Thứ ba 13/10/2026 11:41
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ đại diện ở Việt Nam

Trên cơ sở khái quát về cơ chế pháp lý thực hiện các thiết chế về dân chủ đại diện, bài viết phân tích tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế pháp lý đảm bảo thực hiện ở Việt Nam qua tính toàn diện, khách quan, minh bạch và công khai; thực hiện nghiêm túc và đầy đủ quy định pháp luật; đảm bảo hiệu quả và tạo động lực cho sự phát triển, đảm bảo tính khoa học và khả thi...


Dân chủ là văn minh của nhân loại và là nền tảng, giá trị đạo đức, là cơ sở để phát huy bản chất của Nhà nước, của mỗi chế độ, là sự hướng đến các giá trị cao quý khác. Dân chủ, suy cho cùng phải được thực hiện trong thực tiễn và được Nhà nước đảm bảo, thúc đẩy cho việc hiện thực hoá trong đời sống xã hội nói chung và đời sống chính trị nói riêng. Do đó, Nhà nước nào cũng tìm cho mình một cơ chế pháp lý hữu hiệu để thực hiện dân chủ có hiệu quả thông qua hệ thống pháp luật, hình thức pháp lý và phương pháp pháp lý hữu hiệu.

Dân chủ đại diện cũng vậy, việc tìm ra cơ quan đại diện, người đại diện và cách thức để cơ quan, người đại diện đó thực hiện sứ mệnh của người ủy quyền là một đòi hỏi mang tính tự thân của nền dân chủ. Tuy nhiên, ủy quyền và thực hiện ủy quyền không đơn giản trong xã hội và nền chính trị vận động ngày càng hướng đến thực chất hơn. Người dân mong muốn có được lợi ích thông qua việc ủy quyền nhưng không muốn mất nhiều thời gian và công sức trong việc tìm ra người ủy quyền và hầu như không có nhiều mối liên lạc với người được ủy quyền trong suốt thời gian ủy quyền. Cơ quan đại diện hoạt động vì nhiều sứ mệnh và mang tính đại diện rộng rãi, nên mặc dù cố gắng nói lên tiếng nói của cử tri song nhiều khi lại chưa đáp ứng được. Điều đó đặt ra vấn đề, Nhà nước cần có cơ chế pháp lý hoàn thiện để dân chủ đại diện đạt được mục đích và mang lại ý nghĩa thiết thực cho từng cá nhân, cho cộng đồng, nhóm lợi ích và toàn xã hội.

Cơ chế pháp lý nhằm thực hiện các thiết chế dân chủ đại diện được hiểu là quá trình đưa các quy định pháp luật về cách thức tổ chức, hoạt động của các thiết chế dân chủ đại diện để các đại biểu và cơ quan dân cử vận hành một cách thông suốt, có hiệu lực và hiệu quả. Việc đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế này cần xem xét qua các tiêu chí sau đây:

1. Đảm bảo tính toàn diện và khách quan

Tính toàn diện, khách quan của cơ chế phải thể hiện đủ nội hàm của dân chủ trong các hình thức và nội dung hoạt động. Có nghĩa là, các quy định pháp luật về dân chủ trong ứng cử, bầu cử, tranh cử, thực hiện quyền đại biểu dân cử trong quá trình lập pháp, lập quy; quy định về dân chủ trong thảo luận, xem xét, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, của địa phương; quy định về dân chủ trong giám sát, kiến nghị giám sát, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện kiến nghị giám sát phải đảm bảo vừa đầy đủ, vừa không mâu thuẫn, chồng chéo. Đồng thời, các quy định pháp luật cần thể hiện đầy đủ các nội dung như dân chủ trong bàn bạc, thảo luận về các quyết sách chính trị, các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá, quốc tế...; dân chủ trong bàn bạc, thảo luận, biểu quyết. Hơn thế nữa, tính toàn diện và khách quan đòi hỏi cơ chế pháp lý đó phải quy định một cách cụ thể, công khai quy trình, cách thức và trách nhiệm của đại biểu dân cử trong tiếp xúc cử tri, thu nhận ý kiến của cử tri và tham gia ý kiến phát biểu, thảo luận, tranh luận, chất vấn, miễn nhiệm, bãi nhiệm đại biểu trên cơ sở ý chí của cử tri bầu ra họ và vì cử tri. Tính toàn diện đòi hỏi sự thể hiện một cách đầy đủ bản chất dân chủ trong từng quy định về hình thức pháp lý, phương pháp pháp lý và hậu quả pháp lý của cơ chế, về tần suất trong quá trình đại biểu sử dụng các quy định đó, đồng thời, phản ánh yếu tố thường xuyên, cạnh tranh của các cuộc bầu cử, yếu tố phổ thông đầu phiếu, cạnh tranh trong bầu cử và đặc biệt là đảm bảo không có gian lận, thiếu trung thực trong quá trình bầu cử.

Tính khách quan của cơ chế là khẳng định không chấp nhận ngoại lệ cho bất cứ đại biểu hoặc cá nhân nào. Nó đòi hỏi quyền của cử tri về bầu cử, ứng cử phải được tôn trọng và bảo vệ. Nhà nước, cơ quan nhà nước có thẩm quyền và cá nhân có liên quan là những chủ thể có trách nhiệm đảm bảo sự khách quan, minh bạch, chính xác trong quá trình bầu cử và hoạt động đại biểu như đưa thông tin chính xác, công bằng, không thiên vị về người ứng cử với cử tri, về kết quả hoạt động của từng đại biểu dân cử trong nhiệm kỳ và đặc biệt phải khách quan trong việc tiến hành các biện pháp khen thưởng, kỷ luật, miễn nhiệm, bãi nhiệm đại biểu. Một cơ chế khách quan phải là cơ chế đáp ứng tiêu chí có hệ thống pháp luật minh bạch, dễ sử dụng, dễ giám sát và dễ thay thế khi các chủ thể thực hiện không còn đảm bảo uy tín và vai trò đại diện cho cử tri và nhân dân. Tính khách quan còn thể hiện trong các quy phạm pháp luật về mối quan hệ giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị với cơ quan dân chủ; về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với quá trình lãnh đạo cơ quan dân cử để đảm bảo rằng, Đảng có phương pháp lãnh đạo dân chủ, lắng nghe ý kiến của cơ quan dân cử, người đại biểu để đưa ra ý kiến lãnh đạo kịp thời, khách quan, tuân theo quy luật. Luật hoá mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và Nhà nước trên cơ sở dân chủ chính là điều kiện khách quan để nhân dân dám nói, dám nghĩ, dám đề xuất ý kiến với cán bộ dân cử và thông qua đó, cán bộ đảng viên “hoá thân” vào đại biểu dân cử nâng cao bản lĩnh chính trị và tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, cử tri trong hoạt động đại biểu của họ, đảm bảo để tự do tư tưởng, tự do thảo luận, tranh luận nhằm tìm ra chân lý, khắc phục thói áp đặt, quan liêu, mệnh lệnh hoặc bảo thủ, trì trệ. Tính khách quan của cơ chế cũng đòi hỏi sự thuận lợi, đơn giản, công khai, minh bạch trong trình tự, thủ tục vận hành. Tính khách quan thể hiện ở mức độ hiểu biết của các đại biểu dân cử trong việc tôn trọng quy luật khách quan của nền kinh tế, của các mối quan hệ xã hội để chuyển tải vào các văn bản pháp luật; mức độ quan hệ với cử tri nơi bầu ra và cử tri ở các địa phương khác; mức độ bảo vệ lợi ích của nhóm cử tri này và mức độ bảo vệ lợi ích của nhóm cử tri khác cần được đảm bảo không có sự chênh lệch thái quá; mức độ tôn trọng sự thật khách quan của đại biểu dân cử trong quá trình thực hiện; trình tự, thủ tục được tuân thủ chặt chẽ về thời gian, quy trình…

2. Đảm bảo tính công khai, minh bạch

Tiêu chí công khai, minh bạch đòi hỏi công khai về nguyên tắc vận hành của cơ chế, công khai về hoạt động và kết quả hoạt động, công khai trong thảo luận, trong quá trình ra nghị quyết. Tiêu chí này gồm tiêu chí về định tính và tiêu chí định lượng. Đính tính thể hiện tính chất công khai, minh bạch trong nội dung hoạt động ở mức độ rõ ràng, mức độ đảm bảo cho người dân dễ hiểu, dễ tiếp cận và đặc biệt không tốn nhiều chi phí cho việc tiếp cận thông tin hoạt động của cơ quan dân cử; mức độ người dân được biết về thời gian công bố văn bản pháp luật, số lượng văn bản pháp luật được công bố, nơi công bố và các công cụ để tra cứu, mức độ thường xuyên hay không thường xuyên công bố; đầy đủ hay không đầy đủ trong việc công khai; liên tục hay không liên tục trong việc giải thích là nội hàm về định tính của tiêu chí công khai, minh bạch. Tiêu chí này cũng là thước đo về số lượng đại biểu dân cử tham gia trong các hoạt động đại biểu (số lượng các buổi họp, số lần phát biểu, số lần vắng mặt, số lần tiếp xúc cử tri, số lần giám sát, số lần biểu quyết…). Ngoài ra, tiêu chí công khai, minh bạch đòi hỏi về luật pháp, chính sách, thông tin; tính quy định trách nhiệm, tính ràng buộc giữa quyền và nghĩa vụ từ cán bộ công chức tới công dân, đó là những yêu cầu không thể thiếu để bảo đảm dân chủ thực chất.

3. Tuân thủ pháp luật đầy đủ và nghiêm túc

Tuân thủ pháp luật một cách đầy đủ và nghiêm túc là tiêu chí mang nội hàm định tính và định lượng. Trước hết là, yêu cầu các chủ thể nhận thức đầy đủ vai trò của cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ đại diện, chức năng đại diện một cách thường xuyên, liên tục ở tất cả các khâu, các công đoạn từ ứng cử, bầu cử, thực hiện chức năng đại biểu, giải trình, bãi miễn và bãi nhiệm đại biểu dân cử. Đây được xem là tiêu chí quan trọng đòi hỏi các chủ thể của cơ chế pháp lý phải đề cao năng lực và thói quen áp dụng pháp luật và sử dụng pháp luật. Bởi nếu đáp ứng được tiêu chí này, thì sẽ tìm được người ứng cử đủ điều kiện, đủ tiêu chuẩn đại diện; cử tri đi bầu cử có đủ năng lực hành vi, năng lực chính trị, pháp lý và nhận thức để thực hiện quyền của mình bầu hay không bầu người xứng đáng làm đại biểu, thay mặt họ tham gia cơ quan nhà nước và thực hiện quyền lực nhà nước. Nếu việc thực hiện pháp luật không đúng đắn sẽ dẫn đến hiện tượng vi phạm nguyên tắc bầu cử, chất lượng của đại biểu không đảm bảo. Theo quan điểm của Lê Nin thì: “Nền dân chủ là sự thống trị của đa số. Chỉ có cuộc tuyển cử phổ thông, trực tiếp, bình đẳng mới được gọi là dân chủ”[1]. Theo đó, nếu quá trình vận hành không áp dụng đúng các nguyên tắc pháp lý thì tiêu chí tuân thủ nghiêm túc sẽ không đạt được, cơ chế dân chủ đó chưa thể được đánh giá là hoàn thiện.

Hoạt động của các thiết chế dân chủ đại diện được thiết lập và vận hành trên cơ sở pháp luật. Do đó, đòi hỏi tiêu chí nghiêm túc và đầy đủ trong quá trình thực hiện phải được đặt lên hàng đầu, bởi các chủ thể trong cơ chế pháp lý được pháp luật quy định về cách thức thành lập, vị trí pháp lý, chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền. Đồng thời, hình thức, phương pháp và hậu quả pháp lý của cơ chế cũng được pháp luật quy định chặt chẽ để tránh trường hợp hình thành một cơ chế lỏng lẻo và vận hàng mang tính hình thức. Bên cạnh đó, cũng cần đáp ứng tiêu chí nghiêm túc, đầy đủ trong quán triệt và tuân thủ chính sách của Đảng, điều lệ của tổ chức có người tham gia cơ quan đại diện và quy chế của cơ quan, tổ chức đại diện, bởi đại biểu không chỉ đại diện cho cử tri, mà còn là đối tượng ưu tú của các tổ chức đảng, mặt trận và đoàn thể. Do đó, chủ thể đó vừa phải nghiêm túc trong thực hiện pháp luật, vừa phải nghiêm túc trong thực hiện chính sách của Đảng và điều lệ của tổ chức tham gia.

4. Đảm bảo hiệu quả và tạo động lực cho sự phát triển

Cơ chế pháp lý nhằm thực hiện các thiết chế dân chủ đại diện là sự hiện thực hoá mục tiêu của dân chủ trong thực tế đời sống xã hội, bởi vậy, nếu được đánh giá là hoàn thiện cần căn cứ vào tiêu chí hiệu quả và động lực cho sự phát triển. Đây là động lực là tiêu chí vừa mang tính định tính và định lượng. Định tính thể hiện mức độ của động lực phát triển về kinh tế, xã hội khi cơ chế pháp lý dân chủ trực tiếp vận hành. Đó là thước đo về hiệu quả hoạt động của cơ quan dân cử. Quá trình quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, của địa phương do các đại biểu dân cử và cơ quan dân cử thực hiện chính là động lực cho sự phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương và từng cử tri. Hiệu quả đó thể hiện ở sự đảm bảo công ăn việc làm cho mỗi người dân, đồng thời người dân được tôn trọng những quyền và lợi ích hợp pháp mà trước hết là lợi ích vật chất như có nhà ở và điều kiện thiết yếu, trẻ em được đến trường, được chăm sóc sức khỏe và lợi ích tinh thần như được ngang nhau về quyền và nghĩa vụ. Theo đó, tiêu chí hiệu quả và động lực cho sự phát triển chính là đại lượng để phân định sự hài lòng của người dân về các chính sách, pháp luật do cơ quan dân cử ban hành có thiết thực không, có là động lực cho việc nâng cao năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả lao động trong xã hội không. Đó chính là thước đo giá trị thực tế của dân chủ. Bên cạnh đó, tiêu chí này còn đo đếm được mức độ và khả năng của cử tri thể hiện ý kiến, kiến nghị của mình đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền; đo đếm được mức độ thấu hiểu của cơ quan dân cử đối với mong muốn và sự hài lòng, chưa hài lòng về chính quyền trung ương và chính quyền địa phương để có những quyết sách coi trọng nguồn lực trong nhân dân, tạo cơ sở cho người dân sáng tạo, giải phóng tư tưởng, giải phóng ý thức, không rơi vào tình trạng giả dối, trọng hình thức.

Định lượng về động lực phát triển để đánh giá sự hoàn thiện của việc thực hiện còn thể hiện ở việc xác định có bao nhiêu văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan đại diện thông qua đã thể hiện được thái độ của Nhà nước về sự ghi nhận, thúc đẩy, bảo đảm và bảo vệ quyền chính trị, dân sự, quyền kinh tế - văn hoá - xã hội của con người; về số lượng chính sách do cơ quan đại diện ban hành chăm lo công ăn việc làm cho người dân, khuyến khích dân chủ động tự lo việc làm, quan tâm xóa đói, giảm nghèo và khuyến khích người dân làm giàu chính đáng bằng sức lao động của mình, được pháp luật cho phép; có bao nhiêu chính sách được ban hành đã chú trọng tới sự tiến bộ và trưởng thành của các thế hệ trẻ em, phụ nữ, thanh niên, người lao động, người già, trẻ em, trí thức, nhân tài. Số lượng các văn bản quy phạm pháp luật càng nhiều, càng thể hiện mức độ hoàn thiện của cơ chế dân chủ, song ở khía cạnh đánh giá thực chất của cơ chế thì cần xác định có những hành vi nào xâm hại phổ biến đến quyền phát triển của con người, bao gồm: Quyền được học tập, quyền lao động, quyền an sinh xã hội, quyền có việc làm, quyền hưởng thụ văn hoá - nghệ thuật...

5. Đảm bảo tính khoa học và khả thi

Tiêu chí khoa học, khả thi của cơ chế pháp lý nhằm thực hiện các thiết chế dân chủ đại diện là đòi hỏi về mức độ hoàn thiện của trình tự, thủ tục, hình thức pháp lý, phương pháp và hậu quả pháp lý của cơ chế, đồng thời thể hiện tính khả thi của các văn bản quy phạm pháp luật quy định về dân chủ đại diện như chế độ bầu cử, ứng cử, tranh cử, chế độ hoạt động và phương thức hoạt động của người đại biểu và cơ quan dân cử. Mối quan hệ giữa các cơ quan dân cử với cử tri và cơ quan trong hệ thống chính trị cũng cần đảm bảo tính khoa học, nếu không sẽ rơi vào trạng thái thiếu phối hợp hoặc chồng lấn trong hoạt động. Tính khoa học là tiêu chí định tính, đo lường mức độ hoàn thiện của cơ chế này. Nếu như việc bầu cử không tuân theo nguyên tắc bầu cử, các đại biểu không tự giác trong hoạt động, không vận dụng pháp luật trong quá trình hoạt động thì cơ chế đó chỉ ở trên giấy, thiếu tính khả thi. Hoặc khi áp dụng, các quy định pháp lý không đủ để làm căn cứ để hoạt động đại biểu, hoặc khó áp dụng, áp dụng nhưng chồng chéo với các cơ quan khác nhưng không có cơ chế tháo gỡ sự mâu thuẫn, chồng chéo đó thì cơ chế đó không khoa học, không khả thi. Ví dụ như trường hợp cùng một địa phương, cùng một thời điểm có đến 02 đoàn giám sát của Quốc hội... Hay có quy định về thành lập Ủy ban lâm thời của Quốc hội trong trường hợp cần thiết, song thực tế lại rất khó để áp dụng quy định này.

Tóm lại, để đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế pháp lý nhằm thực hiện các thiết chế dân chủ đại diện đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí khoa học, phù hợp với đặc thù của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được xây dựng trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong cơ chế quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đặc thù này đòi hỏi khi đánh giá cơ chế pháp lý nhằm thực hiện các thiết chế dân chủ đại diện phải chú trọng tới liều lượng và nội hàm của từng tiêu chí, bởi các tiêu chí đều là các khía cạnh phản ánh sâu sắc nền dân chủ ở Việt Nam. Việc xác định tiêu chí để đánh giá cơ chế chính là nhằm làm nổi bật những ưu điểm, hạn chế và tìm ra nguyên nhân để hoàn thiện, trong đó, nhấn mạnh đến khả năng hoàn thiện trình độ của cơ quan đại diện, nhấn mạnh vai trò của đại biểu dân cử và hướng đến nâng cao năng lực, ý thức chính trị tích cực của cử tri. Việc xác định đúng các tiêu chí đánh giá cơ chế cũng chính là nhằm mục tiêu đảm bảo để cử tri biết cách bảo vệ các quyền làm chủ của họ và đại biểu dân cử nâng cao năng lực đại diện trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

PGS.TS. Trương Thị Hồng Hà

Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương

PGS.TS. Nguyễn Việt Hương

Viện Nhà nước và Pháp luật







[1]. V.I.Lê Nin (1981), toàn tập, Tập 18, Nxb. Tiến bộ, Matxcơva.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.

Theo dõi chúng tôi trên: