố tụng đối với pháp nhân bị buộc tội;

- Điều 436. Biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân.

Tiếp sau Điều 436 là các điều luật quy định về những biện pháp cưỡng chế cụ thể đối với pháp nhân. Sau khi kết thúc phần chung sẽ đến các điều luật quy định về khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với pháp nhân.

Hiện nay, các điều luật trong Chương XXIX có thể được thiết kế theo lôgíc là phải khởi tố VAHS, khởi tố bị can đối với pháp nhân trước rồi mới đến những vấn đề khác như xác định người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, triệu tập, lấy lời khai… Tuy nhiên, nếu dựa trên lôgíc này thì cả Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng phải sắp xếp lại. Rõ ràng cấu trúc này là không hợp lý về kỹ thuật lập pháp khi tạo nên sự pha trộn giữa quy định trong phần chung và phần riêng. Khi áp dụng pháp luật, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng (THTT) chắc chắn sẽ phải biết lựa chọn “thứ tự” áp dụng các điều luật điều chỉnh từng hoạt động tố tụng cụ thể, vì vậy, không cần đặt các quy định về khởi tố vụ án, khởi tố bị can lên trước các quy định về địa vị pháp lý của người tham gia tố tụng, những vấn đề cần phải chứng minh và biện pháp cưỡng chế.

Mặt khác, một vài điều luật hoàn toàn mang tính dẫn chiếu và không có sự khác biệt so với thủ tục chung cũng được đặt trong Chương XXIX. Cụ thể là, Điều 432 về Khởi tố vụ án, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố VAHS. Toàn bộ nội dung của điều luật này chỉ đơn giản là sự viện dẫn quy định tại các điều 143, 153, 154 và 156 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trong khi đó, Điều 431 về phạm vi áp dụng đã thể hiện rõ thủ tục tố tụng đối với pháp nhân tiến hành đồng thời theo những quy định khác của Bộ luật này không trái với quy định tại Chương XXIX.

Nội dung Điều 433 về Khởi tố bị can, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can đối với pháp nhân cũng chỉ có một điểm khác duy nhất là quyết định khởi tố bị can đối với pháp nhân thì phải ghi “tên và địa chỉ pháp nhân theo quyết định thành lập của cơ quan có thẩm quyền”. Tất cả những vấn đề còn lại đều được viện dẫn đến Điều 179, Điều 180 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tương tự như vậy, Điều 445 về Thẩm quyền, thủ tục thi hành án đối với pháp nhân có ba khoản thì khoản 1 và 2 là quy định dẫn chiếu đến Luật Thi hành án dân sự và “quy định của pháp luật”[4] trong khi Điều 158 Luật Thi hành án hình sự năm 2019[5] đã quy định chi tiết về vấn đề này.

Do đó, theo quan điểm của tác giả, nhà làm luật chỉ nên giữ lại trong Chương XXIX Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 những quy định khác biệt so với thủ tục chung và những quy định dẫn chiếu đến các điều luật của các chương khác khi thật sự cần thiết. Những điều luật nào mà nội dung hoàn toàn giống thủ tục thông thường hoặc đã được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật khác thì mạnh dạn xóa bỏ.

2. Những vấn đề liên quan đến người đại diện theo pháp luật của pháp nhân tham gia tố tụng

2.1. Xác định người đại diện theo pháp luật của pháp nhân tham gia tố tụng

Mọi hoạt động tố tụng của pháp nhân bị truy cứu TNHS được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật. Do đó, việc xác định đúng chủ thể này vừa bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của pháp nhân, vừa bảo đảm quá trình TTHS được tiến hành thuận lợi, đúng thời hạn luật định. Người đại diện của pháp nhân bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền[6]. Tuy nhiên, để tham gia quá trình giải quyết VAHS đối với pháp nhân thì Điều 434 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chỉ chấp nhận người đại diện theo pháp luật, có thể vì đây là người hiểu rõ và chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến hoạt động của pháp nhân[7].

Về phía cơ quan có thẩm quyền THTT, việc xác định người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, trong trường hợp thông thường, là đơn giản vì pháp luật dân sự và kinh tế đã quy định tương đối rõ. Hơn nữa, theo khoản 1 Điều 434 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì pháp nhân có trách nhiệm cử và bảo đảm mọi điều kiện để người đại diện tham gia tố tụng có hiệu quả nhất. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc xác định người đại diện theo pháp luật của pháp nhân tham gia tố tụng sẽ trở nên phức tạp. Nhà làm luật đã dự liệu trước và quy định[8]:

“Trường hợp người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử hoặc không thể tham gia tố tụng được thì pháp nhân phải cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của mình tham gia tố tụng. Trường hợp pháp nhân thay đổi người đại diện thì pháp nhân phải thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Tại thời điểm khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử mà pháp nhân không có người đại diện theo pháp luật hoặc có nhiều người cùng là đại diện theo pháp luật thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định một người đại diện cho pháp nhân tham gia tố tụng”.

Phân tích sâu những quy định trên cho thấy một số vấn đề sau cần bàn luận:

Thứ nhất, tại sao chỉ có người đại diện theo pháp luật của pháp nhân mới có thể tham gia tố tụng còn người đại diện theo ủy quyền thì không?

Thứ hai, cơ quan có thẩm quyền THTT có quyền từ chối người đại diện theo pháp luật được pháp nhân cử không?

Thứ ba, “người khác” được cử tham gia tố tụng khi người đại diện theo pháp luật của pháp nhân cũng bị khởi tố có cần đáp ứng những điều kiện gì không?

Thứ tư, khi pháp nhân có nhiều người đại diện theo pháp luật thì cơ quan có thẩm quyền THTT sẽ chỉ định một trong số họ làm người tham gia tố tụng. Tại sao trong trường hợp này, pháp luật không cho phép pháp nhân được lựa chọn và cử người đại diện mà giao trách nhiệm đó cho cơ quan có thẩm quyền THTT?

Để trả lời cho tất cả các câu hỏi trên cần xem xét từ nhiều góc độ bao gồm quyền lợi của pháp nhân và yêu cầu của quá trình giải quyết VAHS. Việc ưu tiên xác định người đại diện cho pháp nhân tham gia tố tụng là người đại diện theo pháp luật dường như vừa có thể giúp thực hiện hiệu quả các quyền tố tụng để bảo vệ lợi ích hợp pháp của pháp nhân, vừa cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền THTT nhiều thông tin cần thiết cho việc xác định sự thật vụ án. Tuy nhiên, điều này chắc chắn sẽ dẫn đến một số vướng mắc đó là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân đồng thời tham gia tố tụng với các tư cách khác như người làm chứng, đương sự trong VAHS được không?

Nếu triệu tập họ tham gia với tư cách người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thì họ có quyền “không buộc phải đưa ra lời khai chống lại pháp nhân mà mình đại diện hoặc buộc phải thừa nhận pháp nhân mà mình đại diện có tội” (điểm đ khoản 1 Điều 435 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Trong khi đó, nếu tham gia với tư cách người làm chứng thì họ có nghĩa vụ “trình bày trung thực những tình tiết mà mình biết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án” (điểm b khoản 4 Điều 66 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể phải chịu trách nhiệm về phần dân sự đối với những thiệt hại do hành vi phạm tội của pháp nhân thực hiện (liên quan đến việc khắc phục hậu quả, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại…). Do đó, rất có khả năng họ sẽ tham gia tố tụng với tư cách bị đơn dân sự và/hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

Phải nhận thấy rằng, việc cử ai tham gia tố tụng với tư cách người đại diện cho pháp nhân trước hết phải do pháp nhân lựa chọn. Vì vậy, cơ quan lập pháp không nên quy định trong trường hợp pháp nhân không có người đại diện theo pháp luật hoặc có nhiều người cùng là đại diện theo pháp luật thì pháp nhân bị mất quyền cử người đại diện tham gia tố tụng. Thay vào đó, cơ quan có thẩm quyền THTT sẽ có trách nhiệm chỉ định người đại diện. Một vấn đề khác đó là Điều 434 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa quy định thời hạn pháp nhân cử người đại diện tham gia tố tụng. Sự thiếu sót này sẽ gây khó khăn cho cơ quan có thẩm quyền THTT vì không thể tạm ngưng quá trình tố tụng để chờ người đại diện được cử[9].

Ngoài ra, trong thực tiễn áp dụng, có thể suy đoán pháp nhân thường sẽ chọn người nào có đủ khả năng (đủ kiến thức pháp lý, sự hiểu biết về pháp nhân) thực hiện các quyền tố tụng để bảo vệ tốt nhất lợi ích của mình. Nhưng cũng không loại trừ trường hợp người được chọn là người sẽ gây khó khăn, phức tạp cho việc giải quyết VAHS. Ví dụ, pháp nhân cử người đại diện theo pháp luật là người nước ngoài, không biết tiếng Việt. Do đó, pháp luật cũng cần phải có những quy định về các trường hợp/căn cứ cho phép cơ quan có thẩm quyền THTT từ chối người đại diện được cử.

Liên quan đến người đại diện cho pháp nhân trong TTHS, pháp luật Hàn Quốc, Cộng hòa Croatia, Bosnia và Herzegovina có những quy định mà Việt Nam có thể tham khảo. Điều 28 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1954 của Hàn Quốc quy định về người đại diện tạm thời (ad hoc representative) theo quyết định của Tòa án trên cơ sở đề nghị của Công tố viên cho đến khi có người đại diện chính thức[10]. Trong khi đó, Cộng hòa Croatia có một đạo luật riêng là Luật về trách nhiệm của pháp nhân đối với tội phạm (Act on the Responsbility of Legal Persons for the Criminal Offences) năm 2003[11]. Điều 27, Điều 28 của Luật này quy định khá chi tiết, cụ thể về những vấn đề liên quan đến người đại diện pháp nhân tham gia TTHS, điển hình là các quy định sau:

Điều 27. Người đại diện của pháp nhân bị buộc tội (Representative of the accused legal person):

“(2) Pháp nhân chỉ có thể có một người đại diện tham gia tố tụng. Người đại diện có thể là bất kỳ người nào có thẩm quyền hợp pháp (legally competent physical person) và nói tiếng Croatia.

(3) Người đại diện được chỉ định (be designated) bởi cơ quan của pháp nhân (legal person’s body) hoặc người đại diện theo pháp luật, theo một quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo quy định của hiệp hội (articles of association), bảng ghi nhớ (memorandum) của doanh nghiệp hoặc một quyết định của cơ quan pháp nhân.

(5) Người đại diện của pháp nhân không thể là người đã được triệu tập với tư cách người làm chứng trong cùng vụ án hoặc người bị khởi tố về cùng tội phạm”.

Điều 28. Chỉ định người đại diện (Designation of Representative):

“(1) Trong những giấy triệu tập đầu tiên (the first summons), Tòa án phải cảnh báo pháp nhân về nghĩa vụ chỉ định người đại diện trong thời hạn 08 ngày kể từ ngày nhận được giấy triệu tập.

(2) Nếu pháp nhân không chỉ định người đại diện trong thời hạn được quy định tại khoản 1 Điều này thì Tòa án có thầm quyền sẽ chỉ định người đại diện.

(3) Nếu pháp nhân không còn tồn tại trước khi có bản án cuối cùng, ví dụ, trước khi hoàn thành quá trình tố tụng hình sự và pháp nhân có doanh nghiệp kế nhiệm hợp pháp (legal successor), doanh nghiệp kế nhiệm hợp pháp có trách nhiệm chỉ định người đại diện trong thời hạn 08 ngày kể từ ngày chấm dứt của pháp nhân. Nếu không thì người đại diện sẽ được chỉ định bởi Tòa án có thẩm quyền.

(4) Nếu pháp nhân chỉ định người đại diện trái với quy định tại khoản 2 và khoản 5 Điều 27 của Luật này, Tòa án có thẩm quyền sẽ yêu cầu pháp nhân chỉ định một người đại diện khác trong thời hạn 08 ngày và cung cấp cho Tòa án một bản tóm tắt thích hợp (appropriate brief). Nếu pháp nhân không chỉ định người đại diện trong thời hạn nói trên, Tòa án có thẩm quyền sẽ chỉ định người đại diện.

(5) Người đại diện của pháp nhân được chỉ định bởi Chánh án Tòa án thông qua một quyết định được gửi cho người này và pháp nhân. Người được chỉ định làm đại diện và pháp nhân có quyền khiếu nại (appeal) quyết định của Tòa án, mà không trì hoãn việc làm người đại diện”.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (sửa đổi năm 2018) của Bosnia và Herzegovina đã dành một chương riêng (Chương XXVII) quy định về thủ tục tố tụng đối với pháp nhân[12]. Trong đó, Điều 379 quy định về những trường hợp không được làm người đại diện của pháp nhân tham gia tố tụng bao gồm:

(1) Người đã được triệu tập lấy lời khai trong quá trình tố tụng.

(2) Người đang bị tiến hành tố tụng về cùng tội phạm trừ khi người này là thành viên duy nhất của pháp nhân.

(3) Trong các trường hợp quy định tại các khoản 1 và 2 của Điều này, Tòa án sẽ yêu cầu một cơ quan có thẩm quyền của pháp nhân chỉ định người khác làm người đại diện trong một thời hạn nhất định và thông báo cho Tòa án biết bằng văn bản. Nếu không, Tòa án sẽ chỉ định người đại diện.

Như vậy, pháp luật TTHS của ba quốc gia trên, đặc biệt là Cộng hòa Croatia, đã có những quy định mà Việt Nam có thể nghiên cứu và tiếp thu. Các nước này không bắt buộc người đại diện của pháp nhân tham gia TTHS phải là người đại diện theo pháp luật. Đặc biệt, quyền lựa chọn và cử người đại diện luôn được ưu tiên cho pháp nhân trong một thời hạn nhất định. Pháp luật Cộng hòa Croatia, Bosnia và Herzegovina cũng quy định khá rõ những trường hợp không đủ điều kiện trở thành người đại diện của pháp nhân tham gia vào quá trình tố tụng.

2.2. Quyền của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân

Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có các quyền cụ thể được ghi nhận tại khoản 1 Điều 435 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Nhà làm luật đã lựa chọn một số quyền của người bị buộc tội là cá nhân khi tham gia tố tụng với các tư cách khác nhau trong từng giai đoạn tố tụng (chủ yếu là quyền của bị can, bị cáo) và chuyển thành quyền của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân. Pháp luật Việt Nam, tương tự như pháp luật của các quốc gia châu Âu lục địa, không có sự phân biệt nhiều giữa quyền và nghĩa vụ tố tụng của pháp nhân với thể nhân[13]. Cũng vì vậy, mà có ý kiến cho rằng, nên loại bỏ Điều 435 và bổ sung khoản 3 Điều 434 với nội dung: “Quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân được thực hiện theo quy định tại các điều 57, 60, 61 của Bộ luật này, trừ những quy định chỉ áp dụng riêng cho cá nhân bị buộc tội”[14]. Tác giả bài viết không ủng hộ ý kiến này, vì chỉ khi nào thật sự thích hợp mới nên quy định mang tính dẫn chiếu. Hơn nữa, những quy định chỉ áp dụng riêng cho cá nhân bị buộc tội là những quy định nào? Điều này có thể dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất.

Tuy nhiên, có thể thấy một quyền của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố (Điều 57 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) đã không được ghi nhận cho người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, đó là: “Quyền được thông báo về hành vi bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố”. Điều này là không công bằng cho pháp nhân bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố. Vì vậy, cần phải bổ sung vào khoản 1 Điều 435 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015[15]. Ngoài ra, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng chưa quy định về thời điểm tham gia tố tụng của người đại diện nói chung và người đại diện theo pháp luật của pháp nhân nói riêng[16]. Về nguyên tắc, khi pháp nhân bắt đầu có tư cách tố tụng thì người đại diện theo pháp luật của pháp nhân cũng được quyền tham gia vào quá trình TTHS.

3. Biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân

Điều 436 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định bốn biện pháp cưỡng chế có thể áp dụng đối với pháp nhân bao gồm: (i) Kê biên tài sản liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân; (ii) Phong tỏa tài khoản của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân; (iii) Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân; (iv) Buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án. Nếu như hai biện pháp đầu tiên cũng đồng thời áp dụng với cá nhân thì hai biện pháp sau chỉ có thể áp dụng đối với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử (là bị can, bị cáo).

Về thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân, khoản 1 Điều 436 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định giao cho cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án. Tuy nhiên, khi xem xét các điều luật cụ thể quy định về thẩm quyền áp dụng từng biện pháp cưỡng chế thì chỉ có những người trong cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án, mà không có người của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Như vậy, đã có sự không đồng bộ giữa phạm vi những chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân liệt kê tại khoản 1 Điều 436 và các điều 437, 438, 439. Có tác giả đã đưa ra hai phương án để khắc phục sự không đồng bộ này gồm: (i) Bỏ đi thẩm quyền này của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc (ii) Nếu giữ lại thẩm quyền này thì cần bổ sung cho đầy đủ, thống nhất trong các điều luật trên và điều luật dẫn chiếu[17]. Theo quan điểm của tác giả, xuất phát từ tính phức tạp của các VAHS do pháp nhân thực hiện; hệ quả của những biện pháp cưỡng chế; chức năng, nhiệm vụ và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của các cơ quan có thẩm quyền THTT, chúng ta chỉ nên trao thẩm quyền áp dụng các biện pháp này cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án.

Nghiên cứu pháp luật nước ngoài, cụ thể là pháp luật TTHS của Bosnia và Herzegovina, cho thấy, bên cạnh các biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân tương tự như của Việt Nam, còn có một biện pháp khác đó là cấm “những thay đổi liên quan đến hình thức tồn tại” (status-related changes). Cụ thể, khoản 3 Điều 386 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (sửa đổi năm 2018) của quốc gia này quy định: “Trong quá trình tố tụng hình sự đối với pháp nhân, trên cơ sở đề nghị của Công tố viên, Tòa án có thể cấm việc thay đổi hình thức dẫn đến chấm dứt sự tồn tại của pháp nhân”[18]. Tác giả bài viết cho rằng, đây là một biện pháp rất đáng để suy nghĩ và bổ sung vào Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành của nước ta nhằm ngăn chặn tình trạng pháp nhân có thể tiến hành các hoạt động như hợp nhất, sáp nhập, chia, chuyển đổi hình thức, giải thể, tuyên bố phá sản (khoản 1 Điều 96 Bộ luật Dân sự năm 2015) để chấm dứt sự tồn tại, gây khó khăn cho việc truy cứu TNHS.

PGS.TS. Lê Huỳnh Tấn Duy

Phó Trưởng khoa Luật hình sự, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

[1]. Điều 75 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“1. Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên.

2. Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác.

3. Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật Doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan”.

[2]. Trịnh Quốc Toản, “Nghiên cứu một số quy định đặc thù về thủ tục tố tụng hình sự đối với pháp nhân trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Luật học, tập 34, số 3(2018), tr. 23; Hoàng Đình Thanh, Sửa đổi, bổ sung một số thủ tục tố tụng của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nhằm đáp ứng yêu cầu của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (ngày 15/5/2020), https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/sua-doi-bo-sung-mot-so-thu-tuc-to-tung-cua-bltths-nam-2015-nham-dap-ung-yeu-cau-cua-blhs-nam-2015, truy cập ngày 11/4/2021; Bạch Ngọc Du, Truy cứu TNHS đối với pháp nhân thương mại phạm tội, Tạp chí TAND điện tử (ngày 27/5/2019), https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/truy-cuu-trach-nhiem-hinh-su-doi-voi-phap-nhan-thuong-mai-pham-toi, truy cập ngày 11/4/2021.

[3]. Trần Bá Quang, Thủ tục tố tụng truy cứu TNHS pháp nhân, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016, tr. 53.

[4]. Thời điểm ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, dự án Luật Thi hành án hình sự mới thay thế Luật Thi hành án hình sự năm 2010 chưa hoàn thành nên nhà làm luật chỉ có thể tạm thời quy định tại khoản 2 Điều 445 là: “Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thi hành các hình phạt khác và các biện pháp tư pháp quy định tại Bộ luật Hình sự đối với pháp nhân theo quy định của pháp luật”.

[5]. Xem: Điều 158 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

[6]. Xem: Điều 85 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[7]. Xem: Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[8]. Xem: Đoạn 2, 3 khoản 1 Điều 434 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[9]. Tham khảo thêm Lê Huỳnh Tấn Duy, Nguyễn Trương Thanh Thảo (2022), “Người đại diện của pháp nhân trong tố tụng hình sự Croatia và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, số 4 (59), tr. 63 - 64.

[10]. UNHCR, Republic of Korea: Penal Procedure Code https://www.refworld.org/docid/3ae6b5af0.html, truy cập ngày 13/4/2021.

[11]. Republic of Croatia, The Act on the Responsbility of Legal Persons for the Criminal Offences http://www.vsrh.hr/CustomPages/Static/HRV/Files/Legislation__Responsibility-Legal-Persons-CO.pdf, truy cập ngày 13/4/2021.

[12]. Legislation Online, Bosnia and Herzegovina, Criminal Procedure Code (2003, amended 2018) https://www.legislationline.org/documents/section/criminal-codes/country/40/Bosnia%20and%20Herzegovina/show, truy cập ngày 13/4/2021.

[13]. Nguyễn Hoàng Anh, Thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân ở một số quốc gia và những gợi mở cho Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 21(373), tháng 11/2018 http://www.lapphap.vn/Pages/ tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=207650, truy cập ngày 12/4/2021.

[14]. Trịnh Quốc Toản, tlđd (chú thích số 02), tr. 24.

[15]. Lê Huỳnh Tấn Duy, Nguyễn Trương Thanh Thảo, tlđd (chú thích số 09), tr. 66.

[16]. Tham khảo thêm Lê Huỳnh Tấn Duy, Nguyễn Trương Thanh Thảo, tlđd (chú thích số 09), tr. 64.

[17]. Bạch Ngọc Du, tlđd (chú thích số 02).

[18]. Article 386. Security measure

“(3) When the criminal procedure is instituted against the legal person, the Court may, at the proposal of the Prosecutor, or ex officio, forbid status-related changes, the consequence of which would be deletion of the legal person from the Court registry. The decision on this ban is registered in the Court registry.”

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: