Thứ bảy 07/02/2026 21:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thừa phát lại bước đầu đã đi vào lòng dân và xã hội, là người trợ thủ đắc lực cho công tác thi hành án dân sự và công tác tư pháp khác

Với tinh thần làm việc khẩn trương, trao đổi thẳng thắn và đầy trách nhiệm trước một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, có thể nói, Hội nghị tổng kết thí điểm Thừa phát lại theo Nghị quyết số 24/2008/QH12 của Quốc hội đã thành công tốt đẹp. Hội nghị đã nghe Báo cáo tổng kết của Bộ Tư pháp, của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh; tham luận của Tòa án nhân dân tối cao, của các cơ quan tại thành phố Hồ Chí Minh, của các văn phòng Thừa phát lại và phát biểu của lãnh đạo Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, của Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội.

(Kết luận của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường tại Hội nghị Tổng kết thực hiện thí điểm Thừa phát lại tại thành phố Hồ Chí Minh)

Các báo cáo cũng như ý kiến tham gia tại Hội nghị đã cho chúng ta thấy bức tranh thực tiễn khá chi tiết về tình hình, kết quả đạt được, những thuận lợi cũng như những khó khăn, tồn tại, hạn chế, vướng mắc trong quá trình thực hiện thí điểm chế định này. Các ý kiến tham gia tại Hội nghị rất đa dạng, phong phú, có ý kiến còn để ngỏ, tuy nhiên đều có một điểm chung là đánh giá cao kết quả thực hiện thí điểm Thừa phát lại trong thời gian qua, khẳng định vị trí, vai trò, hiệu quả kinh tế - xã hội của mô hình này, cũng như thống nhất chủ trương đề nghị với các cơ quan Đảng và Nhà nước nhân rộng, tiến tới chính thức hóa chế định Thừa phát lại trong đời sống tư pháp của đất nước.

Tôi xin thay mặt Bộ Tư pháp và Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh kết luận về hai vấn đề lớn như sau:

Vấn đề thứ nhất: Việc thực hiện thí điểm Thừa phát lại đã được thực hiện một cách nghiêm túc, hiệu quả, từ đó đã khẳng định vị trí, vai trò của mô hình Thừa phát lại đối với xã hội, đối với hoạt động tư pháp

Báo cáo tổng kết, tham luận của các đại biểu đã đề cập tương đối đầy đủ về việc thực hiện chế định Thừa phát lại trong thời gian qua trên các mặt, từ việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng, xây dựng, hoàn thiện các quy định của pháp luật; quán triệt, tuyên truyền, quảng bá về Thừa phát lại; chỉ đạo, tổ chức thực hiện; bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ; thành lập, kiện toàn tổ chức, hoạt động Thừa phát lại, cho đến công tác quản lý, phối hợp triển khai thực hiện, kiểm tra, giám sát hoạt động Thừa phát lại…Tôi chỉ xin khái quát một số vấn đề như sau:

Một là, công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại thành phố Hồ Chí Minh được quan tâm, thực hiện tốt. Mặc dù đây là vấn đề mới và chỉ thực hiện trong thời gian ngắn, trên cơ sở Nghị quyết của Quốc hội, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các bộ, ngành liên quan xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại thành phố Hồ Chí Minh, trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh; phối hợp với các Bộ, Ngành ban hành các thông tư hướng dẫn thực hiện, như: Thông tư số 03/2009/TT-BTP ngày 30/9/2009 của Bộ Tư pháp, Thông tư liên tịch số 12/2010/TTLT-BTP-TANDTC-BTC ngày 24/6/2010 của Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân tối cao, Bộ Tài chính, Thông tư liên tịch số 13/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 7/7/2010 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Tại thành phố Hồ Chí Minh, Thành ủy Thành phố nhiều lần chỉ đạo và Ủy ban nhân dân Thành phố cũng đã ban hành Chỉ thị về vấn đề này. Các văn bản nêu trên đã tạo cơ sở chính trị pháp lý tương đối đầy đủ cho tổ chức và hoạt động Thừa phát lại.

Hai là, việc quán triệt chủ trương, quan điểm của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội, Nghị định của Chính phủ về thí điểm Thừa phát lại đã được thực hiện một cách quyết liệt, đặc biệt là vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Thành uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã tạo ra sự đồng thuận chung của các cấp, các ngành trên địa bàn Thành phố trong quá trình triển khai thực hiện. Bên cạnh đó, việc tuyên truyền, quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng về Thừa phát lại cũng đã được thực hiện thường xuyên, với nhiều hình thức khác nhau, đã góp phần nâng cao nhận thức của người dân về vị trí, vai trò của Thừa phát lại, giúp cho việc triển khai thí điểm đạt hiệu quả.

Ba là, công tác quản lý, phối hợp, chỉ đạo triển khai thực hiện việc thí điểm cũng đã được Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và các cơ quan liên quan thực hiện một cách bài bản, có trách nhiệm. Bộ Tư pháp, Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã dành sự quan tâm, chỉ đạo các đơn vị chức năng của mình thường xuyên nắm bắt tình hình, hướng dẫn chỉ đạo việc thí điểm, đã tổ chức sơ kết, qua đó việc bổ nhiệm Thừa phát lại, thành lập, đăng ký hoạt động các văn phòng Thừa phát lại đã được thực hiện một cách chặt chẽ, đúng quy định pháp luật; các Thừa phát lại được quan tâm bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; công tác kiểm tra giám sát hoạt động của Thừa phát lại được chú trọng thực hiện, kịp thời chấn chỉnh những sai sót trong tổ chức và hoạt động cũng như tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình thực hiện. Đến nay, tại thành phố Hồ Chí Minh đã thành lập 08 văn phòng Thừa phát lại với 33 Thừa phát lại và 68 Thư ký nghiệp vụ đang hành nghề. Đặc biệt, Bộ Tư pháp đánh giá cao Báo cáo số 49/BC-ĐĐB ngày 14/5/2012 của Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh về kết quả giám sát việc thực hiện thí điểm về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.

Bốn là, các văn phòng Thừa phát lại đã thực hiện tốt các chức năng nhiệm vụ theo quy định. Mặc dù còn nhiều khó khăn, song các Thừa phát lại đã thể hiện tinh thần tâm huyết với công việc, với nghề, với việc thực hiện một chủ trương mới của Đảng, Nhà nước. Trong hoạt động, về cơ bản trình tự, thủ tục thực hiện công việc của Thừa phát lại đảm bảo đúng quy định pháp luật, chưa xẩy ra sai sót, kể cả trong một số việc lớn, như đồng chí Bí thư Quận ủy Quận Bình Thạnh và đồng chí Chánh án Tòa án nhân dân Quận 10 đã khẳng định. Vì vậy, mặc dù thời gian thí điểm chưa nhiều, số lượng còn ít, nhưng hoạt động của các văn phòng Thừa phát lại đã thu được kết quả đáng khích lệ, được xã hội đón nhận, qua đó khẳng định được vị trí của mình trong đời sống pháp luật của Thành phố, cụ thể là tạo lập một nghề nghiệp mới trong thị trường cung cấp dịch vụ pháp lý, dịch vụ hành chính - tư pháp; hoạt động của Thừa phát lại đã đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội tích cực bước đầu, như giảm tải nhân lực, thời gian và chi phí của các cơ quan tòa án, thi hành án của Thành phố; tạo lập cơ chế pháp lý để tăng cường tính chủ động, tích cực công dân trong các quan hệ dân sự, tố tụng dân sự, hành chính. Những kết quả này là phù hợp với các mục tiêu cải cách hành chính, cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước.

Tuy nhiên, bên cạnh thành quả đã đạt được, việc thí điểm cũng đã gặp một số khó khăn, vướng mắc, bộc lộ một số tồn tại làm hạn chế kết quả đạt được. Tôi xin nhấn mạnh một số khó khăn, hạn chế cơ bản sau:

Một là, nhận thức của người dân và của các cơ quan, tổ chức về vấn đề này còn những hạn chế nhất định. Những hạn chế về nhận thức không những ảnh hưởng đến công tác phối hợp, chỉ đạo, điều hành của các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm triển khai thực hiện, mà còn hạn chế rất nhiều đến hiệu quả hoạt động của các văn phòng Thừa phát lại.

Hai là, pháp luật về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại bước đầu đã được xây dựng, song vẫn còn nhiều điểm cần sửa đổi, bổ sung, có điểm cần được giải thích rõ kể cả Nghị quyết của Quốc hội (ví dụ về chấm dứt thí điểm). Bên cạnh đó, một số quy định của pháp luật trong các lĩnh vực liên quan như tố tụng, thi hành án dân sự, bảo hiểm, ngân hàng… cũng chưa đồng bộ với các quy định về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại.

Ba là, quá trình triển khai thực hiện một số mặt còn chưa kịp thời, như việc chậm ban hành các Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành, việc thành lập và đi vào hoạt động của các văn phòng Thừa phát lại còn chậm so với yêu cầu về thời gian mà Nghị quyết Quốc hội đã đề ra. Bên cạnh đó, trong thời gian đầu, việc triển khai thực hiện các mặt công tác còn lúng túng, thiếu đồng bộ; công tác chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ có lúc, có việc chưa thực sự quyết liệt, còn chậm.

Bốn là, kết quả hoạt động của các văn phòng Thừa phát lại chưa đồng đều, trong đó, việc trực tiếp tổ chức thi hành án còn ít, chưa đáp ứng yêu cầu về xã hội hóa công tác này.

Năm là, việc triển khai thí điểm mới được thực hiện tại thành phố Hồ Chí Minh, chưa được nhân rộng đến các địa phương khác như Nghị quyết của Quốc hội đã xác định. Điều đó cũng làm hạn chế phần nào việc đánh giá một cách toàn diện mô hình này.

Những tồn tại, hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan.

Về khách quan, chế định Thừa phát lại là mới, do đó người dân, xã hội chưa biết nhiều, còn e ngại trong việc đón nhận mô hình này. Trong khi đó điều kiện kinh tế - xã hội, cơ chế trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước hiện hành cũng còn nhiều điểm chưa thực sự tạo điều kiện cho tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại. Các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại và liên quan còn nhiều hạn chế như đã nêu trên, dẫn đến việc cần phải tháo gỡ khi có cách hiểu khác nhau về mô hình đầy đủ và mô hình không đầy đủ của chế định Thừa phát lại.

Về chủ quan, trong quá trình thực hiện, một số cơ quan, tổ chức chưa nhận thức được một cách sâu sắc vai trò, ý nghĩa và trách nhiệm của mình trong việc thực hiện thí điểm; công tác phối hợp của các cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện còn chưa thực sự chặt chẽ, thống nhất, đặc biệt là việc phối hợp, hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức trong hoạt động Thừa phát lại, một số vướng mắc phát sinh, ví dụ cách hiểu về thời điểm thí điểm kết thúc chưa được tháo gỡ kịp thời, hay như chưa thí điểm được tại nơi khác. Bên cạnh đó, đội ngũ Thừa phát lại, thư ký và nhân viên giúp việc tại các văn phòng còn thiếu về số lượng, chất lượng không đồng đều, còn thiếu kỹ năng, kinh nghiệm trong giải quyết công việc, không ít trường hợp chưa đáp ứng yêu cầu về năng lực công tác.

Tóm lại, mặc dù còn một số hạn chế, tồn tại, song Hội nghị chúng ta đã đi đến thống nhất cao là về cơ bản việc thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết của Quốc hội đã được thực hiện nghiêm túc, bài bản và thành công. Hình ảnh Thừa phát lại bước đầu đã đi vào lòng dân và xã hội như người trợ thủ đắc lực trong công tác thi hành án dân sự và công tác tư pháp khác. Điều đáng mừng là, mặc dù việc thí điểm mới được thực hiện tại thành phố Hồ Chí Minh, nhưng trên cơ sở kết quả đã đạt được, rất nhiều địa phương, trong đó có thành phố Đà Nẵng, tỉnh Đồng Nai, tỉnh Bình Dương đã chính thức có văn bản đề xuất và chủ động xây dựng đề án thực hiện thí điểm mô hình này tại địa phương mình. Đây là cơ sở, tiền đề vững chắc để chúng ta đề nghị Quốc hội, Chính phủ cho phép thực hiện và mở rộng đến nhiều địa phương khác trong thời gian tới.

Vấn đề thứ hai: Từ tình hình, kết quả đạt được trong việc thí điểm chế định Thừa phát lại, Hội nghị chúng ta đã có được nhận thức chung trên một số vấn đề lớn còn vướng mắc, đồng thời nhất trí cao trong việc xác định định hướng để kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền cho phép tiếp tục thực hiện mô hình này trong phạm vi cả nước với lộ trình phù hợp

Thứ nhất, thống nhất nhận thức về thời điểm chấm dứt thực hiện thí điểm và kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao về thí điểm phải thực hiện mô hình đầy đủ.

Thứ hai, về định hướng trong thời gian tới, Hội nghị nhất trí cao đề xuất với Chính phủ, Quốc hội, Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp trung ương, Bộ Chính trị cho phép tiếp tục thực hiện mô hình Thừa phát lại, nhân rộng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phố khác, tiến tới luật hóa chế định này.

Để thực hiện định hướng này, cần thực hiện các công việc sau đây:

Trước mắt, cần tháo gỡ ngay vướng mắc trong nhận thức về việc thực hiện thí điểm sau ngày 01/07/2012, Bộ Tư pháp đã có các công văn gửi Tòa án nhân dân tối cao và gửi Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại sau ngày 01/07/2012, tới đây Bộ Tư pháp và Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tài chính sẽ họp liên ngành để thống nhất về hoạt động của các văn phòng Thừa phát lại tại thành phố Hồ Chí Minh sau ngày 1/7/2012; hoàn thiện Báo cáo tổng kết để báo cáo Chính phủ, Quốc hội, Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp trung ương, đặc biệt báo cáo Quốc hội ban hành Nghị quyết riêng về tiếp tục thực hiện mô hình Thừa phát lại (nghiên cứu mô hình đầy đủ, lấy kinh nghiệm từ Bulgari, Luật Công chứng ở Việt Nam), trên cơ sở đó kiến nghị Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009. Trong thời gian chờ hướng dẫn, đề nghị Tòa án nhân dân tối cao và Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh chỉ đạo các cơ quan có liên quan tiếp tục phối hợp với các văn phòng Thừa phát lại hoạt động bình thường.

Về lâu dài, nhất trí với kiến nghị của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh về việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (hiện đã có trong Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khóa XIII) hoặc ban hành Luật Thừa phát lại cùng thời điểm sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2008 cộng với việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính và các đạo luật có liên quan.

Để thực hiện các công việc nêu trên, tôi đề nghị Tổng cục Thi hành án dân sự, các đơn vị thuộc Bộ và Sở Tư pháp, Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh tổng hợp đầy đủ các vướng mắc, ý kiến nêu ra tại Hội nghị để nghiên cứu thấu đáo, đề xuất tháo gỡ trước mắt cũng như lâu dài.

Cuối cùng, nhân Hội nghị này, thay mặt Ban Cán sự và Lãnh đạo Bộ Tư pháp, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp trung ương, Lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các bộ, ngành Trung ương, đặc biệt là các đồng chí Lãnh đạo Thành uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh, cá nhân đồng chí Nguyễn Văn Đua – Phó Bí thư Thường trực Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua đã tích cực chỉ đạo, quan tâm phối hợp, tạo điều kiện để triển khai thực hiện chế định này; tôi cũng cảm ơn các phương tiện thông tin đại chúng đã quan tâm và đưa tin về Hội nghị. Đồng thời, mong muốn tiếp tục nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và phối hợp, tạo điều kiện nhiều hơn, hiệu quả hơn của các cơ quan, ban, ngành ở Trung ương và địa phương, của nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và cả nước.

Đặc biệt, cảm ơn Sở Tư pháp, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh, Quận ủy, Ủy ban nhân dân các quận, huyện đã giúp Bộ Tư pháp và Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh thực hiện việc thí điểm chế định Thừa phát lại; trân trọng sự hưởng ứng, tình cảm yêu ngành, yêu nghề, sự dũng cảm của các Thừa phát lại đầu tiên tại thành phố Hồ Chí Minh. Mong các vị yên tâm hoạt động nghề nghiệp, Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Đảng bộ, chính quyền, nhân dân thành phố Hồ Chí Minh luôn đứng sau các vị, ủng hộ, khuyến khích các vị, chờ mong những kết quả ngày càng tốt hơn của các vị. Chúc các vị thành công hơn nữa.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.

Theo dõi chúng tôi trên: