Thứ hai 27/07/2026 20:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng tội phạm về mại dâm ở Việt Nam và giải pháp phòng ngừa

Bài viết này nghiên cứu thực trạng tội phạm về mại dâm ở Việt Nam, từ đó, đề xuất một số biện pháp phòng ngừa tội phạm về mại dâm nhằm đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay.


1. Thực trạng tội phạm về mại dâm ở Việt Nam

Các tội phạm về mại dâm ở Việt Nam được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) bao gồm tội chứa mại dâm (Điều 327), tội môi giới mại dâm (Điều 328) và tội mua dâm người dưới 18 tuổi (Điều 329). Trong những năm qua, các tội phạm về mại dâm có xu hướng tăng lên cả về số vụ và tính chất, mức độ nghiêm trọng, gây ra nhiều vấn đề phức tạp về kinh tế, xã hội, sức khỏe cộng đồng và gây bức xúc dư luận; thủ đoạn hoạt động ngày càng tinh vi, xảo quyệt, có nhiều thủ đoạn đối phó lại sự phát hiện của quần chúng nhân dân và hoạt động điều tra của cơ quan công an. Tội phạm về mại dâm đã xảy ra ở Việt Nam bao gồm tội phạm rõ và tội phạm ẩn.

Thứ nhất, tội phạm rõ là tội phạm đã được xử lý hình sự và được đưa vào thống kê hình sự

Xét ở mức độ tổng quan, nếu như trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2009, Tòa án nhân dân các cấp trong cả nước đã xét xử 4.711 vụ án về mại dâm với 6.125 người phạm tội, trung bình mỗi năm có khoảng 471 vụ với khoảng 612 người phạm tội, thì trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2019, Tòa án nhân dân các cấp trong cả nước đã xét xử 6.724 vụ án về mại dâm với 8.574 người phạm tội, trung bình mỗi năm có khoảng 672 vụ với khoảng 857 người phạm tội. Có thể nói, số vụ phạm tội về mại dâm giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2019 tăng ở mức đáng lo ngại so với 10 năm trước (giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2009).

So với tổng số vụ phạm tội nói chung thì các tội phạm về mại dâm chiếm tỷ lệ khá lớn (11,8%). Các tội phạm về mại dâm được quy định tại 03 điều luật trong tổng số 313 điều luật quy định về các tội phạm cụ thể trong Bộ luật Hình sự năm 2015 chiếm tỉ lệ 0,96%, (3/313). Trong khi đó, cơ cấu của các tội này so với các tội phạm nói chung xảy ra trên thực tế lại lên tới 11,8% (gấp khoảng 12,3 lần so với tỉ lệ được quy định trong Bộ luật Hình sự). Đây là một thực trạng đáng báo động về các tội phạm về mại dâm trong 10 năm qua.

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, thì dân số Việt Nam tính trung bình trong giai đoạn 2000 - 2009 là 81.875.800 người, còn theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, thì trung bình mỗi năm trong giai đoạn 2000 - 2009, Tòa án nhân dân các cấp đã xét xử khoảng 471 vụ với khoảng 612 người phạm các tội phạm về mại dâm. Như vậy, trong giai đoạn 2000 - 2009, chỉ số tội phạm/100.000 dân là 0,57; còn chỉ số người phạm tội/100.000 dân là 0,74. Chỉ số tội phạm của các tội phạm về mại dâm giai đoạn 2010 - 2019 có sự gia tăng so với giai đoạn 2000 - 2009, lớn hơn giai đoạn 2000 - 2009 là 0,16 (tức là tăng 28%), còn chỉ số người phạm tội tương ứng lớn hơn 0,12 (tức là tăng 14,6%). Điều đó cho thấy, các tội phạm về mại dâm ở Việt Nam giai đoạn 2010 - 2019 xảy ra ngày càng nhiều và có mức độ phổ biến hơn giai đoạn 2000 - 2009.

Thứ hai, tội phạm ẩn là các tội phạm đã thực tế xảy ra nhưng không được thể hiện trong thống kê tội phạm vì không được phát hiện, không được xử lý hoặc không được đưa vào thống kê tội phạm

Các số liệu thống kê về xét xử các tội phạm về mại dâm đã phản ánh một phần tình hình loại tội phạm này, nhưng đồng thời cũng phản ánh khả năng giải quyết, xử lý tội phạm của các cơ quan bảo vệ pháp luật trong việc đấu tranh với các tội phạm về mại dâm ở Việt Nam trong giai đoạn 2010 - 2019. Tuy nhiên, tội phạm về mại dâm có một số lượng lớn các vụ phạm tội và người phạm tội còn “ẩn”, chưa bị phát hiện, xử lý hình sự. Khi nghiên cứu tội phạm ẩn của tội phạm về mại dâm, cần nghiên cứu cả hai loại tội phạm ẩn khách quan và tội phạm ẩn chủ quan.

(i) Tội phạm ẩn về mại dâm khách quan là tội phạm về mại dâm đã xảy ra trên thực tế nhưng do nguyên nhân khách quan mà các cơ quan chức năng không có thông tin về các tội phạm này, vì vậy, không được xử lý hình sự và đương nhiên không có trong thống kê về tội phạm chính thức. Lý do xuất phát từ phía chủ thể của tội phạm và từ phía những người khác có biết về tội phạm về mại dâm nhưng không tố giác, báo tin với cơ quan có thẩm quyền. Chủ thể của các tội phạm về mại dâm là người chứa mại dâm, người môi giới mại dâm và người mua dâm dưới 18 tuổi, họ luôn muốn che đậy việc phạm tội của mình thông qua các hình thức, thủ đoạn tinh vi. Có thể kể đến như kinh doanh các dịch vụ trá hình như nhà nghỉ, khách sạn, quán café, cơ sở massage, tẩm quất, xông hơi… hay tổ chức các dịch vụ thuê người đi dự sự kiện, tour du lịch nhưng thực chất là các hoạt động môi giới mại dâm… Các đối tượng ngầm thỏa thuận, chỉ môi giới mại dâm cho khách quen hoặc có sự giới thiệu, hay người bán dâm sau một thời gian hoạt động có nhiều quan hệ và nắm được các phương thức hoạt động chuyển sang môi giới mại dâm gây khó khăn trong việc phòng ngừa và phát hiện. Bên cạnh đó, hoạt động môi giới mại dâm qua mạng internet cũng gây khó khăn cho việc phát hiện và xử lý. Có thể thấy, khả năng che giấu tội phạm của những người phạm tội về mại dâm là rất tinh vi.

(ii) Tội phạm ẩn về mại dâm chủ quan là tội phạm về mại dâm đã xảy ra trên thực tế mà cơ quan chức năng đã phát hiện được, nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau, những tội phạm này không được xử lý về hình sự và do đó không có trong thống kê tội phạm chính thức. Thực tế cho thấy, khi lực lượng cảnh sát phát hiện và bắt giữ quả tang những người mua, bán dâm, trong quá trình lấy lời khai có thể họ khai ra người môi giới. Tuy nhiên, do trình độ nghiệp vụ còn hạn chế hoặc do thiếu tinh thần trách nhiệm trong việc điều tra tội phạm nên đã bỏ lọt tội phạm. Những trường hợp như vậy, cơ quan công an thường chỉ lập biên bản xử lý hành chính người mua dâm và người bán dâm, từ đó, dẫn đến một số lượng ẩn các tội phạm về mại dâm.

2. Nguyên nhân phát sinh tội phạm về mại dâm

Trên cơ sở nghiên cứu tình hình tội phạm về mại dâm ở Việt Nam, có thể xác định các nguyên nhân phát sinh tội phạm như sau:

Một là, nguyên nhân liên quan đến kinh tế - xã hội: Tội phạm về mại dâm ngày càng tăng trước hết xuất phát từ sự gia tăng các tệ nạn xã hội. Nhiều người thích hưởng thụ cuộc sống không lành mạnh như mua dâm để thỏa mãn nhu cầu sinh lý. Khi lượng người có nhu cầu mua dâm tăng, thì số lượng người phạm tội phạm về mại dâm cũng tăng. Đây là kết quả tất yếu của quy luật cung - cầu. Bên cạnh đó, tình trạng thất nghiệp hoặc có việc làm không ổn định dẫn đến người dân không có thu nhập ổn định nên dễ bị cám dỗ trở thành tội phạm về mại dâm. Không những thế, những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường dẫn đến nhiều người có tâm lý quá coi trọng đồng tiền đã thúc đẩy họ sẵn sàng kiếm tiền bằng bất cứ cách nào, kể cả việc phạm tội về mại dâm.

Hai là, nguyên nhân liên quan đến công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật: Công tác này hiện nay vẫn còn những hạn chế nhất định, đó cũng là một nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm về mại dâm ở Việt Nam. Việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật chưa được tiến hành thường xuyên, liên tục, chưa chú trọng đến chất lượng và địa bàn trọng điểm nên hiệu quả chưa cao. Môi trường giáo dục từ gia đình, nhà trường và xã hội còn thiếu sự phối hợp, chưa thật sự được quan tâm đúng mức, dễ dẫn đến tình trạng các đối tượng bị rủ rê, lôi kéo vào con đường phạm tội nói chung và tội phạm về mại dâm nói riêng.

Ba là, nguyên nhân liên quan đến hạn chế trong hoạt động quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội: Công tác quản lý nhân khẩu, hộ khẩu còn nhiều thiếu sót. Tại nhiều nơi, chính quyền và công an địa phương chưa làm tốt công tác này. Công tác giám sát, phát hiện người có hành vi bán dâm và quản lý các website có hình ảnh phản cảm, văn hóa phẩm có nội dung không lành mạnh hay việc tuần tra, kiểm soát các tụ điểm cơ sở kinh doanh dịch vụ còn nhiều hạn chế. Vì vậy, các tội phạm về mại dâm xảy ra trong thời gian dài khó bị phát hiện và xử lý.

Bốn là, nguyên nhân liên quan đến chính sách, pháp luật về mại dâm: Hiện nay, người bán dâm và người mua dâm (trừ trường hợp người mua dâm người dưới 18 tuổi) chỉ bị xử phạt hành chính nên chưa đủ sức răn đe trong khi họ lại là đối tượng cần phải xử lý nghiêm để góp phần hạn chế sự gia tăng tệ nạn mại dâm nói chung và các tội phạm về mại dâm nói riêng. Người mua dâm chỉ bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng, còn người bán dâm chỉ bị phạt tiền từ 100.000 đến 300.000 thì mức phạt này dường như là “phạt để tồn tại”. Trên thực tế, có những đường dây mại dâm được gọi là “cao cấp” với giá hàng nghìn USD với sự tham gia của người bán dâm là các hoa khôi, người mẫu…, người mua dâm là các đại gia thì sẽ “không thấm vào đâu” nếu khi bị phát hiện, vì họ chỉ bị phạt tiền vài trăm nghìn đồng. Bên cạnh đó, còn thiếu các quy định về xử lý hình sự người tham gia vào hoạt động mại dâm đáp ứng yêu cầu phòng ngừa mại dâm trong tình hình mới. Nhiều hành vi mới phát sinh liên quan đến hoạt động mại dâm chưa có quy định điều chỉnh phù hợp như hành vi tổ chức mại dâm, “bảo kê” mại dâm, cưỡng bức mại dâm. Xử lý đối tượng mại dâm nam, mại dâm đồng tính, mại dâm chuyển giới còn nhiều lúng túng. Xuất phát là do khái niệm mại dâm hiện hành đã không bao quát được các hành vi mới như mua bán dâm giữa những người đồng tính… Các hành vi liên quan đến mại dâm như kích dục, khiêu dâm... chưa có chế tài xử lý đối với chủ thể của hành vi nên gây khó khăn cho các cơ quan chức năng trong việc tổ chức phòng ngừa, ngăn chặn mại dâm trong các cơ sở kinh doanh dịch vụ.

Năm là, nguyên nhân xuất phát từ các cơ quan tiến hành tố tụng: Do sự hạn chế về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của một bộ phận nhỏ cán bộ tiến hành tố tụng là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ ẩn cao của các tội phạm về mại dâm. Đặc biệt là các tội phạm ẩn do sai số thống kê. Hàng năm, Tòa án nhân dân địa phương gửi báo cáo không đúng thời hạn hoặc người thống kê có những sai sót mà các tội phạm về mại dâm đã được phát hiện, xét xử hình sự nhưng lại không được thống kê, không có trong số liệu thống kê. Bên cạnh đó, các cơ quan thống kê hiện nay không có sự thống nhất giữa tội phạm và vụ án. Số liệu thống kê các tội phạm về mại dâm được thể hiện qua nhiều số liệu của các cơ quan khác nhau như cơ quan điều tra, cơ quan truy tố, cơ quan xét xử. Để đánh giá tương đối chính xác về mức độ phạm tội của một loại tội phạm, không thể sử dụng số liệu của cả ba cơ quan trên mà chỉ có thể sử dụng số liệu của một cơ quan (các công trình nghiên cứu hiện nay thường sử dụng số liệu của cơ quan xét xử) và “đơn vị tính” phải là tổng “tội phạm đã xảy ra” và tổng “người phạm tội”[1]. Tuy nhiên, theo thống kê đang áp dụng hiện nay (của Tòa án nhân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao) là thống kê theo số “vụ án” và “người phạm tội” thì các số liệu thống kê chưa phản ánh đúng thực tế “tội phạm đã xảy ra”, bởi vì, trong một vụ phạm tội về mại dâm đưa ra xét xử có thể bao gồm nhiều tội về mại dâm khác nhau.

Sáu là, nguyên nhân từ phía người phạm tội: Người phạm các tội phạm về mại dâm có tâm lý coi thường pháp luật, hám lợi, lười lao động nhưng lại muốn kiếm tiền nhanh và dễ dàng. Vì vậy, họ sẵn sàng thực hiện tội phạm chứa mại dâm, môi giới mại dâm khi có cơ hội. Đối với người mua dâm người dưới 18 tuổi thì tâm lý người phạm tội hình thành qua sự tác động của môi trường xã hội làm phát sinh động cơ phạm tội. Trong số bản án mà tác giả nghiên cứu thì động cơ phạm tội của họ là để thỏa mãn nhu cầu tình dục nên người phạm tội lựa chọn đối tượng bán dâm là người dưới 18 tuổi để quan hệ tình dục, chiếm tỉ lệ 100%. Người phạm tội thực hiện hành vi mua dâm người dưới 16 tuổi nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu về sinh lý của bản thân. Có thể nói, nhu cầu tình dục lệch lạc, cùng với tác động của văn hóa phẩm đồi trụy đã thúc đẩy họ phạm tội để thỏa mãn tình dục cá nhân.

3. Các giải pháp phòng ngừa tội phạm về mại dâm ở Việt Nam trong thời gian tới

Từ kết quả đánh giá tình hình, xác định nguyên nhân của tội phạm về mại dâm nói trên, tác giả đề xuất các giải pháp phòng ngừa như sau:

Thứ nhất, phát triển kinh tế kết hợp định hướng nhu cầu vui chơi, giải trí lành mạnh cho người dân. Bên cạnh đó, cần giải quyết việc làm cho người lao động để giảm tỉ lệ người thất nghiệp, người có việc làm không ổn định. Muốn vậy, Việt Nam cần có chính sách chuyển dịch dần cơ cấu kinh tế vùng, ưu tiên phát triển kinh tế với các ngành nghề truyền thống, công nghiệp chế biến vì đây đều là những ngành nghề cần nhiều lao động phổ thông. Ngoài ra, Việt Nam cần phát triển thông tin thị trường lao động bằng cách thiết lập hệ thống thống tin, phối hợp với chính quyền địa phương và doanh nghiệp nhằm hỗ trợ việc làm cho người lao động.

Thứ hai, chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật. Các cơ quan truyền thông cũng như chính quyền địa phương và các tổ chức chính trị - xã hội như Mặt trận Tổ quốc, Hội phụ nữ, Đoàn thanh nhiên cần thường xuyên phối hợp tổ chức tuyên truyền về tác hại của mại dâm, pháp luật về mại dâm... Bên cạnh đó, môi trường giáo dục trong từng gia đình phối hợp với nhà trường và xã hội cũng đóng vai trò rất quan trọng. Bố mẹ cần quan tâm, giáo dục con cái, kịp thời uốn nắn, định hướng cho con vượt qua những cám dỗ không lành mạnh trong cuộc sống. Nhà trường chú trọng nhiều hơn đến giáo dục nhân cách, pháp luật, giới tính cho học sinh. Các cơ quan đoàn thể cần có kế hoạch tuyên truyền để định hướng cho người dân tham gia vào các hoạt động vui chơi giải trí lành mạnh, góp phần giảm việc phát sinh các tệ nạn xã hội, trong đó có các tội phạm về mại dâm.

Thứ ba, tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội. Cụ thể là, chính quyền địa phương và cơ quan công an cần có biện pháp quản lý các cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ phát sinh tệ nạn xã hội trong đó có mại dâm như nhà hàng, quán karaoke, nhà nghỉ, khách sạn, các cơ sở massage, tẩm quất... Các cơ quan công an, quản lý thị trường... cần thường xuyên tiến hành kiểm tra các điểm kinh doanh văn hóa, sử dụng các phần mềm ngăn chặn hiệu quả các website có hình ảnh phản cảm để kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật. Bên cạnh đó, công tác quản lý nhân khẩu, hộ khẩu cần được chú trọng thông qua việc thường xuyên hướng dẫn, kiểm tra người dân đăng ký hộ khẩu, tạm trú, tạm vắng và tăng cường lực lượng làm công tác quản lý nhân khẩu. Tăng cường các biện pháp nhằm phát hiện, xử lý kịp thời các đối tượng là người bán dâm. Đồng thời, cần triển khai các dự án hỗ trợ người bán dâm tái hòa nhập cộng đồng.

Thứ tư, sửa đổi, bổ sung các hình thức xử phạt hành chính theo hướng nghiêm khắc hơn nhằm răn đe, giáo dục đối với người mua dâm và người bán dâm. Nâng mức xử phạt trong Luật Xử phạt vi phạm hành chính và Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm đối với người mua dâm, người bán dâm và các cơ sở kinh doanh dịch vụ có vi phạm chứa chấp hoặc tham gia vào hoạt động mại dâm. Để đáp ứng yêu cầu phòng ngừa mại dâm trong tình hình mới cần bổ sung các quy định về xử lý đối với người thực hiện hành vi khiêu dâm, kích dục. Hiện nay chỉ có thể xử lý hành chính chủ kinh doanh cơ sở để xảy ra hoạt động trên. Muốn vậy, phải thống nhất quan điểm về khái niệm “mại dâm” và sửa đổi khái niệm mua dâm, bán dâm. Bên cạnh đó, hình sự hóa một số hành vi rất nguy hiểm như tổ chức, bảo kê, cưỡng bức mại dâm thành tội danh độc lập làm cơ sở cho việc xử lý, phòng ngừa những hành vi này.

Thứ năm, cần thường xuyên mở các lớp tập huấn để nâng cao trình độ chuyên môn cũng như tăng cường bồi dưỡng nâng cao phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ tiến hành tố tụng.

Đặng Thị Phương Linh
Khoa Luật, Đại học Vinh

[1]. Xem GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa (2010), Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb. Công an nhân dân, tr. 220.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: