Thứ năm 22/01/2026 18:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng pháp luật về khiếu nại, tố cáo vượt cấp trong lĩnh vực đất đai ở Việt Nam hiện nay

Bài viết này phân tích một số bất cập trong các quy định và thực hiện pháp luật khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai, từ đó đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo về vấn đề này trên thực tiễn.


1. Thực trạng khiếu nại, tố cáo vượt cấp trong lĩnh vực đất đai ở Việt Nam

Có thể thấy, dưới giác độ pháp lý, việc cá nhân, tổ chức thực hiện quyền khiếu nại[1], tố cáo[2] các quyết định hành chính, hành vi hành chính được pháp luật quy định theo một trình tự, thủ tục, thẩm quyền chặt chẽ với từng cấp từ thấp đến cao. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm, thay vì người khiếu nại, tố cáo phải gửi đơn đến đúng chủ thể có thẩm quyền để giải quyết thì lại gửi đơn vượt cấp lên cấp trên của chủ thể này. Pháp luật quy định về quyền khiếu nại, tố cáo là một hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý. Tuy nhiên, nếu khiếu nại, tố cáo vượt cấp kéo dài thì các quyền này sẽ không thể được bảo đảm, đồng thời ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, quyền con người trong trật tự nhà nước pháp quyền.

Trong lĩnh vực đất đai, pháp luật đất đai hiện hành xác định, Nhà nước tham gia quan hệ pháp luật đất đai với hai tư cách chủ đạo: (i) Nhà nước là đại diện chủ sở hữu toàn dân nên Nhà nước có quyền thay mặt nhân dân để thực hiện các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt về đất đai như: Có quyền giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, quy định về giá đất, tài chính liên quan đến đất, thời hạn sử dụng đất, hạn mức giao đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp…; (ii) Với tư cách là tổ chức quyền lực công cộng được nhân dân ủy quyền, Nhà nước có trách nhiệm thống nhất quản lý đất đai trong phạm vi cả nước như: Nhà nước tổ chức đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thanh tra, kiểm tra phát hiện xử lý, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai... Nhà nước chuyển giao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất và thừa nhận người sử dụng đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, cho thuê, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, hòa giải các tranh chấp đất đai… Để thực hiện các quyền này của Nhà nước cũng như người sử dụng đất, Nhà nước ban hành các quy định liên quan đến từng nội dung quản lý từ thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn thực hiện đến vấn đề tài chính liên quan.



Khi quyền là lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất bị xâm phạm bởi các quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính từ phía Nhà nước, thì tùy từng trường hợp, người sử dụng đất có quyền khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện các hành vi/quyết định đó. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo được quy định cụ thể trong Luật Khiếu nại năm 2011, Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo năm 2011 và Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tố cáo. Theo Luật Khiếu nại năm 2011 thì trình tự khiếu nại phải từ thấp đến cao, khiếu nại lần đầu đến chính cơ quan, chủ thể ban hành ra quyết định hành chính, hành vi hành chính (Điều 7); hình thức khiếu nại được thực hiện bằng đơn khiếu nại hoặc khiếu nại trực tiếp (Điều 8); thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính (Điều 9)… Luật Tố cáo năm 2011 quy định cụ thể về nguyên tắc giải quyết tố cáo, theo đó, việc giải quyết tố cáo phải kịp thời, chính xác, khách quan, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và thời hạn theo quy định pháp luật; bảo đảm an toàn cho người tố cáo; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo trong quá trình giải quyết tố cáo (Điều 4); thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo được quy định từ Điều 12 đến Điều 17… Về thủ tục khởi kiện tranh chấp về quyền sử dụng đất, Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 quy định, tranh chấp đất đai dù có giấy tờ về quyền sử dụng đất hay không, các bên vẫn đều phải bắt buộc hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nếu hòa giải không thành thì tùy trường hợp: Trường hợp đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc giấy tờ hợp pháp khác theo quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 thì sẽ do Tòa án nhân dân giải quyết; còn nếu tranh chấp mà đương sự không có một trong các giấy tờ trên thì có quyền giải quyết tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền hoặc khởi kiện ra Tòa án theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015… Đây là cơ sở pháp lý đặc biệt quan trọng trong thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện của cá nhân, tổ chức. Vì vậy, việc thực hiện khiếu nại, tố cáo, khởi kiện cần phải tuân thủ các quy định pháp luật về vấn đề này. Tuy nhiên, thực tiễn, cá nhân, tổ chức khi thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện và thậm chí cán bộ, công chức giải quyết khiếu nại, tố cáo có thể cũng thực hiện sai dẫn tới người dân khiếu nại, tố cáo, khởi kiện vượt cấp.

Theo số liệu thống kê về thực tiễn giải quyết khiếu nại, tố cáo, khởi kiện cho thấy, trong tổng số đơn khiếu nại thì đơn vượt cấp, sai thẩm quyền, không đúng nội dung... chiếm đa số và chủ yếu là liên quan đến lĩnh vực đất đai, áp giá bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư…, tình trạng này tiếp tục có chiều hướng gia tăng. Như vậy, công tác quản lý nhà nước và việc tổ chức thực hiện chính sách pháp luật về đất đai còn nhiều bất cập; chất lượng công tác giải quyết khiếu nại còn hạn chế, vi phạm quy định pháp luật về quy trình, thủ tục, thời hiệu, thời hạn và áp dụng pháp luật để giải quyết[3].

Khiếu kiện, khiếu nại, tố cáo vượt cấp gây ra rất nhiều vấn đề về chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, trật tự. Về chính trị, nó ảnh hưởng đến quyền được tiếp cận công lý của người dân, đến niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào chính quyền, đặc biệt là chính quyền cấp cơ sở. Về kinh tế, phần lớn trường hợp vượt cấp này là những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, hiểu biết về các quy định pháp luật còn hạn chế, thực hiện khiếu kiện, khiếu nại vượt cấp trong thời gian dài khiến họ ngày càng bị bần cùng hóa… Về xã hội, khiếu kiện, khiếu nại, tố cáo vượt cấp không được giải quyết dẫn đến người dân có cảm giác bị đẩy ra rìa xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của họ không được giải quyết kịp thời, không được tôn trọng, gây ra bất mãn xã hội ngày càng tăng. Bên cạnh đó, khiếu kiện, khiếu nại vượt cấp không được giải quyết hiệu quả thường diễn ra trong thời gian dài và tụ tập đông người dẫn tới mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội…

Những tồn tại này là do nhiều nguyên nhân, nhưng theo tác giả thì có một số nguyên nhân chủ yếu sau:

Thứ nhất, quy định pháp luật, bao gồm cả pháp luật đất đai cũng như trong Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan còn nhiều hạn chế, thiếu sót, chưa đáp ứng được các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền đặt ra với pháp luật (tính toàn diện, thống nhất, công khai, minh bạch, khả thi, hiệu quả, dễ hiểu, dễ tiếp cận, nhanh chóng, kịp thời, chi phí thực hiện thấp, sự hài lòng của người dân…) dẫn tới khó khăn trong việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của người dân trên thực tiễn.

Về các quy định của luật nội dung như: Luật Đất đai năm 2013, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai…, các văn bản này quy định quá nhiều loại thủ tục, với thẩm quyền, trình tự, thời hạn, chi phí thực hiện chưa rõ ràng, chưa đảm bảo tính công khai, minh bạch, dễ hiểu làm cho cá nhân, tổ chức rất khó khăn khi tiếp cận thực hiện quyền của mình. Ví dụ: Về thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu với cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có sự không giống nhau; quy định tranh chấp đất đai hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã là bắt buộc, nhưng khi hòa giải thành, các bên không thực hiện thì cơ chế giải quyết vẫn chưa đảm bảo tính hiệu quả, hơn nữa, chưa có cơ chế để Ủy ban nhân dân cấp xã thật sự coi việc hòa giải không chỉ là việc làm cho xong, mà cần thực hiện hòa giải trên tinh thần thiện chí thực sự để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho người dân.

Về các quy định của luật thủ tục thực hiện khiếu nại, tố cáo: Để khiếu nại một quyết định hành chính xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình, Luật Khiếu nại năm 2011 quy định, người dân phải khiếu nại lần đầu đến chính cơ quan ban hành quyết định hành chính đó, thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, tuy nhiên, nhiều người dân lại không nắm được quy định này dẫn tới quá thời hiệu, họ không thể thực hiện được quyền của mình và khiếu nại lên cơ quan cấp trên…

Thứ hai, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa đảm bảo tính khách quan, công khai, minh bạch và dân chủ, nhanh chóng, kịp thời. Nhiều cơ quan, chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu còn thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu nại, không giải quyết, giải quyết nhưng kéo dài hoặc chưa áp dụng đúng các quy định để giải quyết khiếu nại, tố cáo. Hơn nữa, khi nhận được đơn thư khiếu nại, tố cáo, khởi kiện không thuộc trách nhiệm giải quyết của mình, do nhiều nguyên nhân như trình độ chuyên môn, nghiệp vụ còn hạn chế, thiếu sự kết nối, phối hợp giữa các cơ quan có trách nhiệm hoặc thờ ơ vô, cảm đã không hướng dẫn để xảy ra khiếu nại, tố cáo vượt cấp.

Mặt khác, để đảm bảo việc giải quyết khiếu nại được diễn ra dân chủ, công khai, minh bạch, hiệu quả, Điều 30, Điều 39 Luật Khiếu nại năm 2011 đã quy định về tổ chức đối thoại. Bản chất của đối thoại cũng chính là một biện pháp hòa giải trong khuôn khổ của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, nhằm góp phần củng cố và tăng cường sự đoàn kết trong nhân dân, tránh đối đầu, đối địch dẫn đến hận thù[4]. Tuy nhiên, quy định về đối thoại tại Luật Khiếu nại năm 2011 đã bộc lộ những khó khăn, vướng mắc nhất định. Bởi vì, người giải quyết khiếu nại lần hai là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và chủ yếu là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Thực tế tại Hà Nội những năm qua, đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết lần hai của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố là khoảng 400 - 500 vụ việc/năm, nếu thực hiện đối thoại theo Điều 39 Luật Khiếu nại năm 2011 thì khó khả thi. Bất cập này đã được Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính và Thông tư số 02/2016/TT-TTCP ngày 20/10/2016 của Thanh tra Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2013/TT-TTCP tháo gỡ một phần, theo đó, trong quá trình giải quyết khiếu nại lần hai, người giải quyết khiếu nại phải tiến hành đối thoại (Điều 21). Với quy định như vậy, thủ trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ xác minh khiếu nại có thể giúp người giải quyết khiếu nại tổ chức đối thoại trong quá trình giải quyết khiếu nại lần hai đảm bảo tính khách quan, dân chủ và vì mục tiêu bảo vệ quyền, lợi hợp pháp cho người khiếu nại. Mặc dù vậy, trên thực tế, việc tổ chức đối thoại này vẫn mang tính hình thức, chưa giúp giải quyết triệt để do người có trách nhiệm xác minh tiến hành đối thoại nhưng không có quyền giải quyết khiếu nại, còn người giải quyết khiếu nại lần một đối thoại lại rất eo hẹp về thời gian sẽ làm chậm tiến độ giải quyết các vụ việc, dẫn đến khiếu nại, tố cáo vượt cấp.

Thứ ba, tình trạng khiếu nại vượt cấp diễn ra phổ biến xuất phát phần lớn từ ý thức pháp luật và nhận thức của người dân. Có thể thấy, số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo sai là rất lớn, nguyên nhân có thể do họ bị oan sai thực sự, nhưng vì nhiều lý do hoặc thiếu căn cứ pháp lý mà quyền, lợi ích hợp pháp của họ không đảm bảo. Đặc biệt, do nhiều người dân hiểu chưa đúng, chưa đầy đủ các quy định của pháp luật, trong đó có quy định về đất đai cũng như các quy định pháp luật về khiếu nại, tố cáo, khởi kiện, dẫn đến tình trạng khiếu nại không đúng thẩm quyền, khiếu nại khi đã hết thời hiệu khiếu nai… Hơn nữa, tâm lý càng gửi đơn thư đến nhiều cơ quan, càng gửi đơn đến chính quyền, thủ trưởng cấp trên càng được giải quyết sớm đang làm hạn chế quyền của người khiếu nại.

Thứ tư, công dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm, còn cán bộ, công chức chỉ được làm những gì pháp luật cho phép. Theo đó, việc thực hiện khiếu nại, tố cáo, khởi kiện là quyền của công dân, còn việc giải quyết khiếu nại của cán bộ, công chức phải thực hiện trên cơ sở quy định của pháp luật. Cán bộ, công chức phải thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Trường hợp nếu có khiếu kiện vượt cấp thì các chủ thể này phải có trách nhiệm giải thích cho cá nhân, tổ chức khiếu kiện biết và hướng dẫn họ gửi đơn đến đúng cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết. Nếu không thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình thì cán bộ, công chức sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành đang thiếu chế tài cụ thể trong việc xử lý trách nhiệm đối với các chủ thể này, theo đó, cơ quan nhà nước, chủ thể có thẩm quyền khi không thực hiện đúng công vụ trong giải quyết khiếu nại, tố cáo, xét xử thì chủ yếu bị áp dụng các hình thức liên quan đến đánh giá hoàn thành nhiệm vụ trong năm và mức kỷ luật cũng chưa tương xứng, việc xử lý trách nhiệm chưa được hiệu quả. Trong khi đó, đối với cá nhân, tổ chức khiếu nại, tố cáo, pháp luật hiện hành quy định rất rõ người khiếu nại, tố cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung khiếu nại, tố cáo của mình, tùy theo mức độ sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý dân sự, trách nhiệm hành chính hoặc trách nhiệm hình sự.

Thứ năm, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai, đặc biệt là thủ tục hành chính trong quản lý và sử dụng đất và giải quyết khiếu nại, tố cáo, khởi kiện của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan tuyên truyền, phổ biến pháp luật, các văn phòng luật sư, các trung tâm trợ giúp pháp lý, trung tâm tư vấn pháp luật...) vẫn còn nhiều hạn chế. Ví dụ, khi phát hiện ra việc khiếu nại của người dân là không có cơ sở hoặc đã được giải quyết đúng quy định của pháp luật, nhưng nhiều trường hợp người tư vấn lại không giải thích rõ cho người dân biết điều này, thậm chí vẫn nhận lời giải quyết, nhưng không thể giải quyết được… khiến người dân hoang mang.

2. Giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo vượt cấp trong lĩnh vực đất đai

Một là, cần nghiên cứu hoàn thiện quy định pháp luật đất đai, cũng như quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo. Trên cơ sở hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo hướng dài hạn, ổn định, Nhà nước sẽ quản lý đất đai dựa trên quy hoạch, tránh thủ tục rườm rà, phức tạp, ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện quyền sử dụng đất của người dân. Theo đó, loại bỏ bớt các thủ tục hành chính trong quản lý và sử dụng đất không cần thiết; những thủ tục quản lý và sử dụng đất được giữ lại cần đơn giản hóa, công khai, minh bạch, rõ ràng từ điều kiện thực hiện quyền, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời gian thực hiện cho đến chi phí thực hiện. Các quy định này cần phải đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, công khai, minh bạch, dễ hiểu, dễ tiếp cận, chi phí thực hiện thấp.

Hai là, đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật. Khi giải quyết khiếu nại, tố cáo, cơ quan, người có thẩm quyền cần tuân thủ đúng chức năng, nhiệm vụ của mình phù hợp với nguyên tắc của nhà nước pháp quyền; bảo đảm quyền con người trong giải quyết. Theo đó, cán bộ, công chức cần phải giải quyết những công việc thuộc chức năng, nhiệm vụ của mình nhanh chóng, kịp thời đúng thời hạn, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người khiếu nại, tố cáo, trong đó có khiếu nại, tố cáo về đất đai. Bên cạnh đó, cần hạn chế tối đa những sai phạm trong hoạt động của cán bộ, công chức, đặc biệt là cấp cơ sở nơi giải quyết khiếu nại lần đầu; khắc phục thói quan liêu, cửa quyền, hách dịch, vô cảm trong giải quyết khiếu nại, tố cáo. Xử lý nghiêm cán bộ, công chức không thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Ngoài ra, bên cạnh việc khen thưởng cán bộ, công chức hoàn thành xuất sắc công việc, cần áp dụng triệt để các quy định về kỷ luật công vụ, tùy theo mức độ vi phạm có thể xem xét áp dụng cả trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự và trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Vận dụng các yếu tố, quy luật của kinh tế thị trường vào cải cách hành chính, xây dựng một nền hành chính vì dân phục vụ[5].

Ba là, cần xây dựng và thực hiện văn hóa công vụ. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần tổ chức các buổi tập huấn, các cuộc thi về chuyên môn nghiệp vụ và văn hóa ứng xử của công chức, văn hóa tiếp dân theo hướng thực chất; xây dựng nền hành chính phục vụ, góp phần thực hiện có hiệu lực, hiệu quả các thủ tục hành chính trong quản lý và sử dụng đất cũng như giải quyết khiếu nại, tố cáo. Bên cạnh đó, phát huy vai trò của truyền thông báo chí trong thúc đẩy thực hiện văn hóa công vụ như ca ngợi gương người tốt, việc tốt, lên án các hành vi lệch chuẩn đạo đức công vụ, hướng tới xây dựng nền hành chính phục vụ.

Bốn là, ứng dụng công nghệ thông tin, đặc biệt là thành tựu của Cách mạng công nghiệp 4.0 trong xây dựng Chính phủ điện tử; thực hiện các thủ tục hành chính và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cần phải xây dựng, thực hiện nghiêm túc các quy trình nghiệp vụ về tiếp nhận, xử lý và giải quyết khiếu nại, tố cáo theo hướng đơn giản hóa, giảm đầu mối, bảo đảm tính nhanh chóng, kịp thời; công bố công khai, minh bạch về quy trình này, thậm chí thực hiện tiếp nhận xử lý hồ sơ giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai qua các cổng thông tin điện tử và có cơ chế giám sát chặt chẽ cán bộ, công chức xử lý các hồ sơ để đảm bảo công việc được giải quyết hiệu quả[6]. Thực hiện được điều này sẽ giúp tiết kiệm chi phí, thời gian, công sức, nhưng vẫn bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho người dân, tránh được khiếu nại, tố cáo đông người.

Năm là, bên cạnh cơ chế truyền thống như giám sát từ cơ quan dân cử, của thanh tra hành chính… thì cần phát huy tối đa vai trò của tổ chức xã hội, truyền thông báo chí và người dân trong phát hiện hành vi của chủ thể không thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Thực tiễn cho thấy, giám sát xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát hiện các vi phạm từ phía công quyền.

Luật gia Hoàng Xuân Tốn &TS. Bùi Đức Hiển

Viện Nhà nước và Pháp luật

Tài liệu tham khảo:

[1]. Xem Điều 7 Luật Khiếu nại năm 2011.

[2]. Xem từ Điều 12 đến Điều 17 Luật Tố cáo năm 2011.

[3]. Xem: Hoài Nam, Gia tăng khiếu nại vượt cấp. Nguồn: http://www.sggp.org.vn/gia-tang-khieu-nai-vuot-cap-360608.html.

[4]. Xem: Đối thoại trong giải quyết khiếu nại, tố cáo. Nguồn: http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thong-tin-khac.aspx?ItemID=678.

[5]. Xem: Vận dụng các quy luật, yếu tố của kinh tế thị trường vào thực hiện cải cách hành chính nhà nước - giải pháp quan trọng để xây dựng thành công chính phủ kiến tạo ở Việt Nam hiện nay, Bùi Đức Hiển, Mục lục Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Xây dựng chính phủ kiến tạo, liêm chính trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế” (Hà Nội, ngày 05/4/2018).

[6]. Thực tế cho thấy một số cơ quan như hải quan, thuế, xuất nhập cảnh áp dụng giải quyết rất hiệu quả.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: