Thứ sáu 16/01/2026 00:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực tiễn xử lý kỷ luật lao động sa thải

Thực tiễn xử lý kỷ luật lao động sa thải

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật lao động sa thải theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019, đồng thời, chỉ ra một số bất cập trong thực tiễn áp dụng để đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật.

Abstract: The article researches and analyzes the legal provisions on disciplining employees who are laid off in accordance with the provisions of the Labor Code of 2019, and at the same time, points out a number of inadequacies in application practice to propose solution the completion of the law.

1. Các trường hợp bị áp dụng hình thức xử lý kỷ luật lao động sa thải theo quy định của Bộ luật Lao động

Theo quy định tại Điều 125 Bộ luật Lao động năm 2019, các hành vi bị xử lý kỷ luật lao động sa thải bao gồm: (i) Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc; (ii) Người lao động có hành vi tiết lộ bí mật công nghệ kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người lao động hoặc quấy rối tình dục tại nơi làm việc được quy định trong nội quy lao động; (iii) Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật; (iv) Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.

Như vậy, so với Bộ luật Lao động năm 2012 quy định các trường hợp bị áp dụng hình thức xử lý kỷ luật lao động gồm có 03 nhóm hành vi[1], thì Bộ luật Lao động năm 2019 chia thành 04 nhóm hành vi bị áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải (tách các hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc thành một điều khoản riêng)[2] và bổ sung thêm hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc đồng thời quy định rõ về khoảng thời gian của hành vi tự ý bỏ việc (là 05 ngày cộng dồn trong vòng 30 ngày và 20 ngày cộng dồn trong vòng 365 ngày thay vì 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng và 20 ngày cộng dồn trong 01 năm như bộ luật trước đó)[3].

Thứ nhất, người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc.

Khi người lao động có một trong các hành vi vi phạm như trộm cắp, tham ô, đánh bạc... tại nơi làm việc thì người sử dụng lao động có căn cứ áp để áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải. Quy định này không bắt buộc là phải có hậu quả xảy ra (thiệt hại do hành vi vi phạm kỷ luật của người lao động gây ra) mà chỉ cần người lao động có hành vi là đủ điều kiện để áp dụng hình thức kỷ luật. Tuy nhiên, nếu như trong nội quy lao động của doanh nghiệp có quy định cụ thể về thiệt hại xảy ra mới áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải thì việc xử lý kỷ luật sẽ thực hiện theo nội quy của doanh nghiệp đó.

Vấn đề đặt ra trong thực tiễn của trường hợp này là: Các hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy là những hành vi được quy định trong lĩnh vực pháp luật chuyên ngành khác (luật hình sự, luật hành chính) và để khẳng định người lao động có một trong các hành vi nói trên hay không thì phải có sự kết luận của cơ quan chức năng có thẩm quyền (Cơ quan cảnh sát điều tra), khi đó người sử dụng mới có cơ sở để áp dụng xử lý kỷ luật sa thải. Nhưng, nếu như trong trường hợp người lao động có hành vi vi phạm kỷ luật và bản thân người lao động đã thừa nhận thì người sử dụng lao động có cơ sở để xử lý kỷ luật lao động ngay hay phải đợi có kết luận của cơ quan chức năng có thẩm quyền rồi mới được tiến hành?. Vấn đề này pháp luật cũng chưa có quy định cụ thể.

Thứ hai, người lao động có hành vi tiết lộ bí mật công nghệ kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người lao động hoặc quấy rối tình dục tại nơi làm việc được quy định trong nội quy lao động.

Bí mật công nghệ kinh doanh, bí mật công nghệ, quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động là một trong những bộ phận cấu thành nên tài sản của doanh nghiệp (tài sản vô hình)[4], có giá trị vô cùng quan trọng, thậm chí nó còn quyết định đến vận mệnh sống còn của doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh có nhiều biến động về cạnh tranh như hiện nay, nên việc bí mật công nghệ kinh doanh... nếu bị tiết lộ, xâm phạm sẽ gây tổn thất vô cùng to lớn cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, hành vi của người lao động gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản cho người sử dụng lao động sẽ tác động tiêu cực và ảnh hưởng xấu tới quá trình sản xuất kinh doanh của người sử dụng lao động. Còn đối với hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc, như đã đề cập trước đó, hành vi này không những gây tổn thương, xâm phạm về nhân phẩm cho người lao động mà còn ảnh hưởng chung đến trật tự trong môi trường làm việc, trái với đạo đức xã hội nên việc pháp luật quy định các hành vi này để xem xét áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải là hoàn toàn hợp lý.

Vấn đề đặt ra trong thực tiễn, đối với “bí mật công nghệ”, pháp luật hiện nay chưa có quy định cụ thể về khái niệm này, chỉ có các quy định về “bí quyết”, “công nghệ”, bí quyết công nghệ, bí quyết kỹ thuật theo Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017. Do đó, nếu muốn sa thải người lao động vì cho rằng họ đã tiết lộ bí mật công nghệ, thì doanh nghiệp cần phải lưu ý về khả năng chứng minh trong trường hợp này là không khả thi. Do không có cơ sở để đối chiếu, so sánh, kết luận rằng thông tin bị tiết lộ có phải là bí mật công nghệ hay không. Đây cũng là một vướng mắc mà doanh nghiệp sẽ đối mặt nếu sau này phải giải quyết tranh chấp bằng con đường tố tụng tại Tòa án[5].

Thứ ba, người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật.

Mặc dù pháp luật không quy định cụ thể người lao động khi vi phạm hành vi nào, mức độ ra sao thì sẽ bị áp dụng hình thức kéo dài thời hạn nâng lương, cách chức mà nội dung này để cho người sử dụng lao động được quyền quy định. Tuy nhiên, từ thực tế cho thấy những người lao động bị áp dụng hình thức kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức thường là những trường hợp có hành vi vi phạm kỷ luật tương đối nghiêm trọng. Việc đặt ra thời gian xóa kỷ luật lao động nhằm để người sử dụng lao động thử thách người lao động, đồng thời cũng thông qua thời gian này người lao động có cơ hội chứng minh cho người sử dụng lao động thấy về việc tu dưỡng, rèn luyện, khắc phục những vi phạm của bản thân. Nhưng trong chính thời gian thử thách đó, người lao động lại tiếp tục tái phạm thì chứng tỏ người lao động không có ý chí sửa đổi những vi phạm mà mình đã mắc phải. Vì vậy, việc áp dụng hình thức kỷ luật sa thải trong trường hợp này là hợp lý.

Vấn đề đặt ra trong thực tiễn, mặc dù Bộ luật Lao động năm 2019 đã đưa ra quy định như thế nào là hành vi tái phạm nhằm khắc phục hạn chế của Bộ luật Lao động năm 2012. Tuy nhiên, việc xác định hành vi “tái phạm” theo Bộ luật Lao động năm 2019 chỉ căn cứ vào hành vi tuy dễ nhận diện nhưng lại mang tính “máy móc” và trong nhiều trường hợp chưa hợp lý. Bởi vì, trong nhiều trường hợp trong thời gian chấp hành kỷ luật ở hình thức kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức, người lao động lại có hành vi vi phạm ở mức tương đương thậm chí nghiêm trọng hơn (nặng hơn) nhưng lại không phải là lặp lại đúng hành vi vi phạm thì cũng sẽ không bị sa thải[6].

Thứ tư, người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.

Đây là trường hợp pháp luật cho phép người sử dụng lao động sa thải người lao động vì sự vô ý thức, vô tổ chức của người lao động. Người lao động đã tự ý bỏ việc không có lý do chính đáng trong một thời gian nhất định. Điều này đã làm ảnh hưởng đến trật tự trong doanh nghiệp, ý thức chấp hành kỷ luật của người lao động và hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, để áp dụng xử lý kỷ luật sa thải đối với hành vi này trong thực tiễn, người sử dụng lao động cần lưu ý đến hai vấn đề: (i) Người lao động tự ý bỏ việc phải đúng số ngày do luật định; (ii) Người lao động nghỉ việc không có lý do chính đáng, tức là những lý do không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 125 Bộ luật Lao động năm 2019[7].

2. Một số kiến nghị

Thứ nhất, pháp luật cần quy định rõ trong trường hợp người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc (hành vi này đã được mô tả trong nội quy lao động) mà người lao động đã thừa nhận thì người sử dụng lao động có được xử lý kỷ luật sa thải hay không, hay phải chờ kết luận của cơ quan chức năng có thẩm quyền.

Thứ hai, pháp luật cần quy định rõ như thế nào là “bí mật công nghệ” để làm căn cứ thuận lợi cho người sử dụng lao động áp dụng trong thực tiễn khi xử lý kỷ luật sa thải người lao động với hành vi tiết lộ vi tiết lộ bí mật công nghệ kinh doanh, bí mật công nghệ để tránh trường hợp xảy ra tranh chấp khi giải quyết tại Tòa án, đồng thời, cũng thuận lợi cho các cơ quan thực thi pháp luật khi giải quyết tranh chấp.

Thứ ba, cần xem xét trường hợp trong thời gian chấp hành kỷ luật ở hình thức kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức, người lao động lại có hành vi vi phạm ở mức tương đương hoặc nghiêm trọng hơn (nặng hơn) thì có thể xem xét để áp dụng kỷ luật sa thải hay không.

ThS. Tô Duy Khâm

Giảng viên Phân hiệu Trường Đại học Luật Hà Nội tại tỉnh Đắk Lắk

[1]. Xem: Điều 126 Bộ luật Lao động năm 2012.

[2]. Việc Bộ luật Lao động tách riêng các hành vi này thành một điều khoản riêng và không buộc quy định trong nội quy lao động sẽ tạo điều kiện để người sử dụng lao động có thể căn cứ vào pháp luật để xử lý kỷ luật mà không cần phải căn cứ vào nội quy lao động.

[3]. Xem: Khoản 3 Điều 126 Bộ luật Lao động năm 2012 và khoản 4 Điều 125 Bộ luật Lao động năm 2019.

[4]. Thông tư số 06/2014/TT-BTC ngày 07/01/2014 của Bộ Tài chính ban hành Tiêu chuẩn thẩm định giá số 13.

[5]. TS. Đào Mộng Điệp (chủ biên). Trường Đại học Luật, Đại học Huế. Bình luận khoa học một số nội dung cơ bản của Bộ luật Lao động năm 2019. Nxb. Công an nhân dân, năm 2021, tr. 240.

[6]. PGS.TS. Nguyễn Hữu Chí và TS. Nguyễn Văn Bình (đồng chủ biên). Bình luận khoa học Bộ luật Lao động năm 2019. Nxb. Tư pháp, năm 2021, tr. 328.

[7]. Trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm thiên tai, hỏa hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 382), tháng 6/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: