Thứ tư 15/07/2026 19:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực tiễn xử lý kỷ luật lao động sa thải

Thực tiễn xử lý kỷ luật lao động sa thải

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật lao động sa thải theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019, đồng thời, chỉ ra một số bất cập trong thực tiễn áp dụng để đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật.

Abstract: The article researches and analyzes the legal provisions on disciplining employees who are laid off in accordance with the provisions of the Labor Code of 2019, and at the same time, points out a number of inadequacies in application practice to propose solution the completion of the law.

1. Các trường hợp bị áp dụng hình thức xử lý kỷ luật lao động sa thải theo quy định của Bộ luật Lao động

Theo quy định tại Điều 125 Bộ luật Lao động năm 2019, các hành vi bị xử lý kỷ luật lao động sa thải bao gồm: (i) Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc; (ii) Người lao động có hành vi tiết lộ bí mật công nghệ kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người lao động hoặc quấy rối tình dục tại nơi làm việc được quy định trong nội quy lao động; (iii) Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật; (iv) Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.

Như vậy, so với Bộ luật Lao động năm 2012 quy định các trường hợp bị áp dụng hình thức xử lý kỷ luật lao động gồm có 03 nhóm hành vi[1], thì Bộ luật Lao động năm 2019 chia thành 04 nhóm hành vi bị áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải (tách các hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc thành một điều khoản riêng)[2] và bổ sung thêm hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc đồng thời quy định rõ về khoảng thời gian của hành vi tự ý bỏ việc (là 05 ngày cộng dồn trong vòng 30 ngày và 20 ngày cộng dồn trong vòng 365 ngày thay vì 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng và 20 ngày cộng dồn trong 01 năm như bộ luật trước đó)[3].

Thứ nhất, người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc.

Khi người lao động có một trong các hành vi vi phạm như trộm cắp, tham ô, đánh bạc... tại nơi làm việc thì người sử dụng lao động có căn cứ áp để áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải. Quy định này không bắt buộc là phải có hậu quả xảy ra (thiệt hại do hành vi vi phạm kỷ luật của người lao động gây ra) mà chỉ cần người lao động có hành vi là đủ điều kiện để áp dụng hình thức kỷ luật. Tuy nhiên, nếu như trong nội quy lao động của doanh nghiệp có quy định cụ thể về thiệt hại xảy ra mới áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải thì việc xử lý kỷ luật sẽ thực hiện theo nội quy của doanh nghiệp đó.

Vấn đề đặt ra trong thực tiễn của trường hợp này là: Các hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy là những hành vi được quy định trong lĩnh vực pháp luật chuyên ngành khác (luật hình sự, luật hành chính) và để khẳng định người lao động có một trong các hành vi nói trên hay không thì phải có sự kết luận của cơ quan chức năng có thẩm quyền (Cơ quan cảnh sát điều tra), khi đó người sử dụng mới có cơ sở để áp dụng xử lý kỷ luật sa thải. Nhưng, nếu như trong trường hợp người lao động có hành vi vi phạm kỷ luật và bản thân người lao động đã thừa nhận thì người sử dụng lao động có cơ sở để xử lý kỷ luật lao động ngay hay phải đợi có kết luận của cơ quan chức năng có thẩm quyền rồi mới được tiến hành?. Vấn đề này pháp luật cũng chưa có quy định cụ thể.

Thứ hai, người lao động có hành vi tiết lộ bí mật công nghệ kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người lao động hoặc quấy rối tình dục tại nơi làm việc được quy định trong nội quy lao động.

Bí mật công nghệ kinh doanh, bí mật công nghệ, quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động là một trong những bộ phận cấu thành nên tài sản của doanh nghiệp (tài sản vô hình)[4], có giá trị vô cùng quan trọng, thậm chí nó còn quyết định đến vận mệnh sống còn của doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh có nhiều biến động về cạnh tranh như hiện nay, nên việc bí mật công nghệ kinh doanh... nếu bị tiết lộ, xâm phạm sẽ gây tổn thất vô cùng to lớn cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, hành vi của người lao động gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản cho người sử dụng lao động sẽ tác động tiêu cực và ảnh hưởng xấu tới quá trình sản xuất kinh doanh của người sử dụng lao động. Còn đối với hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc, như đã đề cập trước đó, hành vi này không những gây tổn thương, xâm phạm về nhân phẩm cho người lao động mà còn ảnh hưởng chung đến trật tự trong môi trường làm việc, trái với đạo đức xã hội nên việc pháp luật quy định các hành vi này để xem xét áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải là hoàn toàn hợp lý.

Vấn đề đặt ra trong thực tiễn, đối với “bí mật công nghệ”, pháp luật hiện nay chưa có quy định cụ thể về khái niệm này, chỉ có các quy định về “bí quyết”, “công nghệ”, bí quyết công nghệ, bí quyết kỹ thuật theo Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017. Do đó, nếu muốn sa thải người lao động vì cho rằng họ đã tiết lộ bí mật công nghệ, thì doanh nghiệp cần phải lưu ý về khả năng chứng minh trong trường hợp này là không khả thi. Do không có cơ sở để đối chiếu, so sánh, kết luận rằng thông tin bị tiết lộ có phải là bí mật công nghệ hay không. Đây cũng là một vướng mắc mà doanh nghiệp sẽ đối mặt nếu sau này phải giải quyết tranh chấp bằng con đường tố tụng tại Tòa án[5].

Thứ ba, người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật.

Mặc dù pháp luật không quy định cụ thể người lao động khi vi phạm hành vi nào, mức độ ra sao thì sẽ bị áp dụng hình thức kéo dài thời hạn nâng lương, cách chức mà nội dung này để cho người sử dụng lao động được quyền quy định. Tuy nhiên, từ thực tế cho thấy những người lao động bị áp dụng hình thức kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức thường là những trường hợp có hành vi vi phạm kỷ luật tương đối nghiêm trọng. Việc đặt ra thời gian xóa kỷ luật lao động nhằm để người sử dụng lao động thử thách người lao động, đồng thời cũng thông qua thời gian này người lao động có cơ hội chứng minh cho người sử dụng lao động thấy về việc tu dưỡng, rèn luyện, khắc phục những vi phạm của bản thân. Nhưng trong chính thời gian thử thách đó, người lao động lại tiếp tục tái phạm thì chứng tỏ người lao động không có ý chí sửa đổi những vi phạm mà mình đã mắc phải. Vì vậy, việc áp dụng hình thức kỷ luật sa thải trong trường hợp này là hợp lý.

Vấn đề đặt ra trong thực tiễn, mặc dù Bộ luật Lao động năm 2019 đã đưa ra quy định như thế nào là hành vi tái phạm nhằm khắc phục hạn chế của Bộ luật Lao động năm 2012. Tuy nhiên, việc xác định hành vi “tái phạm” theo Bộ luật Lao động năm 2019 chỉ căn cứ vào hành vi tuy dễ nhận diện nhưng lại mang tính “máy móc” và trong nhiều trường hợp chưa hợp lý. Bởi vì, trong nhiều trường hợp trong thời gian chấp hành kỷ luật ở hình thức kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức, người lao động lại có hành vi vi phạm ở mức tương đương thậm chí nghiêm trọng hơn (nặng hơn) nhưng lại không phải là lặp lại đúng hành vi vi phạm thì cũng sẽ không bị sa thải[6].

Thứ tư, người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.

Đây là trường hợp pháp luật cho phép người sử dụng lao động sa thải người lao động vì sự vô ý thức, vô tổ chức của người lao động. Người lao động đã tự ý bỏ việc không có lý do chính đáng trong một thời gian nhất định. Điều này đã làm ảnh hưởng đến trật tự trong doanh nghiệp, ý thức chấp hành kỷ luật của người lao động và hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, để áp dụng xử lý kỷ luật sa thải đối với hành vi này trong thực tiễn, người sử dụng lao động cần lưu ý đến hai vấn đề: (i) Người lao động tự ý bỏ việc phải đúng số ngày do luật định; (ii) Người lao động nghỉ việc không có lý do chính đáng, tức là những lý do không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 125 Bộ luật Lao động năm 2019[7].

2. Một số kiến nghị

Thứ nhất, pháp luật cần quy định rõ trong trường hợp người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc (hành vi này đã được mô tả trong nội quy lao động) mà người lao động đã thừa nhận thì người sử dụng lao động có được xử lý kỷ luật sa thải hay không, hay phải chờ kết luận của cơ quan chức năng có thẩm quyền.

Thứ hai, pháp luật cần quy định rõ như thế nào là “bí mật công nghệ” để làm căn cứ thuận lợi cho người sử dụng lao động áp dụng trong thực tiễn khi xử lý kỷ luật sa thải người lao động với hành vi tiết lộ vi tiết lộ bí mật công nghệ kinh doanh, bí mật công nghệ để tránh trường hợp xảy ra tranh chấp khi giải quyết tại Tòa án, đồng thời, cũng thuận lợi cho các cơ quan thực thi pháp luật khi giải quyết tranh chấp.

Thứ ba, cần xem xét trường hợp trong thời gian chấp hành kỷ luật ở hình thức kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức, người lao động lại có hành vi vi phạm ở mức tương đương hoặc nghiêm trọng hơn (nặng hơn) thì có thể xem xét để áp dụng kỷ luật sa thải hay không.

ThS. Tô Duy Khâm

Giảng viên Phân hiệu Trường Đại học Luật Hà Nội tại tỉnh Đắk Lắk

[1]. Xem: Điều 126 Bộ luật Lao động năm 2012.

[2]. Việc Bộ luật Lao động tách riêng các hành vi này thành một điều khoản riêng và không buộc quy định trong nội quy lao động sẽ tạo điều kiện để người sử dụng lao động có thể căn cứ vào pháp luật để xử lý kỷ luật mà không cần phải căn cứ vào nội quy lao động.

[3]. Xem: Khoản 3 Điều 126 Bộ luật Lao động năm 2012 và khoản 4 Điều 125 Bộ luật Lao động năm 2019.

[4]. Thông tư số 06/2014/TT-BTC ngày 07/01/2014 của Bộ Tài chính ban hành Tiêu chuẩn thẩm định giá số 13.

[5]. TS. Đào Mộng Điệp (chủ biên). Trường Đại học Luật, Đại học Huế. Bình luận khoa học một số nội dung cơ bản của Bộ luật Lao động năm 2019. Nxb. Công an nhân dân, năm 2021, tr. 240.

[6]. PGS.TS. Nguyễn Hữu Chí và TS. Nguyễn Văn Bình (đồng chủ biên). Bình luận khoa học Bộ luật Lao động năm 2019. Nxb. Tư pháp, năm 2021, tr. 328.

[7]. Trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm thiên tai, hỏa hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 382), tháng 6/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.

Theo dõi chúng tôi trên: