Thứ năm 16/04/2026 05:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác theo dõi thi hành pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Trong xu thế đổi mới và hội nhập, những năm qua đất nước ta đã tạo được những xung lực mới cho quá trình phát triển, đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế - xã hội quan trọng, vượt qua tác động của suy thoái toàn cầu và duy trì được tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm cao, bình quân 7,2%/năm, bảo đảm an sinh xã hội.

Năm 2010 đã đánh dấu một mốc quan trọng: Nước ta đã vượt qua ngưỡng nước nghèo, bước vào nhóm nước có mức thu nhập trung bình và đang đi vào thời kỳ của những chiến lược phát triển mới. Tuy nhiên, nước ta vẫn đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức, trong đó có vấn đề suy thoái môi trường gay gắt và nhiều hậu quả của biến đổi khí hậu. Tình trạng suy thoái môi trường, biến đổi khí hậu, mà nước ta là một trong số ít nước chịu tác động nặng nhất, có thể sẽ là những biến số quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước trong những thập niên tới.

Trước hết, khái niệm về môi trường theo Luật Bảo vệ môi trường là: Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật. Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường như đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình thái vật chất khác.

1. Tình hình chung trong công tác theo dõi thi hành pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

1.1. Các văn bản, quy định pháp luật hiện hành trong công tác bảo vệ môi trường

Ngoài Hiến pháp, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 thì hiện nay ở Trung ương có trên 100 văn bản quy định về bảo vệ môi trường, chưa kể các Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết.

Đối với các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hậu Giang gồm:

- Kế hoạch số 10/KH- UBND ngày 11/3/2010 về thực hiện Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 21/3/2009 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị (Khóa XI) về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;

- Quyết định số 12/2010 QĐ-UBND ngày 13/5/2010 về ban hành Quy chế quản lý và bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Hậu Giang;

- Quyết định số 445/2010QĐ-UBND ngày 22/02/2012 về việc phê duyệt Quy hoạch mạng lưới quan trắc môi trường trên địa bàn tỉnh Hậu Giang đến năm 2012;

- Quyết định số 1067/QĐ-UBND ngày 18/4/2012 của UBND tỉnh Hậu Giang về việc phân vùng môi trường tiếp nhận nước thải công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hậu Giang.

1.2. Nội dung đánh giá về mức độ tuân thủ pháp luật của các cơ quan, tổ chức và cá nhân

Tình hình xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường từ ngày 01/10/2011 đến ngày 30/6/2012 trên địa bàn tỉnh Hậu Giang, cấp tỉnh đã xử phạt 9 trường hợp. Trong đó, Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường đã lập thủ tục xử phạt vi phạm hành chính đối với 05 trường hợp thuộc thẩm quyền với số tiền xử phạt: 64.250.000 đồng, Sở Tài nguyên và Môi trường kiến nghị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh xem xét, xử phạt đối với 02 đơn vị thuộc thẩm quyền xử phạt hành chính của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

1.3. Công tác tuyên truyền liên quan đến lĩnh vực bảo vệ môi trường

Sở Tài nguyên và môi trường đã phối hợp với các các ngành liên quan như Đài Phát thanh, Báo Hậu Giang, Tỉnh Đoàn, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân và các đoàn thể khác tổ chức phổ biến, tuyên truyền kiến thức pháp luật về bảo vệ môi trường nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng, nâng cao kiến thức cho cán bộ, chính quyền cơ sở thông qua phương tiện truyền thông đại chúng, tổ chức các buổi tập huấn kiến thức pháp luật bảo vệ môi trường, tổ chức hội thi. Cụ thể:

- Phối hợp với Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện, thị triển khai các văn bản có liên quan đến lĩnh vực môi trường mới ban hành;

- Tổ chức hội nghị tập huấn về kỷ năng viết dự án đề xuất về biến đổi khí hậu cho cán bộ sở, ngành, đoàn thể cấp tỉnh và các huyện, thị xã, thành phố;

- Phối hợp với Đài Phát thanh - Truyền hình Hậu Giang, Báo Hậu Giang xây dựng chuyên đề về bảo vệ môi trường;

- Phối hợp với các đơn vị ký kết liên tịch (Hội Liên hiệp Phụ nữ, Mặt trận Tổ quốc tỉnh, Hội Nông dân, Tỉnh Đoàn,.....) tổ chức các buổi tập huấn cho hội viên, cán bộ cơ sở về kiến thức bảo vệ môi trường, tổ chức hội thi tìm hiểu kiến thức môi trường, biến đổi khí hậu. Sáu tháng đầu năm 2012, Sở Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp tổ chức 18 lớp với 1.608 hội viên tham gia.

1.4. Đánh giá tính hợp lý của các quy định trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Phần lớn các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ và Ủy ban nhân tỉnh đều có ý nghĩa tác động thiết thực đến lĩnh vực bảo vệ môi trường, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, trình độ dân trí, truyền thống văn hóa, phong tục tập quán. Tuy nhiên, cũng còn nội dung chưa phù hợp như: Trong Thông tư số 05/2008/TT-BTNMT ngày 08/02/2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường như sau:

- Về đánh tác động môi trường thì trong phụ lục của từng danh mục về quy mô khối lượng sản xuất, số lượng;

- Về thẩm định cấp giấy chứng nhận cam kết bảo vệ môi trường hiện nay bị vướng mắc là không quy định rõ khối lượng, số lượng của sản xuất hàng hóa và chất thải của một đơn vị sản xuất nhỏ (nhà trọ, mua bán vật liệu xây dựng, kho thuốc trừ sâu nhỏ);

- Đề nghị phải điều chỉnh, bổ sung nội dung Phụ lục 24 của Phần III, qui mô sản xuất kinh doanh về cam kết bảo vệ môi trường.

1.5. Các điều kiện về trang thiết bị, cơ sở vật chất để thực hiện công tác bảo vệ môi trường

Đối với cấp tỉnh thì trang thiết bị, phương tiện và biên chế tương đối đầy đủ nên đảm bảo cho công tác kiểm tra thực hiện trong việc quản lý và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Riêng cấp huyện, cấp xã thì vẫn chưa đảm bảo thực hiện theo đúng quy định, một số huyện công chức làm công tác này còn phải kiêm nhiệm nên phần nào cũng làm giảm đi công tác bảo vệ môi trường.

Đó là những nét cơ bản trong công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường được thực hiện trong thời gian qua.

2. Những thuận lợi, khó khăn và kiến nghị trong công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường

2.1. Thuận lợi

- Công tác tuyên truyền, quản lý và bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh luôn được sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các cấp, được sự chỉ đạo và hỗ trợ của các bộ, ngành Trung ương nên những nhiệm vụ chủ yếu về công tác quản lý và bảo vệ môi trường đã đạt được kết quả khá tốt.

- Công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đã tăng cường góp phần trong việc giảm tình trạng gây ô nhiểm môi trường, hạn chế bức xúc trong vấn đề ô nhiễm môi trường, vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh.

- Các quy định về bảo vệ môi trường, các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn ngày càng được hoàn thiện đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc thực thi pháp luật về quản lý môi trường.

- Lực lượng cảnh sát môi trường, Chi cục Bảo vệ môi trường được thành lập, bước đầu hoạt động có hiệu quả. Nhìn chung, các điều kiện cơ bản, thiết yếu làm tiền đề, tạo thế và lực cho công tác bảo vệ môi trường thời gian tới đã được đáp ứng.

- Ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường trong xã hội được nâng cao. Nhiều vụ vi phạm môi trường được giải quyết dứt điểm. Các giải pháp bảo vệ môi trường trong các dự án phát triển kinh tế - xã hội đã được quan tâm đầu tư thực hiện. Các ngành, lĩnh vực đã huy động được nhiều nguồn lực, sự hỗ trợ của quốc tế và từng bước chủ động bảo vệ, cải thiện môi trường và ứng phó với biến đối khí hậu.

- Trang thiết bị, phượng tiên phục vụ cho công tác bảo vệ môi trường cơ bản đáp ứng được nhiệm vụ được giao.

- Về thể chế để thực hiện: Sau khi Thông tư số 03/2010/TT-BTP ngày 03/3/2010 của Bộ Tư pháp có hiệu lực thi hành, Sở Tư pháp đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 31/KH-UBND ngày 05/10/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang về thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Hậu Giang. Theo đó, hàng năm các sở, ngành của tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện phải có kế hoạch điều tra, khảo sát, kiểm tra công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật do lĩnh vực mình thực hiện.

2.2. Khó khăn

- Kinh phí đầu tư cho hoạt động bảo vệ môi trường còn thấp, chủ yếu là ngân sách địa phương nên chưa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ môi trường, đặc biệt là xử lý ô nhiễm môi trường tại các cơ sở công ích... Sự tham gia, phối hợp của các ngành, chính quyền địa phương trong việc chủ động huy động nguồn vốn viện trợ, tài trợ quốc tế đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường và xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường còn nhiều hạn chế nên việc đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường chưa đáp ứng được yêu cầu.

- Mặc dù đã tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến cơ sở sản xuất, kinh doanh, các tầng lớp nhân dân cộng đồng dân cư, nhưng mức độ nhận thức về bảo vệ môi trường vẫn chưa thật sự tạo ra chuyển biến mới trong hành động về thực hiện tốt trong công tác bảo vệ môi trường của cộng đồng và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.

- Cở sở hạ tầng bảo vệ môi trường tại các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh chưa đáp ứng theo quy định, hầu hết các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh chưa xây dựng được hệ thống xử lý nước thải tập trung do chưa có kinh phí đầu tư. Hiện tại, chỉ thực hiện các biện pháp cải tạo, phục hồi ô nhiễm môi trường tại một số bãi rác hiện hữu, chưa thể xử lý triệt để ô nhiễm môi trường tại các bãi rác vì tỉnh chưa xây dựng bãi rác tập trung đảm bảo hợp vệ sinh theo quy hoạch.

- Trang thiết bị phòng thí nghiệm phục vụ cho đo đạc, phân tích các thành phần môi trường, chất thải phục vụ cho quan trắc, kiểm soát ô nhiễm còn thiếu. Đồng thời, chưa có kinh phí để bố trí hệ thống các trạm quan trắc môi trường tự động. Do đó, việc quan trắc, cảnh báo môi trường, kiểm soát ô nhiễm còn những khó khăn, hạn chế nhất định.

- Cán bộ làm công tác bảo vệ môi trường đa phần là kiêm nhiệm nên gặp rất nhiều khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao.

- Mặc dù Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 31/KH-UBND ngày 05/10/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang về thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Hậu Giang để chỉ đạo các sở, ngành của tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện hàng năm phải có kế hoạch điều tra, khảo sát, kiểm tra công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật do lĩnh vực mình thực hiện. Tuy nhiên, đến nay thì Ngành Tài nguyên và Môi trường vẫn chưa có kế hoạch để thực hiện theo quy định.

2.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

- Các cấp, các ngành, đặc biệt là Ngành Tài nguyên và Môi trường cần có kế hoạch, điều tra, khảo sát công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nhằm qua đó phát hiện những quy định không phù hợp để có hướng đề xuất với cơ quan có thẩm quyền xem điều chỉnh.

- Các cơ quan có thẩm quyền cần phân tích, nhận định, đánh giá được mức độ tuân thủ pháp luật của các cơ quan, tổ chức và cá nhân về các quy định của pháp luật và các văn bản quy phạm pháp luật bảo vệ môi trường xem xét các đối tượng chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường hay không? Nếu có thì ở mức độ nào? Nếu không thì tại sao? Cần tìm hiểu nguyên nhân để kịp thời đưa ra hướng khắc phục.

- Đẩy mạnh quản lý nhà nước về môi trường, tăng cường công tác tập huấn, học hỏi kinh nghiệm về công tác bảo vệ môi trường trong chăn nuôi ở các xã, phường, thị trấn.

- Tăng cường biên chế cán bộ làm công tác bảo vệ môi trường cho cấp huyện, cấp xã.

- Tăng cường công tác tuyên truyền, quản lý và bảo vệ môi trường; tăng cường sự chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các cấp, được sự chỉ đạo và hỗ trợ của các Bộ, ngành Trung ương trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường.

- Bổ sung trang thiết bị, phương tiện để phục vụ cho đo đạc, phân tích các thành phần môi trường, chất thải phục vụ cho xử phạt, quan trắc, kiểm soát ô nhiễm còn thiếu.

- Sửa đổi, bổ sung những quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, đặc biệt là quy định tại Khoản 1, Điều 11 Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 của Chính phủ về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, theo đó phạt tiền từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi thải mùi hôi thối, mùi khó chịu vào môi trường, nhưng hiện nay chưa có thiết bị để thử mẫu và phân tích, cũng như chưa ban hành ngưỡng về mức độ gây ô nhiễm,...

- Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu để trình Chính phủ sửa đổi Nghị định cho phù hợp. Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn, vì việc thu phí này khó thực hiện.

Môi trường là yếu tố có vai trò quan trọng đối với cuộc sống của con người và có mối quan hệ khắng khít, gắn bó chặt chẽ với phát triển kinh tế - xã hội. Thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường chính là góp phần tích cực đẩy mạnh việc phát triển kinh tế - xã hội.

Sở Tư Pháp Hậu Giang

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.

Theo dõi chúng tôi trên: