Thứ bảy 27/06/2026 23:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ đại diện ở Việt Nam

Trên cơ sở khái quát về cơ chế pháp lý thực hiện các thiết chế về dân chủ đại diện, bài viết phân tích tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế pháp lý đảm bảo thực hiện ở Việt Nam qua tính toàn diện, khách quan, minh bạch và công khai; thực hiện nghiêm túc và đầy đủ quy định pháp luật; đảm bảo hiệu quả và tạo động lực cho sự phát triển, đảm bảo tính khoa học và khả thi...


Dân chủ là văn minh của nhân loại và là nền tảng, giá trị đạo đức, là cơ sở để phát huy bản chất của Nhà nước, của mỗi chế độ, là sự hướng đến các giá trị cao quý khác. Dân chủ, suy cho cùng phải được thực hiện trong thực tiễn và được Nhà nước đảm bảo, thúc đẩy cho việc hiện thực hoá trong đời sống xã hội nói chung và đời sống chính trị nói riêng. Do đó, Nhà nước nào cũng tìm cho mình một cơ chế pháp lý hữu hiệu để thực hiện dân chủ có hiệu quả thông qua hệ thống pháp luật, hình thức pháp lý và phương pháp pháp lý hữu hiệu.

Dân chủ đại diện cũng vậy, việc tìm ra cơ quan đại diện, người đại diện và cách thức để cơ quan, người đại diện đó thực hiện sứ mệnh của người ủy quyền là một đòi hỏi mang tính tự thân của nền dân chủ. Tuy nhiên, ủy quyền và thực hiện ủy quyền không đơn giản trong xã hội và nền chính trị vận động ngày càng hướng đến thực chất hơn. Người dân mong muốn có được lợi ích thông qua việc ủy quyền nhưng không muốn mất nhiều thời gian và công sức trong việc tìm ra người ủy quyền và hầu như không có nhiều mối liên lạc với người được ủy quyền trong suốt thời gian ủy quyền. Cơ quan đại diện hoạt động vì nhiều sứ mệnh và mang tính đại diện rộng rãi, nên mặc dù cố gắng nói lên tiếng nói của cử tri song nhiều khi lại chưa đáp ứng được. Điều đó đặt ra vấn đề, Nhà nước cần có cơ chế pháp lý hoàn thiện để dân chủ đại diện đạt được mục đích và mang lại ý nghĩa thiết thực cho từng cá nhân, cho cộng đồng, nhóm lợi ích và toàn xã hội.

Cơ chế pháp lý nhằm thực hiện các thiết chế dân chủ đại diện được hiểu là quá trình đưa các quy định pháp luật về cách thức tổ chức, hoạt động của các thiết chế dân chủ đại diện để các đại biểu và cơ quan dân cử vận hành một cách thông suốt, có hiệu lực và hiệu quả. Việc đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế này cần xem xét qua các tiêu chí sau đây:

1. Đảm bảo tính toàn diện và khách quan

Tính toàn diện, khách quan của cơ chế phải thể hiện đủ nội hàm của dân chủ trong các hình thức và nội dung hoạt động. Có nghĩa là, các quy định pháp luật về dân chủ trong ứng cử, bầu cử, tranh cử, thực hiện quyền đại biểu dân cử trong quá trình lập pháp, lập quy; quy định về dân chủ trong thảo luận, xem xét, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, của địa phương; quy định về dân chủ trong giám sát, kiến nghị giám sát, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện kiến nghị giám sát phải đảm bảo vừa đầy đủ, vừa không mâu thuẫn, chồng chéo. Đồng thời, các quy định pháp luật cần thể hiện đầy đủ các nội dung như dân chủ trong bàn bạc, thảo luận về các quyết sách chính trị, các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá, quốc tế...; dân chủ trong bàn bạc, thảo luận, biểu quyết. Hơn thế nữa, tính toàn diện và khách quan đòi hỏi cơ chế pháp lý đó phải quy định một cách cụ thể, công khai quy trình, cách thức và trách nhiệm của đại biểu dân cử trong tiếp xúc cử tri, thu nhận ý kiến của cử tri và tham gia ý kiến phát biểu, thảo luận, tranh luận, chất vấn, miễn nhiệm, bãi nhiệm đại biểu trên cơ sở ý chí của cử tri bầu ra họ và vì cử tri. Tính toàn diện đòi hỏi sự thể hiện một cách đầy đủ bản chất dân chủ trong từng quy định về hình thức pháp lý, phương pháp pháp lý và hậu quả pháp lý của cơ chế, về tần suất trong quá trình đại biểu sử dụng các quy định đó, đồng thời, phản ánh yếu tố thường xuyên, cạnh tranh của các cuộc bầu cử, yếu tố phổ thông đầu phiếu, cạnh tranh trong bầu cử và đặc biệt là đảm bảo không có gian lận, thiếu trung thực trong quá trình bầu cử.

Tính khách quan của cơ chế là khẳng định không chấp nhận ngoại lệ cho bất cứ đại biểu hoặc cá nhân nào. Nó đòi hỏi quyền của cử tri về bầu cử, ứng cử phải được tôn trọng và bảo vệ. Nhà nước, cơ quan nhà nước có thẩm quyền và cá nhân có liên quan là những chủ thể có trách nhiệm đảm bảo sự khách quan, minh bạch, chính xác trong quá trình bầu cử và hoạt động đại biểu như đưa thông tin chính xác, công bằng, không thiên vị về người ứng cử với cử tri, về kết quả hoạt động của từng đại biểu dân cử trong nhiệm kỳ và đặc biệt phải khách quan trong việc tiến hành các biện pháp khen thưởng, kỷ luật, miễn nhiệm, bãi nhiệm đại biểu. Một cơ chế khách quan phải là cơ chế đáp ứng tiêu chí có hệ thống pháp luật minh bạch, dễ sử dụng, dễ giám sát và dễ thay thế khi các chủ thể thực hiện không còn đảm bảo uy tín và vai trò đại diện cho cử tri và nhân dân. Tính khách quan còn thể hiện trong các quy phạm pháp luật về mối quan hệ giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị với cơ quan dân chủ; về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với quá trình lãnh đạo cơ quan dân cử để đảm bảo rằng, Đảng có phương pháp lãnh đạo dân chủ, lắng nghe ý kiến của cơ quan dân cử, người đại biểu để đưa ra ý kiến lãnh đạo kịp thời, khách quan, tuân theo quy luật. Luật hoá mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và Nhà nước trên cơ sở dân chủ chính là điều kiện khách quan để nhân dân dám nói, dám nghĩ, dám đề xuất ý kiến với cán bộ dân cử và thông qua đó, cán bộ đảng viên “hoá thân” vào đại biểu dân cử nâng cao bản lĩnh chính trị và tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, cử tri trong hoạt động đại biểu của họ, đảm bảo để tự do tư tưởng, tự do thảo luận, tranh luận nhằm tìm ra chân lý, khắc phục thói áp đặt, quan liêu, mệnh lệnh hoặc bảo thủ, trì trệ. Tính khách quan của cơ chế cũng đòi hỏi sự thuận lợi, đơn giản, công khai, minh bạch trong trình tự, thủ tục vận hành. Tính khách quan thể hiện ở mức độ hiểu biết của các đại biểu dân cử trong việc tôn trọng quy luật khách quan của nền kinh tế, của các mối quan hệ xã hội để chuyển tải vào các văn bản pháp luật; mức độ quan hệ với cử tri nơi bầu ra và cử tri ở các địa phương khác; mức độ bảo vệ lợi ích của nhóm cử tri này và mức độ bảo vệ lợi ích của nhóm cử tri khác cần được đảm bảo không có sự chênh lệch thái quá; mức độ tôn trọng sự thật khách quan của đại biểu dân cử trong quá trình thực hiện; trình tự, thủ tục được tuân thủ chặt chẽ về thời gian, quy trình…

2. Đảm bảo tính công khai, minh bạch

Tiêu chí công khai, minh bạch đòi hỏi công khai về nguyên tắc vận hành của cơ chế, công khai về hoạt động và kết quả hoạt động, công khai trong thảo luận, trong quá trình ra nghị quyết. Tiêu chí này gồm tiêu chí về định tính và tiêu chí định lượng. Đính tính thể hiện tính chất công khai, minh bạch trong nội dung hoạt động ở mức độ rõ ràng, mức độ đảm bảo cho người dân dễ hiểu, dễ tiếp cận và đặc biệt không tốn nhiều chi phí cho việc tiếp cận thông tin hoạt động của cơ quan dân cử; mức độ người dân được biết về thời gian công bố văn bản pháp luật, số lượng văn bản pháp luật được công bố, nơi công bố và các công cụ để tra cứu, mức độ thường xuyên hay không thường xuyên công bố; đầy đủ hay không đầy đủ trong việc công khai; liên tục hay không liên tục trong việc giải thích là nội hàm về định tính của tiêu chí công khai, minh bạch. Tiêu chí này cũng là thước đo về số lượng đại biểu dân cử tham gia trong các hoạt động đại biểu (số lượng các buổi họp, số lần phát biểu, số lần vắng mặt, số lần tiếp xúc cử tri, số lần giám sát, số lần biểu quyết…). Ngoài ra, tiêu chí công khai, minh bạch đòi hỏi về luật pháp, chính sách, thông tin; tính quy định trách nhiệm, tính ràng buộc giữa quyền và nghĩa vụ từ cán bộ công chức tới công dân, đó là những yêu cầu không thể thiếu để bảo đảm dân chủ thực chất.

3. Tuân thủ pháp luật đầy đủ và nghiêm túc

Tuân thủ pháp luật một cách đầy đủ và nghiêm túc là tiêu chí mang nội hàm định tính và định lượng. Trước hết là, yêu cầu các chủ thể nhận thức đầy đủ vai trò của cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ đại diện, chức năng đại diện một cách thường xuyên, liên tục ở tất cả các khâu, các công đoạn từ ứng cử, bầu cử, thực hiện chức năng đại biểu, giải trình, bãi miễn và bãi nhiệm đại biểu dân cử. Đây được xem là tiêu chí quan trọng đòi hỏi các chủ thể của cơ chế pháp lý phải đề cao năng lực và thói quen áp dụng pháp luật và sử dụng pháp luật. Bởi nếu đáp ứng được tiêu chí này, thì sẽ tìm được người ứng cử đủ điều kiện, đủ tiêu chuẩn đại diện; cử tri đi bầu cử có đủ năng lực hành vi, năng lực chính trị, pháp lý và nhận thức để thực hiện quyền của mình bầu hay không bầu người xứng đáng làm đại biểu, thay mặt họ tham gia cơ quan nhà nước và thực hiện quyền lực nhà nước. Nếu việc thực hiện pháp luật không đúng đắn sẽ dẫn đến hiện tượng vi phạm nguyên tắc bầu cử, chất lượng của đại biểu không đảm bảo. Theo quan điểm của Lê Nin thì: “Nền dân chủ là sự thống trị của đa số. Chỉ có cuộc tuyển cử phổ thông, trực tiếp, bình đẳng mới được gọi là dân chủ”[1]. Theo đó, nếu quá trình vận hành không áp dụng đúng các nguyên tắc pháp lý thì tiêu chí tuân thủ nghiêm túc sẽ không đạt được, cơ chế dân chủ đó chưa thể được đánh giá là hoàn thiện.

Hoạt động của các thiết chế dân chủ đại diện được thiết lập và vận hành trên cơ sở pháp luật. Do đó, đòi hỏi tiêu chí nghiêm túc và đầy đủ trong quá trình thực hiện phải được đặt lên hàng đầu, bởi các chủ thể trong cơ chế pháp lý được pháp luật quy định về cách thức thành lập, vị trí pháp lý, chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền. Đồng thời, hình thức, phương pháp và hậu quả pháp lý của cơ chế cũng được pháp luật quy định chặt chẽ để tránh trường hợp hình thành một cơ chế lỏng lẻo và vận hàng mang tính hình thức. Bên cạnh đó, cũng cần đáp ứng tiêu chí nghiêm túc, đầy đủ trong quán triệt và tuân thủ chính sách của Đảng, điều lệ của tổ chức có người tham gia cơ quan đại diện và quy chế của cơ quan, tổ chức đại diện, bởi đại biểu không chỉ đại diện cho cử tri, mà còn là đối tượng ưu tú của các tổ chức đảng, mặt trận và đoàn thể. Do đó, chủ thể đó vừa phải nghiêm túc trong thực hiện pháp luật, vừa phải nghiêm túc trong thực hiện chính sách của Đảng và điều lệ của tổ chức tham gia.

4. Đảm bảo hiệu quả và tạo động lực cho sự phát triển

Cơ chế pháp lý nhằm thực hiện các thiết chế dân chủ đại diện là sự hiện thực hoá mục tiêu của dân chủ trong thực tế đời sống xã hội, bởi vậy, nếu được đánh giá là hoàn thiện cần căn cứ vào tiêu chí hiệu quả và động lực cho sự phát triển. Đây là động lực là tiêu chí vừa mang tính định tính và định lượng. Định tính thể hiện mức độ của động lực phát triển về kinh tế, xã hội khi cơ chế pháp lý dân chủ trực tiếp vận hành. Đó là thước đo về hiệu quả hoạt động của cơ quan dân cử. Quá trình quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, của địa phương do các đại biểu dân cử và cơ quan dân cử thực hiện chính là động lực cho sự phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương và từng cử tri. Hiệu quả đó thể hiện ở sự đảm bảo công ăn việc làm cho mỗi người dân, đồng thời người dân được tôn trọng những quyền và lợi ích hợp pháp mà trước hết là lợi ích vật chất như có nhà ở và điều kiện thiết yếu, trẻ em được đến trường, được chăm sóc sức khỏe và lợi ích tinh thần như được ngang nhau về quyền và nghĩa vụ. Theo đó, tiêu chí hiệu quả và động lực cho sự phát triển chính là đại lượng để phân định sự hài lòng của người dân về các chính sách, pháp luật do cơ quan dân cử ban hành có thiết thực không, có là động lực cho việc nâng cao năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả lao động trong xã hội không. Đó chính là thước đo giá trị thực tế của dân chủ. Bên cạnh đó, tiêu chí này còn đo đếm được mức độ và khả năng của cử tri thể hiện ý kiến, kiến nghị của mình đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền; đo đếm được mức độ thấu hiểu của cơ quan dân cử đối với mong muốn và sự hài lòng, chưa hài lòng về chính quyền trung ương và chính quyền địa phương để có những quyết sách coi trọng nguồn lực trong nhân dân, tạo cơ sở cho người dân sáng tạo, giải phóng tư tưởng, giải phóng ý thức, không rơi vào tình trạng giả dối, trọng hình thức.

Định lượng về động lực phát triển để đánh giá sự hoàn thiện của việc thực hiện còn thể hiện ở việc xác định có bao nhiêu văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan đại diện thông qua đã thể hiện được thái độ của Nhà nước về sự ghi nhận, thúc đẩy, bảo đảm và bảo vệ quyền chính trị, dân sự, quyền kinh tế - văn hoá - xã hội của con người; về số lượng chính sách do cơ quan đại diện ban hành chăm lo công ăn việc làm cho người dân, khuyến khích dân chủ động tự lo việc làm, quan tâm xóa đói, giảm nghèo và khuyến khích người dân làm giàu chính đáng bằng sức lao động của mình, được pháp luật cho phép; có bao nhiêu chính sách được ban hành đã chú trọng tới sự tiến bộ và trưởng thành của các thế hệ trẻ em, phụ nữ, thanh niên, người lao động, người già, trẻ em, trí thức, nhân tài. Số lượng các văn bản quy phạm pháp luật càng nhiều, càng thể hiện mức độ hoàn thiện của cơ chế dân chủ, song ở khía cạnh đánh giá thực chất của cơ chế thì cần xác định có những hành vi nào xâm hại phổ biến đến quyền phát triển của con người, bao gồm: Quyền được học tập, quyền lao động, quyền an sinh xã hội, quyền có việc làm, quyền hưởng thụ văn hoá - nghệ thuật...

5. Đảm bảo tính khoa học và khả thi

Tiêu chí khoa học, khả thi của cơ chế pháp lý nhằm thực hiện các thiết chế dân chủ đại diện là đòi hỏi về mức độ hoàn thiện của trình tự, thủ tục, hình thức pháp lý, phương pháp và hậu quả pháp lý của cơ chế, đồng thời thể hiện tính khả thi của các văn bản quy phạm pháp luật quy định về dân chủ đại diện như chế độ bầu cử, ứng cử, tranh cử, chế độ hoạt động và phương thức hoạt động của người đại biểu và cơ quan dân cử. Mối quan hệ giữa các cơ quan dân cử với cử tri và cơ quan trong hệ thống chính trị cũng cần đảm bảo tính khoa học, nếu không sẽ rơi vào trạng thái thiếu phối hợp hoặc chồng lấn trong hoạt động. Tính khoa học là tiêu chí định tính, đo lường mức độ hoàn thiện của cơ chế này. Nếu như việc bầu cử không tuân theo nguyên tắc bầu cử, các đại biểu không tự giác trong hoạt động, không vận dụng pháp luật trong quá trình hoạt động thì cơ chế đó chỉ ở trên giấy, thiếu tính khả thi. Hoặc khi áp dụng, các quy định pháp lý không đủ để làm căn cứ để hoạt động đại biểu, hoặc khó áp dụng, áp dụng nhưng chồng chéo với các cơ quan khác nhưng không có cơ chế tháo gỡ sự mâu thuẫn, chồng chéo đó thì cơ chế đó không khoa học, không khả thi. Ví dụ như trường hợp cùng một địa phương, cùng một thời điểm có đến 02 đoàn giám sát của Quốc hội... Hay có quy định về thành lập Ủy ban lâm thời của Quốc hội trong trường hợp cần thiết, song thực tế lại rất khó để áp dụng quy định này.

Tóm lại, để đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế pháp lý nhằm thực hiện các thiết chế dân chủ đại diện đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí khoa học, phù hợp với đặc thù của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được xây dựng trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong cơ chế quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đặc thù này đòi hỏi khi đánh giá cơ chế pháp lý nhằm thực hiện các thiết chế dân chủ đại diện phải chú trọng tới liều lượng và nội hàm của từng tiêu chí, bởi các tiêu chí đều là các khía cạnh phản ánh sâu sắc nền dân chủ ở Việt Nam. Việc xác định tiêu chí để đánh giá cơ chế chính là nhằm làm nổi bật những ưu điểm, hạn chế và tìm ra nguyên nhân để hoàn thiện, trong đó, nhấn mạnh đến khả năng hoàn thiện trình độ của cơ quan đại diện, nhấn mạnh vai trò của đại biểu dân cử và hướng đến nâng cao năng lực, ý thức chính trị tích cực của cử tri. Việc xác định đúng các tiêu chí đánh giá cơ chế cũng chính là nhằm mục tiêu đảm bảo để cử tri biết cách bảo vệ các quyền làm chủ của họ và đại biểu dân cử nâng cao năng lực đại diện trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

PGS.TS. Trương Thị Hồng Hà

Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương

PGS.TS. Nguyễn Việt Hương

Viện Nhà nước và Pháp luật







[1]. V.I.Lê Nin (1981), toàn tập, Tập 18, Nxb. Tiến bộ, Matxcơva.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: