Thứ bảy 27/06/2026 23:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thừa phát lại bước đầu đã đi vào lòng dân và xã hội, là người trợ thủ đắc lực cho công tác thi hành án dân sự và công tác tư pháp khác

Với tinh thần làm việc khẩn trương, trao đổi thẳng thắn và đầy trách nhiệm trước một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, có thể nói, Hội nghị tổng kết thí điểm Thừa phát lại theo Nghị quyết số 24/2008/QH12 của Quốc hội đã thành công tốt đẹp. Hội nghị đã nghe Báo cáo tổng kết của Bộ Tư pháp, của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh; tham luận của Tòa án nhân dân tối cao, của các cơ quan tại thành phố Hồ Chí Minh, của các văn phòng Thừa phát lại và phát biểu của lãnh đạo Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, của Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội.

(Kết luận của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường tại Hội nghị Tổng kết thực hiện thí điểm Thừa phát lại tại thành phố Hồ Chí Minh)

Các báo cáo cũng như ý kiến tham gia tại Hội nghị đã cho chúng ta thấy bức tranh thực tiễn khá chi tiết về tình hình, kết quả đạt được, những thuận lợi cũng như những khó khăn, tồn tại, hạn chế, vướng mắc trong quá trình thực hiện thí điểm chế định này. Các ý kiến tham gia tại Hội nghị rất đa dạng, phong phú, có ý kiến còn để ngỏ, tuy nhiên đều có một điểm chung là đánh giá cao kết quả thực hiện thí điểm Thừa phát lại trong thời gian qua, khẳng định vị trí, vai trò, hiệu quả kinh tế - xã hội của mô hình này, cũng như thống nhất chủ trương đề nghị với các cơ quan Đảng và Nhà nước nhân rộng, tiến tới chính thức hóa chế định Thừa phát lại trong đời sống tư pháp của đất nước.

Tôi xin thay mặt Bộ Tư pháp và Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh kết luận về hai vấn đề lớn như sau:

Vấn đề thứ nhất: Việc thực hiện thí điểm Thừa phát lại đã được thực hiện một cách nghiêm túc, hiệu quả, từ đó đã khẳng định vị trí, vai trò của mô hình Thừa phát lại đối với xã hội, đối với hoạt động tư pháp

Báo cáo tổng kết, tham luận của các đại biểu đã đề cập tương đối đầy đủ về việc thực hiện chế định Thừa phát lại trong thời gian qua trên các mặt, từ việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng, xây dựng, hoàn thiện các quy định của pháp luật; quán triệt, tuyên truyền, quảng bá về Thừa phát lại; chỉ đạo, tổ chức thực hiện; bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ; thành lập, kiện toàn tổ chức, hoạt động Thừa phát lại, cho đến công tác quản lý, phối hợp triển khai thực hiện, kiểm tra, giám sát hoạt động Thừa phát lại…Tôi chỉ xin khái quát một số vấn đề như sau:

Một là, công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại thành phố Hồ Chí Minh được quan tâm, thực hiện tốt. Mặc dù đây là vấn đề mới và chỉ thực hiện trong thời gian ngắn, trên cơ sở Nghị quyết của Quốc hội, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các bộ, ngành liên quan xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại thành phố Hồ Chí Minh, trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh; phối hợp với các Bộ, Ngành ban hành các thông tư hướng dẫn thực hiện, như: Thông tư số 03/2009/TT-BTP ngày 30/9/2009 của Bộ Tư pháp, Thông tư liên tịch số 12/2010/TTLT-BTP-TANDTC-BTC ngày 24/6/2010 của Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân tối cao, Bộ Tài chính, Thông tư liên tịch số 13/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 7/7/2010 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Tại thành phố Hồ Chí Minh, Thành ủy Thành phố nhiều lần chỉ đạo và Ủy ban nhân dân Thành phố cũng đã ban hành Chỉ thị về vấn đề này. Các văn bản nêu trên đã tạo cơ sở chính trị pháp lý tương đối đầy đủ cho tổ chức và hoạt động Thừa phát lại.

Hai là, việc quán triệt chủ trương, quan điểm của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội, Nghị định của Chính phủ về thí điểm Thừa phát lại đã được thực hiện một cách quyết liệt, đặc biệt là vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Thành uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã tạo ra sự đồng thuận chung của các cấp, các ngành trên địa bàn Thành phố trong quá trình triển khai thực hiện. Bên cạnh đó, việc tuyên truyền, quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng về Thừa phát lại cũng đã được thực hiện thường xuyên, với nhiều hình thức khác nhau, đã góp phần nâng cao nhận thức của người dân về vị trí, vai trò của Thừa phát lại, giúp cho việc triển khai thí điểm đạt hiệu quả.

Ba là, công tác quản lý, phối hợp, chỉ đạo triển khai thực hiện việc thí điểm cũng đã được Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và các cơ quan liên quan thực hiện một cách bài bản, có trách nhiệm. Bộ Tư pháp, Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã dành sự quan tâm, chỉ đạo các đơn vị chức năng của mình thường xuyên nắm bắt tình hình, hướng dẫn chỉ đạo việc thí điểm, đã tổ chức sơ kết, qua đó việc bổ nhiệm Thừa phát lại, thành lập, đăng ký hoạt động các văn phòng Thừa phát lại đã được thực hiện một cách chặt chẽ, đúng quy định pháp luật; các Thừa phát lại được quan tâm bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; công tác kiểm tra giám sát hoạt động của Thừa phát lại được chú trọng thực hiện, kịp thời chấn chỉnh những sai sót trong tổ chức và hoạt động cũng như tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình thực hiện. Đến nay, tại thành phố Hồ Chí Minh đã thành lập 08 văn phòng Thừa phát lại với 33 Thừa phát lại và 68 Thư ký nghiệp vụ đang hành nghề. Đặc biệt, Bộ Tư pháp đánh giá cao Báo cáo số 49/BC-ĐĐB ngày 14/5/2012 của Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh về kết quả giám sát việc thực hiện thí điểm về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.

Bốn là, các văn phòng Thừa phát lại đã thực hiện tốt các chức năng nhiệm vụ theo quy định. Mặc dù còn nhiều khó khăn, song các Thừa phát lại đã thể hiện tinh thần tâm huyết với công việc, với nghề, với việc thực hiện một chủ trương mới của Đảng, Nhà nước. Trong hoạt động, về cơ bản trình tự, thủ tục thực hiện công việc của Thừa phát lại đảm bảo đúng quy định pháp luật, chưa xẩy ra sai sót, kể cả trong một số việc lớn, như đồng chí Bí thư Quận ủy Quận Bình Thạnh và đồng chí Chánh án Tòa án nhân dân Quận 10 đã khẳng định. Vì vậy, mặc dù thời gian thí điểm chưa nhiều, số lượng còn ít, nhưng hoạt động của các văn phòng Thừa phát lại đã thu được kết quả đáng khích lệ, được xã hội đón nhận, qua đó khẳng định được vị trí của mình trong đời sống pháp luật của Thành phố, cụ thể là tạo lập một nghề nghiệp mới trong thị trường cung cấp dịch vụ pháp lý, dịch vụ hành chính - tư pháp; hoạt động của Thừa phát lại đã đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội tích cực bước đầu, như giảm tải nhân lực, thời gian và chi phí của các cơ quan tòa án, thi hành án của Thành phố; tạo lập cơ chế pháp lý để tăng cường tính chủ động, tích cực công dân trong các quan hệ dân sự, tố tụng dân sự, hành chính. Những kết quả này là phù hợp với các mục tiêu cải cách hành chính, cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước.

Tuy nhiên, bên cạnh thành quả đã đạt được, việc thí điểm cũng đã gặp một số khó khăn, vướng mắc, bộc lộ một số tồn tại làm hạn chế kết quả đạt được. Tôi xin nhấn mạnh một số khó khăn, hạn chế cơ bản sau:

Một là, nhận thức của người dân và của các cơ quan, tổ chức về vấn đề này còn những hạn chế nhất định. Những hạn chế về nhận thức không những ảnh hưởng đến công tác phối hợp, chỉ đạo, điều hành của các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm triển khai thực hiện, mà còn hạn chế rất nhiều đến hiệu quả hoạt động của các văn phòng Thừa phát lại.

Hai là, pháp luật về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại bước đầu đã được xây dựng, song vẫn còn nhiều điểm cần sửa đổi, bổ sung, có điểm cần được giải thích rõ kể cả Nghị quyết của Quốc hội (ví dụ về chấm dứt thí điểm). Bên cạnh đó, một số quy định của pháp luật trong các lĩnh vực liên quan như tố tụng, thi hành án dân sự, bảo hiểm, ngân hàng… cũng chưa đồng bộ với các quy định về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại.

Ba là, quá trình triển khai thực hiện một số mặt còn chưa kịp thời, như việc chậm ban hành các Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành, việc thành lập và đi vào hoạt động của các văn phòng Thừa phát lại còn chậm so với yêu cầu về thời gian mà Nghị quyết Quốc hội đã đề ra. Bên cạnh đó, trong thời gian đầu, việc triển khai thực hiện các mặt công tác còn lúng túng, thiếu đồng bộ; công tác chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ có lúc, có việc chưa thực sự quyết liệt, còn chậm.

Bốn là, kết quả hoạt động của các văn phòng Thừa phát lại chưa đồng đều, trong đó, việc trực tiếp tổ chức thi hành án còn ít, chưa đáp ứng yêu cầu về xã hội hóa công tác này.

Năm là, việc triển khai thí điểm mới được thực hiện tại thành phố Hồ Chí Minh, chưa được nhân rộng đến các địa phương khác như Nghị quyết của Quốc hội đã xác định. Điều đó cũng làm hạn chế phần nào việc đánh giá một cách toàn diện mô hình này.

Những tồn tại, hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan.

Về khách quan, chế định Thừa phát lại là mới, do đó người dân, xã hội chưa biết nhiều, còn e ngại trong việc đón nhận mô hình này. Trong khi đó điều kiện kinh tế - xã hội, cơ chế trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước hiện hành cũng còn nhiều điểm chưa thực sự tạo điều kiện cho tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại. Các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại và liên quan còn nhiều hạn chế như đã nêu trên, dẫn đến việc cần phải tháo gỡ khi có cách hiểu khác nhau về mô hình đầy đủ và mô hình không đầy đủ của chế định Thừa phát lại.

Về chủ quan, trong quá trình thực hiện, một số cơ quan, tổ chức chưa nhận thức được một cách sâu sắc vai trò, ý nghĩa và trách nhiệm của mình trong việc thực hiện thí điểm; công tác phối hợp của các cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện còn chưa thực sự chặt chẽ, thống nhất, đặc biệt là việc phối hợp, hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức trong hoạt động Thừa phát lại, một số vướng mắc phát sinh, ví dụ cách hiểu về thời điểm thí điểm kết thúc chưa được tháo gỡ kịp thời, hay như chưa thí điểm được tại nơi khác. Bên cạnh đó, đội ngũ Thừa phát lại, thư ký và nhân viên giúp việc tại các văn phòng còn thiếu về số lượng, chất lượng không đồng đều, còn thiếu kỹ năng, kinh nghiệm trong giải quyết công việc, không ít trường hợp chưa đáp ứng yêu cầu về năng lực công tác.

Tóm lại, mặc dù còn một số hạn chế, tồn tại, song Hội nghị chúng ta đã đi đến thống nhất cao là về cơ bản việc thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết của Quốc hội đã được thực hiện nghiêm túc, bài bản và thành công. Hình ảnh Thừa phát lại bước đầu đã đi vào lòng dân và xã hội như người trợ thủ đắc lực trong công tác thi hành án dân sự và công tác tư pháp khác. Điều đáng mừng là, mặc dù việc thí điểm mới được thực hiện tại thành phố Hồ Chí Minh, nhưng trên cơ sở kết quả đã đạt được, rất nhiều địa phương, trong đó có thành phố Đà Nẵng, tỉnh Đồng Nai, tỉnh Bình Dương đã chính thức có văn bản đề xuất và chủ động xây dựng đề án thực hiện thí điểm mô hình này tại địa phương mình. Đây là cơ sở, tiền đề vững chắc để chúng ta đề nghị Quốc hội, Chính phủ cho phép thực hiện và mở rộng đến nhiều địa phương khác trong thời gian tới.

Vấn đề thứ hai: Từ tình hình, kết quả đạt được trong việc thí điểm chế định Thừa phát lại, Hội nghị chúng ta đã có được nhận thức chung trên một số vấn đề lớn còn vướng mắc, đồng thời nhất trí cao trong việc xác định định hướng để kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền cho phép tiếp tục thực hiện mô hình này trong phạm vi cả nước với lộ trình phù hợp

Thứ nhất, thống nhất nhận thức về thời điểm chấm dứt thực hiện thí điểm và kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao về thí điểm phải thực hiện mô hình đầy đủ.

Thứ hai, về định hướng trong thời gian tới, Hội nghị nhất trí cao đề xuất với Chính phủ, Quốc hội, Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp trung ương, Bộ Chính trị cho phép tiếp tục thực hiện mô hình Thừa phát lại, nhân rộng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phố khác, tiến tới luật hóa chế định này.

Để thực hiện định hướng này, cần thực hiện các công việc sau đây:

Trước mắt, cần tháo gỡ ngay vướng mắc trong nhận thức về việc thực hiện thí điểm sau ngày 01/07/2012, Bộ Tư pháp đã có các công văn gửi Tòa án nhân dân tối cao và gửi Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại sau ngày 01/07/2012, tới đây Bộ Tư pháp và Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tài chính sẽ họp liên ngành để thống nhất về hoạt động của các văn phòng Thừa phát lại tại thành phố Hồ Chí Minh sau ngày 1/7/2012; hoàn thiện Báo cáo tổng kết để báo cáo Chính phủ, Quốc hội, Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp trung ương, đặc biệt báo cáo Quốc hội ban hành Nghị quyết riêng về tiếp tục thực hiện mô hình Thừa phát lại (nghiên cứu mô hình đầy đủ, lấy kinh nghiệm từ Bulgari, Luật Công chứng ở Việt Nam), trên cơ sở đó kiến nghị Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009. Trong thời gian chờ hướng dẫn, đề nghị Tòa án nhân dân tối cao và Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh chỉ đạo các cơ quan có liên quan tiếp tục phối hợp với các văn phòng Thừa phát lại hoạt động bình thường.

Về lâu dài, nhất trí với kiến nghị của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh về việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (hiện đã có trong Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khóa XIII) hoặc ban hành Luật Thừa phát lại cùng thời điểm sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2008 cộng với việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính và các đạo luật có liên quan.

Để thực hiện các công việc nêu trên, tôi đề nghị Tổng cục Thi hành án dân sự, các đơn vị thuộc Bộ và Sở Tư pháp, Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh tổng hợp đầy đủ các vướng mắc, ý kiến nêu ra tại Hội nghị để nghiên cứu thấu đáo, đề xuất tháo gỡ trước mắt cũng như lâu dài.

Cuối cùng, nhân Hội nghị này, thay mặt Ban Cán sự và Lãnh đạo Bộ Tư pháp, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp trung ương, Lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các bộ, ngành Trung ương, đặc biệt là các đồng chí Lãnh đạo Thành uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh, cá nhân đồng chí Nguyễn Văn Đua – Phó Bí thư Thường trực Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua đã tích cực chỉ đạo, quan tâm phối hợp, tạo điều kiện để triển khai thực hiện chế định này; tôi cũng cảm ơn các phương tiện thông tin đại chúng đã quan tâm và đưa tin về Hội nghị. Đồng thời, mong muốn tiếp tục nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và phối hợp, tạo điều kiện nhiều hơn, hiệu quả hơn của các cơ quan, ban, ngành ở Trung ương và địa phương, của nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và cả nước.

Đặc biệt, cảm ơn Sở Tư pháp, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh, Quận ủy, Ủy ban nhân dân các quận, huyện đã giúp Bộ Tư pháp và Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh thực hiện việc thí điểm chế định Thừa phát lại; trân trọng sự hưởng ứng, tình cảm yêu ngành, yêu nghề, sự dũng cảm của các Thừa phát lại đầu tiên tại thành phố Hồ Chí Minh. Mong các vị yên tâm hoạt động nghề nghiệp, Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Đảng bộ, chính quyền, nhân dân thành phố Hồ Chí Minh luôn đứng sau các vị, ủng hộ, khuyến khích các vị, chờ mong những kết quả ngày càng tốt hơn của các vị. Chúc các vị thành công hơn nữa.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: