Chủ nhật 08/02/2026 06:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ đại diện ở Việt Nam

Trên cơ sở khái quát về cơ chế pháp lý thực hiện các thiết chế về dân chủ đại diện, bài viết phân tích tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế pháp lý đảm bảo thực hiện ở Việt Nam qua tính toàn diện, khách quan, minh bạch và công khai; thực hiện nghiêm túc và đầy đủ quy định pháp luật; đảm bảo hiệu quả và tạo động lực cho sự phát triển, đảm bảo tính khoa học và khả thi...


Dân chủ là văn minh của nhân loại và là nền tảng, giá trị đạo đức, là cơ sở để phát huy bản chất của Nhà nước, của mỗi chế độ, là sự hướng đến các giá trị cao quý khác. Dân chủ, suy cho cùng phải được thực hiện trong thực tiễn và được Nhà nước đảm bảo, thúc đẩy cho việc hiện thực hoá trong đời sống xã hội nói chung và đời sống chính trị nói riêng. Do đó, Nhà nước nào cũng tìm cho mình một cơ chế pháp lý hữu hiệu để thực hiện dân chủ có hiệu quả thông qua hệ thống pháp luật, hình thức pháp lý và phương pháp pháp lý hữu hiệu.

Dân chủ đại diện cũng vậy, việc tìm ra cơ quan đại diện, người đại diện và cách thức để cơ quan, người đại diện đó thực hiện sứ mệnh của người ủy quyền là một đòi hỏi mang tính tự thân của nền dân chủ. Tuy nhiên, ủy quyền và thực hiện ủy quyền không đơn giản trong xã hội và nền chính trị vận động ngày càng hướng đến thực chất hơn. Người dân mong muốn có được lợi ích thông qua việc ủy quyền nhưng không muốn mất nhiều thời gian và công sức trong việc tìm ra người ủy quyền và hầu như không có nhiều mối liên lạc với người được ủy quyền trong suốt thời gian ủy quyền. Cơ quan đại diện hoạt động vì nhiều sứ mệnh và mang tính đại diện rộng rãi, nên mặc dù cố gắng nói lên tiếng nói của cử tri song nhiều khi lại chưa đáp ứng được. Điều đó đặt ra vấn đề, Nhà nước cần có cơ chế pháp lý hoàn thiện để dân chủ đại diện đạt được mục đích và mang lại ý nghĩa thiết thực cho từng cá nhân, cho cộng đồng, nhóm lợi ích và toàn xã hội.

Cơ chế pháp lý nhằm thực hiện các thiết chế dân chủ đại diện được hiểu là quá trình đưa các quy định pháp luật về cách thức tổ chức, hoạt động của các thiết chế dân chủ đại diện để các đại biểu và cơ quan dân cử vận hành một cách thông suốt, có hiệu lực và hiệu quả. Việc đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế này cần xem xét qua các tiêu chí sau đây:

1. Đảm bảo tính toàn diện và khách quan

Tính toàn diện, khách quan của cơ chế phải thể hiện đủ nội hàm của dân chủ trong các hình thức và nội dung hoạt động. Có nghĩa là, các quy định pháp luật về dân chủ trong ứng cử, bầu cử, tranh cử, thực hiện quyền đại biểu dân cử trong quá trình lập pháp, lập quy; quy định về dân chủ trong thảo luận, xem xét, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, của địa phương; quy định về dân chủ trong giám sát, kiến nghị giám sát, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện kiến nghị giám sát phải đảm bảo vừa đầy đủ, vừa không mâu thuẫn, chồng chéo. Đồng thời, các quy định pháp luật cần thể hiện đầy đủ các nội dung như dân chủ trong bàn bạc, thảo luận về các quyết sách chính trị, các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá, quốc tế...; dân chủ trong bàn bạc, thảo luận, biểu quyết. Hơn thế nữa, tính toàn diện và khách quan đòi hỏi cơ chế pháp lý đó phải quy định một cách cụ thể, công khai quy trình, cách thức và trách nhiệm của đại biểu dân cử trong tiếp xúc cử tri, thu nhận ý kiến của cử tri và tham gia ý kiến phát biểu, thảo luận, tranh luận, chất vấn, miễn nhiệm, bãi nhiệm đại biểu trên cơ sở ý chí của cử tri bầu ra họ và vì cử tri. Tính toàn diện đòi hỏi sự thể hiện một cách đầy đủ bản chất dân chủ trong từng quy định về hình thức pháp lý, phương pháp pháp lý và hậu quả pháp lý của cơ chế, về tần suất trong quá trình đại biểu sử dụng các quy định đó, đồng thời, phản ánh yếu tố thường xuyên, cạnh tranh của các cuộc bầu cử, yếu tố phổ thông đầu phiếu, cạnh tranh trong bầu cử và đặc biệt là đảm bảo không có gian lận, thiếu trung thực trong quá trình bầu cử.

Tính khách quan của cơ chế là khẳng định không chấp nhận ngoại lệ cho bất cứ đại biểu hoặc cá nhân nào. Nó đòi hỏi quyền của cử tri về bầu cử, ứng cử phải được tôn trọng và bảo vệ. Nhà nước, cơ quan nhà nước có thẩm quyền và cá nhân có liên quan là những chủ thể có trách nhiệm đảm bảo sự khách quan, minh bạch, chính xác trong quá trình bầu cử và hoạt động đại biểu như đưa thông tin chính xác, công bằng, không thiên vị về người ứng cử với cử tri, về kết quả hoạt động của từng đại biểu dân cử trong nhiệm kỳ và đặc biệt phải khách quan trong việc tiến hành các biện pháp khen thưởng, kỷ luật, miễn nhiệm, bãi nhiệm đại biểu. Một cơ chế khách quan phải là cơ chế đáp ứng tiêu chí có hệ thống pháp luật minh bạch, dễ sử dụng, dễ giám sát và dễ thay thế khi các chủ thể thực hiện không còn đảm bảo uy tín và vai trò đại diện cho cử tri và nhân dân. Tính khách quan còn thể hiện trong các quy phạm pháp luật về mối quan hệ giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị với cơ quan dân chủ; về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với quá trình lãnh đạo cơ quan dân cử để đảm bảo rằng, Đảng có phương pháp lãnh đạo dân chủ, lắng nghe ý kiến của cơ quan dân cử, người đại biểu để đưa ra ý kiến lãnh đạo kịp thời, khách quan, tuân theo quy luật. Luật hoá mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và Nhà nước trên cơ sở dân chủ chính là điều kiện khách quan để nhân dân dám nói, dám nghĩ, dám đề xuất ý kiến với cán bộ dân cử và thông qua đó, cán bộ đảng viên “hoá thân” vào đại biểu dân cử nâng cao bản lĩnh chính trị và tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, cử tri trong hoạt động đại biểu của họ, đảm bảo để tự do tư tưởng, tự do thảo luận, tranh luận nhằm tìm ra chân lý, khắc phục thói áp đặt, quan liêu, mệnh lệnh hoặc bảo thủ, trì trệ. Tính khách quan của cơ chế cũng đòi hỏi sự thuận lợi, đơn giản, công khai, minh bạch trong trình tự, thủ tục vận hành. Tính khách quan thể hiện ở mức độ hiểu biết của các đại biểu dân cử trong việc tôn trọng quy luật khách quan của nền kinh tế, của các mối quan hệ xã hội để chuyển tải vào các văn bản pháp luật; mức độ quan hệ với cử tri nơi bầu ra và cử tri ở các địa phương khác; mức độ bảo vệ lợi ích của nhóm cử tri này và mức độ bảo vệ lợi ích của nhóm cử tri khác cần được đảm bảo không có sự chênh lệch thái quá; mức độ tôn trọng sự thật khách quan của đại biểu dân cử trong quá trình thực hiện; trình tự, thủ tục được tuân thủ chặt chẽ về thời gian, quy trình…

2. Đảm bảo tính công khai, minh bạch

Tiêu chí công khai, minh bạch đòi hỏi công khai về nguyên tắc vận hành của cơ chế, công khai về hoạt động và kết quả hoạt động, công khai trong thảo luận, trong quá trình ra nghị quyết. Tiêu chí này gồm tiêu chí về định tính và tiêu chí định lượng. Đính tính thể hiện tính chất công khai, minh bạch trong nội dung hoạt động ở mức độ rõ ràng, mức độ đảm bảo cho người dân dễ hiểu, dễ tiếp cận và đặc biệt không tốn nhiều chi phí cho việc tiếp cận thông tin hoạt động của cơ quan dân cử; mức độ người dân được biết về thời gian công bố văn bản pháp luật, số lượng văn bản pháp luật được công bố, nơi công bố và các công cụ để tra cứu, mức độ thường xuyên hay không thường xuyên công bố; đầy đủ hay không đầy đủ trong việc công khai; liên tục hay không liên tục trong việc giải thích là nội hàm về định tính của tiêu chí công khai, minh bạch. Tiêu chí này cũng là thước đo về số lượng đại biểu dân cử tham gia trong các hoạt động đại biểu (số lượng các buổi họp, số lần phát biểu, số lần vắng mặt, số lần tiếp xúc cử tri, số lần giám sát, số lần biểu quyết…). Ngoài ra, tiêu chí công khai, minh bạch đòi hỏi về luật pháp, chính sách, thông tin; tính quy định trách nhiệm, tính ràng buộc giữa quyền và nghĩa vụ từ cán bộ công chức tới công dân, đó là những yêu cầu không thể thiếu để bảo đảm dân chủ thực chất.

3. Tuân thủ pháp luật đầy đủ và nghiêm túc

Tuân thủ pháp luật một cách đầy đủ và nghiêm túc là tiêu chí mang nội hàm định tính và định lượng. Trước hết là, yêu cầu các chủ thể nhận thức đầy đủ vai trò của cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ đại diện, chức năng đại diện một cách thường xuyên, liên tục ở tất cả các khâu, các công đoạn từ ứng cử, bầu cử, thực hiện chức năng đại biểu, giải trình, bãi miễn và bãi nhiệm đại biểu dân cử. Đây được xem là tiêu chí quan trọng đòi hỏi các chủ thể của cơ chế pháp lý phải đề cao năng lực và thói quen áp dụng pháp luật và sử dụng pháp luật. Bởi nếu đáp ứng được tiêu chí này, thì sẽ tìm được người ứng cử đủ điều kiện, đủ tiêu chuẩn đại diện; cử tri đi bầu cử có đủ năng lực hành vi, năng lực chính trị, pháp lý và nhận thức để thực hiện quyền của mình bầu hay không bầu người xứng đáng làm đại biểu, thay mặt họ tham gia cơ quan nhà nước và thực hiện quyền lực nhà nước. Nếu việc thực hiện pháp luật không đúng đắn sẽ dẫn đến hiện tượng vi phạm nguyên tắc bầu cử, chất lượng của đại biểu không đảm bảo. Theo quan điểm của Lê Nin thì: “Nền dân chủ là sự thống trị của đa số. Chỉ có cuộc tuyển cử phổ thông, trực tiếp, bình đẳng mới được gọi là dân chủ”[1]. Theo đó, nếu quá trình vận hành không áp dụng đúng các nguyên tắc pháp lý thì tiêu chí tuân thủ nghiêm túc sẽ không đạt được, cơ chế dân chủ đó chưa thể được đánh giá là hoàn thiện.

Hoạt động của các thiết chế dân chủ đại diện được thiết lập và vận hành trên cơ sở pháp luật. Do đó, đòi hỏi tiêu chí nghiêm túc và đầy đủ trong quá trình thực hiện phải được đặt lên hàng đầu, bởi các chủ thể trong cơ chế pháp lý được pháp luật quy định về cách thức thành lập, vị trí pháp lý, chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền. Đồng thời, hình thức, phương pháp và hậu quả pháp lý của cơ chế cũng được pháp luật quy định chặt chẽ để tránh trường hợp hình thành một cơ chế lỏng lẻo và vận hàng mang tính hình thức. Bên cạnh đó, cũng cần đáp ứng tiêu chí nghiêm túc, đầy đủ trong quán triệt và tuân thủ chính sách của Đảng, điều lệ của tổ chức có người tham gia cơ quan đại diện và quy chế của cơ quan, tổ chức đại diện, bởi đại biểu không chỉ đại diện cho cử tri, mà còn là đối tượng ưu tú của các tổ chức đảng, mặt trận và đoàn thể. Do đó, chủ thể đó vừa phải nghiêm túc trong thực hiện pháp luật, vừa phải nghiêm túc trong thực hiện chính sách của Đảng và điều lệ của tổ chức tham gia.

4. Đảm bảo hiệu quả và tạo động lực cho sự phát triển

Cơ chế pháp lý nhằm thực hiện các thiết chế dân chủ đại diện là sự hiện thực hoá mục tiêu của dân chủ trong thực tế đời sống xã hội, bởi vậy, nếu được đánh giá là hoàn thiện cần căn cứ vào tiêu chí hiệu quả và động lực cho sự phát triển. Đây là động lực là tiêu chí vừa mang tính định tính và định lượng. Định tính thể hiện mức độ của động lực phát triển về kinh tế, xã hội khi cơ chế pháp lý dân chủ trực tiếp vận hành. Đó là thước đo về hiệu quả hoạt động của cơ quan dân cử. Quá trình quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, của địa phương do các đại biểu dân cử và cơ quan dân cử thực hiện chính là động lực cho sự phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương và từng cử tri. Hiệu quả đó thể hiện ở sự đảm bảo công ăn việc làm cho mỗi người dân, đồng thời người dân được tôn trọng những quyền và lợi ích hợp pháp mà trước hết là lợi ích vật chất như có nhà ở và điều kiện thiết yếu, trẻ em được đến trường, được chăm sóc sức khỏe và lợi ích tinh thần như được ngang nhau về quyền và nghĩa vụ. Theo đó, tiêu chí hiệu quả và động lực cho sự phát triển chính là đại lượng để phân định sự hài lòng của người dân về các chính sách, pháp luật do cơ quan dân cử ban hành có thiết thực không, có là động lực cho việc nâng cao năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả lao động trong xã hội không. Đó chính là thước đo giá trị thực tế của dân chủ. Bên cạnh đó, tiêu chí này còn đo đếm được mức độ và khả năng của cử tri thể hiện ý kiến, kiến nghị của mình đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền; đo đếm được mức độ thấu hiểu của cơ quan dân cử đối với mong muốn và sự hài lòng, chưa hài lòng về chính quyền trung ương và chính quyền địa phương để có những quyết sách coi trọng nguồn lực trong nhân dân, tạo cơ sở cho người dân sáng tạo, giải phóng tư tưởng, giải phóng ý thức, không rơi vào tình trạng giả dối, trọng hình thức.

Định lượng về động lực phát triển để đánh giá sự hoàn thiện của việc thực hiện còn thể hiện ở việc xác định có bao nhiêu văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan đại diện thông qua đã thể hiện được thái độ của Nhà nước về sự ghi nhận, thúc đẩy, bảo đảm và bảo vệ quyền chính trị, dân sự, quyền kinh tế - văn hoá - xã hội của con người; về số lượng chính sách do cơ quan đại diện ban hành chăm lo công ăn việc làm cho người dân, khuyến khích dân chủ động tự lo việc làm, quan tâm xóa đói, giảm nghèo và khuyến khích người dân làm giàu chính đáng bằng sức lao động của mình, được pháp luật cho phép; có bao nhiêu chính sách được ban hành đã chú trọng tới sự tiến bộ và trưởng thành của các thế hệ trẻ em, phụ nữ, thanh niên, người lao động, người già, trẻ em, trí thức, nhân tài. Số lượng các văn bản quy phạm pháp luật càng nhiều, càng thể hiện mức độ hoàn thiện của cơ chế dân chủ, song ở khía cạnh đánh giá thực chất của cơ chế thì cần xác định có những hành vi nào xâm hại phổ biến đến quyền phát triển của con người, bao gồm: Quyền được học tập, quyền lao động, quyền an sinh xã hội, quyền có việc làm, quyền hưởng thụ văn hoá - nghệ thuật...

5. Đảm bảo tính khoa học và khả thi

Tiêu chí khoa học, khả thi của cơ chế pháp lý nhằm thực hiện các thiết chế dân chủ đại diện là đòi hỏi về mức độ hoàn thiện của trình tự, thủ tục, hình thức pháp lý, phương pháp và hậu quả pháp lý của cơ chế, đồng thời thể hiện tính khả thi của các văn bản quy phạm pháp luật quy định về dân chủ đại diện như chế độ bầu cử, ứng cử, tranh cử, chế độ hoạt động và phương thức hoạt động của người đại biểu và cơ quan dân cử. Mối quan hệ giữa các cơ quan dân cử với cử tri và cơ quan trong hệ thống chính trị cũng cần đảm bảo tính khoa học, nếu không sẽ rơi vào trạng thái thiếu phối hợp hoặc chồng lấn trong hoạt động. Tính khoa học là tiêu chí định tính, đo lường mức độ hoàn thiện của cơ chế này. Nếu như việc bầu cử không tuân theo nguyên tắc bầu cử, các đại biểu không tự giác trong hoạt động, không vận dụng pháp luật trong quá trình hoạt động thì cơ chế đó chỉ ở trên giấy, thiếu tính khả thi. Hoặc khi áp dụng, các quy định pháp lý không đủ để làm căn cứ để hoạt động đại biểu, hoặc khó áp dụng, áp dụng nhưng chồng chéo với các cơ quan khác nhưng không có cơ chế tháo gỡ sự mâu thuẫn, chồng chéo đó thì cơ chế đó không khoa học, không khả thi. Ví dụ như trường hợp cùng một địa phương, cùng một thời điểm có đến 02 đoàn giám sát của Quốc hội... Hay có quy định về thành lập Ủy ban lâm thời của Quốc hội trong trường hợp cần thiết, song thực tế lại rất khó để áp dụng quy định này.

Tóm lại, để đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế pháp lý nhằm thực hiện các thiết chế dân chủ đại diện đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí khoa học, phù hợp với đặc thù của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được xây dựng trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong cơ chế quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đặc thù này đòi hỏi khi đánh giá cơ chế pháp lý nhằm thực hiện các thiết chế dân chủ đại diện phải chú trọng tới liều lượng và nội hàm của từng tiêu chí, bởi các tiêu chí đều là các khía cạnh phản ánh sâu sắc nền dân chủ ở Việt Nam. Việc xác định tiêu chí để đánh giá cơ chế chính là nhằm làm nổi bật những ưu điểm, hạn chế và tìm ra nguyên nhân để hoàn thiện, trong đó, nhấn mạnh đến khả năng hoàn thiện trình độ của cơ quan đại diện, nhấn mạnh vai trò của đại biểu dân cử và hướng đến nâng cao năng lực, ý thức chính trị tích cực của cử tri. Việc xác định đúng các tiêu chí đánh giá cơ chế cũng chính là nhằm mục tiêu đảm bảo để cử tri biết cách bảo vệ các quyền làm chủ của họ và đại biểu dân cử nâng cao năng lực đại diện trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

PGS.TS. Trương Thị Hồng Hà

Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương

PGS.TS. Nguyễn Việt Hương

Viện Nhà nước và Pháp luật







[1]. V.I.Lê Nin (1981), toàn tập, Tập 18, Nxb. Tiến bộ, Matxcơva.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.

Theo dõi chúng tôi trên: