Thứ năm 15/10/2026 20:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực tiễn bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam và một số kiến nghị

Tóm tắt: Từ việc khái quát, phân tích thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam, bài viết đã kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam trong thời gian tới.

Tóm tắt: Từ việc khái quát, phân tích thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam, bài viết đã kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam trong thời gian tới.

Abstract: From the overviewing, analyzing the real situation of legal provisions and the imple mentation practice of voluntary social insurance in Vietnam, the paper recommends some solutions for improving implementation effect of voluntary social insurance in Vietnam in the next time.

1. Bảo hiểm xã hội tự nguyện theo pháp luật Việt Nam

Bảo hiểm xã hội là một trong những trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội ở mỗi quốc gia, là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ gặp phải những rủi ro trong cuộc sống, góp phần quan trọng trong việc bảo đảm sự ổn định của chính trị - xã hội, phát triển bền vững đất nước. Bên cạnh mô hình bảo hiểm xã hội bắt buộc, một số quốc gia còn xây dựng mô hình bảo hiểm xã hội tự nguyện, theo đó, bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà trong đó người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc có quyền tự quyết định tham gia bảo hiểm trên tinh thần tự nguyện. Theo Luật Bảo hiểm xã hộiViệt Nam, bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình[1].

Về đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện: Theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014[2], người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên và không thuộc các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Có thể hiểu, đối tượng chủ yếu mà bảo hiểm xã hội tự nguyện hướng tới là những người lao động thuộc khu vực phi chính thức, như những người buôn bán tự do, lao động nông thôn, lao động tự tạo việc làm… Ngoài ra, pháp luật Việt Nam cũng cho phép người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc nếu chưa đủ thời gian tham gia bảo hiểm xã hội thì chuyển sang tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện để hưởng trợ cấp hưu trí, tử tuất.

Về nguyên tắc thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện: Việc thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện cần phải tuân thủ các nguyên tắc nhất định, bao gồm các nguyên tắc chung của bảo hiểm xã hội như: (i) Mức hưởng được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội và có sự chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội; (ii) Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý thống nhất, công khai, minh bạch, được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần; (iii) Việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội. Bên cạnh đó, bảo hiểm xã hội tự nguyện còn có các nguyên tắc riêng, đó là: (i) Bảo hiểm xã hội tự nguyện được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của người tham gia; (ii) Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập tháng do người lao động lựa chọn - quy định này khác với bảo hiểm xã hội bắt buộc ở tính linh hoạt, cho phép người lao động chủ động hơn trong việc lựa chọn mức đóng của mình; (iii) Đảm bảo liên thông giữa bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện, bởi sự liên thông giữa hai loại hình bảo hiểm xã hội này nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tham gia khi họ vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Về mức đóng và phương thức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện: Hiện nay, theo Nghị định số 134/2015/NĐ-CP ngày 29/12/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội tự nguyện, người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện có nghĩa vụ đóng quỹ bảo hiểm, mức đóng 22% trên mức thu nhập tháng do người lao động lựa chọn, mức thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn (700 nghìn đồng/tháng) và cao nhất không quá 20% mức lương cơ sở. Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện có thể lựa chọn một trong các phương thức đóng: Đóng hàng tháng, đóng 03 tháng một lần, đóng 06 tháng một lần, đóng 12 tháng một lần, đóng một lần cho nhiều năm về sau nhưng không quá 05 năm một lần và đóng một lần cho những năm còn thiếu đối với người tham gia bảo hiểm xã hội đã đủ điều kiện về tuổi để hưởng lương hưu theo quy định nhưng thời gian đóng bảo hiểm xã hội còn thiếu không quá 10 năm (120 tháng) thì được đóng cho đủ 20 năm để hưởng lương hưu. Ngoài ra, người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện cũng được thay đổi phương thức đóng hoặc mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện. Việc thay đổi phương thức đóng hoặc mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được thực hiện ít nhất là sau khi thực hiện xong phương thức đóng đã chọn trước đó. Khác với bảo hiểm xã hội bắt buộc, người sử dụng lao động không phải đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Về các chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện: Các chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện được quy định dựa trên cơ sở nhu cầu chủ yếu của người lao động tham gia bảo hiểm do vậy không mang tính toàn diện như bảo hiểm xã hội bắt buộc. Hiện nay ở Việt Nam, bảo hiểm xã hội tự nguyện chỉ bao gồm hai chế độ là hưu trí và tử tuất được quy định từ Điều 72 đến Điều 81 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014. Điều kiện và mức hưởng trợ cấp hưu trí và tử tuất của bảo hiểm xã hội tự nguyện cũng tương đồng với bảo hiểm xã hội bắt buộc, tuy nhiên có một số điểm khác biệt như: Trong điều kiện về tuổi đời của người hưởng lương hưu trong loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện, Nhà nước chỉ quy định điều kiện chung cho nam và nữ là hết tuổi lao động mà không quy định các trường hợp nghỉ hưu trước khi đủ tuổi; chế độ trợ cấp mai táng thuộc loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện yêu cầu điều kiện về thời gian tham gia bảo hiểm trước khi chết là đủ 60 tháng trở lên; không có chế độ trợ cấp tuất hằng tháng cho bảo hiểm xã hội tự nguyện.

2. Thực tiễn thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam

Có thể nói, sự ra đời của bảo hiểm xã hội tự nguyện là hoàn toàn phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần giúp người lao động ổn định được cuộc sống, khắc phục được những khó khăn, rủi ro cho bản thân và gia đình khi về già hoặc khi không may qua đời. Mặt khác, việc chính sách bảo hiểm xã hội được thiết kế bao phủ toàn bộ đối tượng người lao động không thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đã tạo cơ hội cho mọi tầng lớp lao động trong xã hội đều được bảo vệ, tạo sự công bằng, bình đẳng trong xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế, hiệu quả mà bảo hiểm xã hội tự nguyện mang lại chưa thật sự rõ ràng. Mặc dù được triển khai từ năm 2008, nhưng đến nay, có thể thấy bảo hiểm xã hội tự nguyện chưa nhận được nhiều sự quan tâm của lao động trong khu vực phi chính thức, số lượng người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam còn rất thấp. Tính đến thời điểm cuối tháng 11 năm 2018, số lượng người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện ước tính là hơn 253.000 người, chiếm 0,6% tổng số lao động của khu vực phi chính thức và khoảng 0,49% lực lượng lao động và chủ yếu là những người đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, tiếp tục tham gia đủ năm để được hưởng lương hưu[3]. Theo Báo cáo mới nhất của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, tính đến tháng 3 năm 2019, số lượng người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là 295 nghìn người, trong khi số lượng lao động trong khu vực phi chính thức là khoảng 35 triệu lao động[4]. Điều này đồng nghĩa với việc hầu hết lao động ở khu vực phi chính thức vẫn nằm ngoài lưới an sinh xã hội và cho thấy chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện chưa tạo sự hấp dẫn, chưa tạo được sự lan tỏa và có sức thuyết phục thu hút sự quan tâm của người lao động và toàn xã hội. Nguyên nhân của thực trạng trên là:

Thứ nhất, như đã đề cập, đối tượng chủ yếu mà bảo hiểm xã hội tự nguyện hướng tới là lao động ở khu vực phi chính thức - những người lao động thường có chung đặc điểm là thu nhập bấp bênh, không tham gia vào các quan hệ lao động ổn định, dân trí thấp nên thường không có khoản dư tích lũy ổn định để tham gia bảo hiểm. Bởi vậy, mặc dù nhu cầu tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động để đảm bảo an sinh cho chính bản thân mình và gia đình là rất lớn, nhưng khả năng đóng góp lại hạn chế. Theo khoản 1 và khoản 5 Điều 12 Quyết định số 595/QĐ-BHXH, từ 01/01/2018 người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng theo tỷ lệ phần trăm (%) trên mức đóng BHXH hằng tháng theo mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn, cụ thể: 30% đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thuộc hộ nghèo; 25% đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thuộc hộ cận nghèo; 10% đối với các đối tượng khác. Với những nỗ lực đó của Nhà nước, số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đã tăng từ 240 nghìn người lên 295 nghìn người tính tới đầu năm 2019. Tuy nhiên, mức hỗ trợ này còn thấp, trong khi thu nhập của người lao động ở nông thôn chưa cao lại không ổn định, do vậy, khó có thể thúc đẩy tăng nhanh đối tượng tham gia, kể cả khi có hỗ trợ từ phía Nhà nước.

Thứ hai, xét về hiệu quả, bảo hiểm xã hội tự nguyện tỏ ra yếu thế, kém linh hoạt hơn so với các loại hình bảo hiểm thương mại khác. Thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện khá dài, mức đóng tối thiểu lại khá cao so với thu nhập của người lao động trong khu vực phi chính thức, trong khi đó, bảo hiểm xã hội tự nguyện lại không có đầy đủ các chế độ bảo hiểm như bảo hiểm xã hội bắt buộc. Cụ thể, người lao động phải đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện từ đủ 20 năm trở lên mới được hưởng chế độ hưu trí và tử tuất. Đây là một khoảng thời gian quá dài để chờ hưởng các chế độ hưu trí, tử tuất, trong khi người lao động còn rất quan tâm đến các chế độ hưởng ngắn hạn như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp thì bảo hiểm xã hội tự nguyện lại không quy định. Như vậy, xét trong tương quan so sánh với bảo hiểm xã hội bắt buộc, người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện phải đóng tới 22% mức thu nhập hàng tháng do người lao động lựa chọn, cao hơn 14% so với người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc (8%) chỉ để hưởng hai chế độ dài hạn. Chưa kể đến, điều kiện để hưởng chế độ hưu trí và tử tuất mặc dù có sự tương đồng với quy định trong bảo hiểm xã hội bắt buộc, tuy nhiên có một số điểm “siết chặt” hơn, gây khó khăn cho người lao động. Ngoài ra, phương thức đóng dành cho những người đủ tuổi nghỉ hưu nhưng số năm đóng bảo hiểm còn thiếu trên 10 năm là quá phức tạp, chưa tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người lao động, không có tính khuyến khích người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 134/2015/NĐ-CP, trường hợp người lao động đã đủ tuổi nghỉ hưu nhưng số năm đóng bảo hiểm còn thiếu trên 10 năm thì tiếp tục đóng theo một trong các phương thức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện thông thường cho đến khi thời gian đóng còn thiếu không quá 10 năm thì được đóng bảo hiểm một lần cho những năm còn lại. Bởi những hạn chế đó, người lao động nếu có đủ điều kiện về tài chính, cùng một số tiền bỏ ra, thay vì tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, người lao động còn có nhiều lựa chọn bảo hiểm thương mại khác với những chính sách ưu việt hơn, như mua bảo hiểm nhân thọ, người lao động sẽ được chi trả cả những rủi ro khác như tai nạn, ốm đau, bệnh tật…, đặc biệt, nếu có tử vong, thân nhân sẽ được thụ hưởng một số tiền tương đối lớn.

Thứ ba, thủ tục tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện còn phức tạp. Cần phải nhận định rõ rằng, đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện có nhiều đặc thù khác so với đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc (dân trí thấp hơn, điều kiện sống khó khăn hơn, khả năng tiếp cận thông tin thấp…), do đó, quy trình thủ tục đăng ký tham gia và giải quyết chế độ nếu rườm rà, phức tạp sẽ gây cản trở lớn tới việc mở rộng đối tượng tham gia.

Thứ tư, công tác truyền thông chưa chuyển tải rộng rãi những quy định về bảo hiểm xã hội tự nguyện (như điều kiện đóng, quyền lợi hưu trí…) chưa được quan tâm đúng mức, hiệu quả chưa cao. Nhận thức của người lao động về chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện còn mờ nhạt, phần lớn người lao động chưa biết rõ về loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện, đặc biệt là những người sinh sống ở các vùng nông thôn, miền núi. Khảo sát đối tượng lao động phi chính thức tại địa bàn Hà Nội và Nghệ An của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) vừa thực hiện cho thấy, có tới gần 62% người được hỏi chưa bao giờ nghe nói đến chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện[5]. Ngoài ra, chính quyền một số địa phương chưa thực sự quan tâm đến chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện chưa có sự tổng kết, đánh giá chỉ ra những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân chậm phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.

3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam

Tại Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương khoá XII đã ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội[6], xác định rõ mục tiêu tăng nhanh độ bao phủ của bảo hiểm xã hội, tiến tới bảo hiểm xã hội toàn dân, trong đó, trọng tâm là phát triển lao động trong khu vực phi chính thức - khu vực tiềm năng khai thác cho loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện. Để đạt được mục tiêu đó, cần phải thực hiện các giải pháp mang tính đồng bộ, toàn diện.

Thứ nhất, cần sửa đổi chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện nhằm thu hút nhiều người lao động tham gia hơn

Một là, cần nghiên cứu bổ sung các chế độ của bảo hiểm xã hội tự nguyện đầy đủ như bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Việc bổ sung thêm các chế độ bảo hiểm này nên được thực hiện theo lộ trình từng bước để hạn chế gây áp lực lên quỹ bảo hiểm xã hội, ưu tiên trước hết là chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, bởi rủi ro trong quá trình lao động luôn là những rủi ro thường trực, phổ biến nhất đối với người lao động. Khi các loại hình lao động ngày càng trở nên đa dạng, phức tạp, đòi hỏi yêu cầu về chuyên môn, kỹ thuật, sức khỏe cao thì những nguy cơ tiềm ẩn trong quá trình lao động ngày càng phổ biến, không chỉ đối với những lao động tham gia vào các quan hệ lao động ổn định mà cả những lao động trong khu vực phi chính thức. Vì vậy, bất cứ người lao động nào khi thực hiện công việc của mình cũng đều mong muốn được bảo đảm về mặt tài chính cho bản thân và gia đình khi gặp rủi ro tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, việc sớm bổ sung chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp vào bảo hiểm xã hội tự nguyện sẽ tạo tâm lý an tâm cho những người lao động trong khu vực phi chính thức, thu hút họ tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Hai là, cần đảm bảo tính liên thông giữa bảo hiểm xã hội bắt buộc với bảo hiểm xã hội tự nguyện nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng của những người lao động vừa có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, vừa có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Trên thực tế, pháp luật quy định thời gian tham gia bảo hiểm xã hội để hưởng chế độ hưu trí, tử tuất lại được tính bằng thời gian tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cộng với thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, nhưng điều kiện hưởng, mức hưởng của chế độ hưu trí và chế độ tử tuất giữa hai loại hình bảo hiểm này chưa tương thích với nhau, không đảm bảo được công bằng và lợi ích chính đáng cho người lao động trong trường hợp có sự chuyển đổi loại hình bảo hiểm. Vì những lý do đó, các quy định của bảo hiểm xã hội tự nguyện về điều kiện hưởng, mức hưởng… của chế độ hưu trí, tử tuất nên được điều chỉnh giống với các quy định trong bảo hiểm xã hội bắt buộc, như bổ sung quy định về trường hợp xét điều kiện hưởng lương hưu với mức thấp hơn mức đầy đủ, bỏ quy định về thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tối thiểu để hưởng trợ cấp mai táng, bổ sung quy định về trợ cấp tuất hàng tháng, bổ sung quy định về mức trợ cấp tuất tối thiểu trong trường hợp người lao động đang hưởng lương hưu chết…

Ba là, về phương thức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện, pháp luật nên quy định theo hướng cho phép người lao động đến tuổi nghỉ hưu nhưng chưa đủ số năm đóng bảo hiểm xã hội đóng một lần cho số năm còn thiếu, kể cả trường hợp thiếu hơn 10 năm. Với phương thức đóng phí như vậy cần có những tính toán cụ thể có tính đến các yếu tố về lãi suất, lạm phát… để đảm bảo mức phí phù hợp, tổng số phí đóng góp theo các phương thức phải tương đương để đảm bảo bình đẳng quyền lợi cho người tham gia. Việc cho phép đóng phí một lần sẽ đơn giản hóa thủ tục, tạo thuận lợi hơn cho người lao động hưởng các chế độ bảo hiểm.

Thứ hai, khắc phục những bất cập trong việc tổ chức, triển khai chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện

Để bảo hiểm xã hội tự nguyện thực sự đi vào đời sống của người dân, các cơ quan chức năng, bộ, ban, ngành cần vận động và tuyên truyền sâu rộng hơn nữa tới các tầng lớp nhân dân về tầm quan trọng của bảo hiểm xã hội tự nguyện, lợi ích khi tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Đặc biệt, nên phân nhóm đối tượng để lựa chọn hình thức tuyên truyền hiệu quả hơn. Nhu cầu tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động sẽ tăng nếu như họ tiếp cận được nhiều thông tin về chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện. Người lao động chỉ có thể sẵn sàng tham gia khi họ hiểu rõ, hiểu đầy đủ về loại hình bảo hiểm này. Bên cạnh đó, quy trình, thủ tục tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện cần được đơn giản hóa bởi đối tượng mà bảo hiểm xã hội tự nguyện hướng tới phần lớn là những người có hoàn cảnh sống khó khăn, điều kiện đi lại không thuận tiện, dân trí thấp, do đó bảo hiểm xã hội phải xác định người lao động là trung tâm, coi họ là đối tượng phục vụ, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để người lao động có thể dễ dàng tiếp cận được các chính sách của mình. Ngoài ra, các hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm đảm bảo các hoạt động bảo hiểm xã hội tự nguyện đúng với quy định của pháp luật cũng cần được tăng cường, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, kịp thời phát hiện sai phạm của đội ngũ nhân viên để có những biện pháp chấn chỉnh và xử lý kịp thời, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người lao động.

Thứ ba, phát triển kinh tế - xã hội, tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao khả năng đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện

Một hệ thống an sinh xã hội nói chung và bảo hiểm xã hội nói riêng có thể phát triển một cách bền vững, cần phải có một nền tảng kinh tế đủ mạnh. Thực tế, mức thu nhập hiện nay của lao động phi chính thức chỉ đủ để trang trải cuộc sống hiện tại và rất khó khăn trong việc dành chi phí để tham gia bảo hiểm dự phòng cho tương lai. Do đó, để thu hút được nhiều người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, Nhà nước không chỉ hỗ trợ mức đóng bảo hiểm xã hội, mà còn cần hỗ trợ họ sớm ổn định kinh tế gia đình, thông qua quá trình lao động và làm việc với các chính sách khuyến nông, hỗ trợ đào tạo nghề, nâng cao chất lượng lao động, khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước, tạo thêm việc làm và thu nhập cho người dân…

Với mục tiêu hướng tới đảm bảo đời sống ổn định cho đại bộ phận người dân không nằm trong nhóm tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, có thể thấy tiềm năng phát triển của bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam là rất to lớn. Chính sách này nếu được thực hiện có hiệu quả sẽ góp phần quan trọng trong việc ổn định đời sống cho hàng triệu người dân lao động, ổn định xã hội, hạn chế phân hoá xã hội trong nền kinh tế thị trường và là một bước tiến mới trong việc thực hiện xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

ThS. Nguyễn Vân Trang

Khoa Luật, Đại học Sài Gòn





[1]. Khoản 3 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.

[2]. Khoản 4 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.

[3]. http://www.nhandan.com.vn/xahoi/item/38560602-van-it-nguoi-tham-gia-bao-hiem-xa-hoi-tu-nguyen.html.

[4]. http://tuyengiao.vn/bao-hiem-xa-hoi/phat-trien-bhxh-phi-chinh-thuc-van-giam-chan-tai-cho-120129.

[5]. http://kinhtedothi.vn/giao-chi-tieu-phat-trien-doi-tuong-bhxh-tu-nguyen-299838.html.

[6]. Xem thêm phần Quan điểm chỉ đạo và mục tiêu của Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: