Thứ sáu 23/01/2026 12:30
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng pháp luật về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết nêu lên thực trạng pháp luật về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước và sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này. Qua đó, định hướng hoàn thiện thể chế về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước trong giai đoạn hiện nay.

Abstract: This article puts forward the real situation of making and implementaion of village conventions, regulations and the need to complete regulations in this area and through this to propose the completion of regime of making, implementation of village conventions, regulations in the current period.

Hương ước, quy ước, hiểu theo nghĩa chung nhất, là những quy phạm xã hội chứa đựng các quy tắc xử sự chung do cộng đồng dân cư cùng thỏa thuận, tự nguyện đặt ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội mang tính tự quản của nhân dân nhằm giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư, góp phần duy trì trật tự trong cộng đồng dân cư. Hiện nay, hương ước vẫn được duy trì tại nhiều nước, nhất là ở châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản...

Từ nhiều thế kỷ qua, hương ước, quy ước có vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nhất là ở địa bàn nông thôn Việt Nam. Dưới góc độ văn hóa, hương ước, quy ước thể hiện giá trị văn hóa dân tộc, giữ gìn, bảo tồn và phát huy các thuần phong mỹ tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc, cộng đồng và tinh thần tương trợ, tương thân, tương ái trong cộng đồng dân cư. Dưới góc độ quản lý nhà nước, hương ước, quy ước điều chỉnh các quan hệ xã hội nảy sinh trong đời sống tự quản cộng đồng do chưa có quy định của pháp luật hoặc pháp luật chưa cụ thể, chưa cần thiết phải can thiệp bằng pháp luật. Dưới góc độ thực hiện dân chủ cơ sở, hương ước, quy ước là một trong những nội dung, hình thức mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở trong việc tham gia quản lý nhà nước, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước.

1. Thực trạng pháp luật về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước và sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này

Ở Việt Nam, hương ước, quy ước xuất hiện từ thế kỷ XV, được quy định lần đầu tiên trong Bộ luật Hồng Đức dưới triều vua Lê Thánh Tông; được các chế độ phong kiến Việt Nam sau đó và thực dân Pháp duy trì để quản lý làng xã, cộng đồng dân cư (hương ước được thừa nhận và tồn tại song song với pháp luật của Nhà nước). Sau cách mạng tháng Tám (năm 1945), do quan niệm hương ước, quy ước không còn thích hợp với xã hội mới nên Nhà nước ta không đề cập đến việc xây dựng, thực hiện hương ước. Bước vào thời kỳ đổi mới (1986), trước yêu cầu bảo vệ, duy trì, phát triển các phong tục tập quán, giá trị văn hóa tốt đẹp đang được phục hồi, xóa bỏ các hủ tục, tệ nạn nảy sinh, nhất là trong việc cưới, việc tang nhằm xây dựng đời sống văn hóa mới, chủ trương xây dựng và thực hiện hương ước đã được khẳng định trong một số văn kiện quan trọng của Đảng ta. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 (khóa VII) đã “Khuyến khích xây dựng và thực hiện các hương ước, các quy chế về nếp sống văn minh ở các thôn, xã”. Báo cáo chính trị trong Văn kiện Đại hội VIII của Đảng yêu cầu xây dựng cơ chế cụ thể để thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” là thực hiện tốt các cơ chế làm chủ của nhân dân, trong đó có “làm chủ trực tiếp bằng các hình thức nhân dân tự quản, bằng các quy ước, hương ước tại cơ sở phù hợp với luật pháp của Nhà nước”. Chỉ thị số 30/CT-TW ngày 18/02/1998 của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đã xác định các vấn đề cần làm rõ trong nội dung quy chế dân chủ cơ sở, trong đó có “mở rộng các hình thức tổ chức tự quản để nhân dân, công nhân, cán bộ, công chức tự bàn bạc và thực hiện trong khuôn khổ pháp luật những công việc mang tính xã hội hóa, có sự hỗ trợ của chính quyền, cơ quan, đơn vị (như việc xây dựng hương ước, quy ước làng văn hóa...)”.

Thể chế hóa chủ trương của Đảng, Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật quy định về việc xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước, như: Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007, Nghị quyết liên tịch số 09/2008/NQLT-CP-UBTWMTTQVN ngày 17/4/2008 của Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Nghị quyết liên tịch số 09/2008/NQLT-CP-UBTWMTTQVN), Chỉ thị số 24/1998/CT-TTg ngày 19/6/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư (Chỉ thị số 24/1998/CT-TTg), Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg ngày 24/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy định về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở và một số thông tư, thông tư liên tịch khác[1].

Các văn bản này đã tạo cơ sở pháp lý để quản lý, xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước trong thời gian qua; bảo đảm nội dung và hình thức của hương ước, quy ước; trình tự, thủ tục soạn thảo, công nhận/phê duyệt hương ước, quy ước; sửa đổi, bổ sung, quản lý hương ước, quy ước; đánh giá đạt văn hóa nông thôn mới, chuẩn tiếp cận pháp luật trong xây dựng nông thôn mới. Qua tổng kết Chỉ thị số 24/1998/CT-TTg cho thấy, đến nay, việc xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước đã đi vào ổn định, được xây dựng, thực hiện rộng khắp trong cả nước. Theo Báo cáo số 108/BC-BTP ngày 23/5/2016 của Bộ Tư pháp, trong số 125.083 thôn, làng được rà soát, có 109.698 bản hương ước, quy ước đã được phê duyệt, chiếm 87,7%; có 6.694 bản hương ước, quy ước đang trong quá trình phê duyệt; 3.260 bản hương ước, quy ước đang xây dựng. Hương ước, quy ước đã khẳng định được vị trí, vai trò trong xây dựng, thực hiện nếp sống văn minh, thực hiện dân chủ ở cơ sở, phát huy vai trò tự quản và xây dựng tình đoàn kết, tương thân, tương ái trong cộng đồng dân cư.

Tuy nhiên, hệ thống pháp luật của nước ta hiện nay đang được xây dựng và hoàn thiện cơ bản, có nhiều văn kiện của Đảng, đạo luật, luật quan trọng được ban hành gần đây đã thể chế hóa chủ trương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở. Báo cáo chính trị khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã nhấn mạnh “Tiếp tục thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở; thể chế hóa và thực hiện tốt phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Hiến pháp năm 2013 cũng khẳng định quyền của công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước[2]. Một số bộ luật, luật khác như: Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa (năm 2009) đã chủ trương áp dụng tập quán để giải quyết các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình; xóa bỏ, cấm áp dụng các tập quán, hủ tục lạc hậu. Những vấn đề này có liên quan mật thiết đến hương ước, quy ước. Trong điều kiện đó, các quy định pháp luật về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước đã bộc lộ những bất cập, không còn phù hợp, cụ thể như sau:

Thứ nhất, các quy định về trình tự, thủ tục, thời hạn xây dựng, thẩm quyền công nhận/phê duyệt hương ước, quy ước theo Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT-BTP-BVHTT-BTTUBTƯMTTQVN ngày 31/3/2000 của Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư (Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT-BTP-BVHTT-BTTUBTƯMTTQVN) thiếu chặt chẽ, chồng chéo, mâu thuẫn với Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007, Chỉ thị số 24/1998/CT-TTg, cụ thể như: Thủ tục, điều kiện tổ chức hội nghị cử tri, hội nghị đại biểu; điều kiện thông qua, giá trị thi hành hương ước, quy ước; thời hạn xem xét, công nhận/phê duyệt; cơ quan/người có thẩm quyền công nhận/phê duyệt.

Thứ hai, việc cho phép hương ước, quy ước được đề ra biện pháp phạt đối với người có hành vi vi phạm các quy định của hương ước, quy ước để bảo đảm thực hiện (vi phạm nghiêm trọng có thể áp dụng thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm trong phạm vi cộng đồng hoặc các biện pháp phạt…) trong Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT-BTP-BVHTT-BTTUBTƯMTTQVN chưa rõ, nên thực tế còn nhiều bản hương ước, quy ước quy định hình thức phạt tiền, thậm chí với mức cao hơn mức phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, làm ảnh hưởng đến hiệu lực điều chỉnh của pháp luật.

Thứ ba, Chỉ thị số 24/1998/CT-TTg chưa phân định rõ nhiệm vụ của Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong quản lý nhà nước về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước. Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT-BTP-BVHTT-BTTUBTƯMTTQVN quy định về nhiệm vụ của cơ quan tư pháp, cơ quan văn hóa các cấp ở địa phương còn mâu thuẫn với Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn (Thông tư số 06/2012/TT-BNV). Theo đó, Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT-BTP-BVHTT-BTTUBTƯMTTQVN quy định Phòng Tư pháp tham mưu xem xét tính hợp pháp của hương ước, bảo đảm kỹ thuật xây dựng hương ước, Phòng Văn hóa - Thông tin tham mưu bảo đảm các nội dung của hương ước phù hợp với thuần phong mỹ tục và các quy tắc xây dựng nếp sống văn hóa; cán bộ tư pháp phối hợp với cán bộ văn hóa - thông tin giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện các công việc liên quan đến xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước, trong khi đó, Thông tư số 06/2012/TT-BNV quy định công chức văn hóa - xã hội chủ trì, phối hợp với công chức khác và trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố xây dựng hương ước, quy ước.

Thứ tư, một số quy định trong Chỉ thị số 24/1998/CT-TTg, Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT-BTP-BVHTT-BTTUBTƯMTTQVN không còn phù hợp với thực tiễn hiện nay như: Quy định về việc đề ra biện pháp bảo đảm thực hiện các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của một số tổ chức tự quản (Ban Kiến thiết, Tổ bảo vệ sản xuất) nhưng nay không có các mô hình tự quản này; trong hương ước, quy ước đề ra những tiêu chuẩn gia đình văn hóa nhưng nay đã được thể chế hóa và thực hiện theo quy định của văn bản pháp luật khác như: Thông tư số 17/2011/TT-BVHTTDL ngày 02/12/2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết về tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục xét và công nhận “xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới (Thông tư số 17/2011/TT-BVHTTDL)...

Những vướng mắc, bất cập trên không chỉ gây khó khăn, lúng túng trong triển khai thực hiện mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát huy vai trò, tác động của hương ước, quy ước trong đời sống xã hội, nhất là tính tự quản của cộng đồng. Nguyên nhân chủ yếu là do các văn bản pháp luật quy định về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước đã ban hành từ rất lâu3, lại chậm được rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện nên hiện nay, các văn bản này đã lạc hậu, có sự mâu thuẫn, chồng chéo với các văn bản ban hành sau có giá trị pháp lý cao hơn (Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007, Nghị quyết liên tịch số 09/2008/NQLT-CP-UBTWMTTQVN). Hình thức của một số văn bản không còn phù hợp với quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (Chỉ thị số 24/1998/CT-TTg, Thông tư số 17/2011/TT-BVHTTDL, Thông tư liên tịch số 04/2001/TTLT-BTP-BVHTT-BTTUBTƯMTTQVN-UBQGDS-KHHGĐ ngày 09/7/2001 của Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa - Thông tin, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban Quốc gia dân số và kế hoạch hóa gia đình hướng dẫn bổ sung Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT-BTP-BVHTT-BTTUBTƯMTTQVN).

Để tạo cơ sở pháp lý triển khai quản lý, xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước được thống nhất, đồng bộ, phù hợp với các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về quyền con người, quyền công dân, thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở được nhấn mạnh trong các văn kiện của Đảng, Hiến pháp năm 2013 và một số đạo luật, luật có liên quan, việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước là cần thiết và cấp bách.

2. Định hướng hoàn thiện thể chế về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước

Những vướng mắc, bất cập nêu trên là những vướng mắc, bất cập tổng thể về thể chế xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước được nhận diện qua theo dõi, rà soát, kiểm tra, tổng kết thực tiễn triển khai các văn bản pháp luật về công tác này trong thời gian qua. Để khắc phục các vướng mắc, bất cập đó, cần phải sửa đổi, bổ sung toàn diện thể chế, chính sách có liên quan đến vấn đề tự quản cộng đồng và thực hiện dân chủ ở cơ sở, cụ thể là:

Thứ nhất, đối với những vướng mắc, bất cập liên quan đến xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước trong các luật, pháp lệnh, nghị quyết liên tịch, đề nghị Bộ Nội vụ tổng kết thi hành Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2017; nghiên cứu, xây dựng Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở. Do vậy, trong thời gian tới, Bộ Tư pháp cần tiếp tục theo dõi, phối hợp với Bộ Nội vụ, các bộ, ngành khác trong quá trình tổng kết thi hành Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2017; nghiên cứu, đề xuất nội dung liên quan đến xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước trong quá trình xây dựng Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (nếu có) và các văn bản hướng dẫn thi hành các luật khác có liên quan.

Thứ hai, đối với những vướng mắc, bất cập trong Chỉ thị số 24/1998/CT-TTg và các Thông tư liên tịch, đề nghị Bộ Tư pháp nghiên cứu, xây dựng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước theo hướng quy định những vấn đề thuộc thẩm quyền và trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ theo Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 để thay thế Chỉ thị số 24/1998/CT-TTg; kịp thời khắc phục các vướng mắc, bất cập trong Chỉ thị này và các Thông tư liên tịch; bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ với quy định của Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007, Nghị quyết liên tịch số 09/2008/NQLT-CP-UBTWMTTQVN. Trong quá trình xây dựng dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước, cần tập trung vào một số định hướng sau đây:

- Về phạm vi điều chỉnh: Dự thảo Quyết định điều chỉnh về: (i) Nguyên tắc xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước; (ii) Nội dung, hình thức của hương ước, quy ước; (iii) Trình tự, thủ tục, thẩm quyền soạn thảo, thẩm định, công nhận, sửa đổi, bổ sung hương ước, quy ước; (iv) Trách nhiệm quản lý nhà nước về hương ước, quy ước; (v) Kinh phí bảo đảm cho công tác xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước và các biện pháp bảo đảm khác.

- Về nguyên tắc xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước: Dự kiến bao gồm: (i) Phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, không hạn chế quyền con người, quyền công dân; (ii) Bảo đảm sự tự nguyện, dựa trên nhu cầu của cộng đồng dân cư; phát huy dân chủ ở cơ sở, hạn chế tối đa sự can thiệp của cơ quan, tổ chức; (iii) Bảo tồn, phát triển các giá trị văn hóa truyền thống, thuần phong mỹ tục, tập quán tiến bộ, tích cực; hạn chế, tiến tới xóa bỏ các hủ tục lạc hậu; xây dựng các giá trị văn hóa mới phù hợp với xu thế thời đại.

- Về nội dung, hình thức của hương ước, quy ước: Quy định mang tính định hướng về những nội dung lớn của hương ước, quy ước (gắn với các lĩnh vực của đời sống xã hội như: Văn hóa, bảo vệ môi trường, tài nguyên, xây dựng nông thôn mới, an ninh trật tự xã hội…). Phân cấp cho chính quyền địa phương hướng dẫn cụ thể hơn cho phù hợp với điều kiện thực tế của vùng, miền, cộng đồng. Nghiên cứu, bổ sung định hướng về việc tập hợp các tập quán tốt đẹp, tiến bộ cần giữ gìn, phát huy; tập quán, hủ tục lạc hậu cần vận động xóa bỏ, cấm áp dụng nhằm tạo nguồn áp dụng tập quán tốt đẹp theo quy định của pháp luật.

- Về trình tự, thủ tục xây dựng và thẩm quyền phê duyệt/công nhận hương ước, quy ước: Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền công nhận hương ước, quy ước cho phù hợp với Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2017, Nghị quyết liên tịch số 09/2008/NQLT-CP-UBTWMTTQVN; đơn giản hóa các thủ tục, rút ngắn thời gian giải quyết để thuận tiện cho địa phương, quy định chặt chẽ thủ tục, thời hạn công nhận, nhất là thủ tục lấy ý kiến nhân dân và thẩm định để hương ước, quy ước có chất lượng, không trái pháp luật, xâm phạm các quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể.

- Ghi nhận các biện pháp bảo đảm thực hiện trong hương ước, quy ước nhằm giáo dục, nâng cao ý thức tuân thủ, chấp hành hương ước, quy ước như: Nhắc nhở, phê bình của gia đình, tập thể cộng đồng; bổ sung một số hình thức khác phù hợp với tính chất tự quản của cộng đồng để xử lý hành vi vi phạm hương ước, quy ước…

- Về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong quản lý, xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước: Dự kiến quy định Bộ Tư pháp là cơ quan chủ trì, chịu trách nhiệm tham mưu, giúp Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan phối hợp trong thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước; đồng thời phân công cụ thể, thống nhất trách nhiệm quản lý nhà nước của các cơ quan, tổ chức ở địa phương.

ThS. Phan Hồng Nguyên, Bộ Tư pháp

ThS. Lê Thu Hà
, Đại học Kiểm sát Hà Nội



Tài liệu tham khảo:

[1]. Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT-BTP-BVHTT-BTTUBTƯMTTQVN ngày 31/3/2000 của Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa - Thông tin, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư; Thông tư liên tịch số 04/2001/TTLT-BTP-BVHTT-BTTUBTƯMTTQVN-UBQGDS-KHHGĐ ngày 09/7/2001 của Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa - Thông tin, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban Quốc gia dân số và kế hoạch hóa gia đình hướng dẫn bổ sung Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT-BTP-BVHTT-BTTUBTƯMTTQVN; Thông tư số 70/2007/TT-BNN# ngày 01/8/2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn xây dựng và tổ chức thực hiện quy ước bảo vệ và phát triển rừng tại cộng đồng dân cư thôn, Thông tư số 17/2011/TT-BVHTTDL ngày 02/12/2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết về tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục xét và công nhận “Xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới”.

[2]. Điều 28 Hiến pháp năm 2013.

[3]. Chỉ thị số 24/1998/CT-TTg đã ban hành 19 năm, Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT-BTP-BVHTT-BTTUBTƯMTTQVN đã ban hành 17 năm.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: