Thứ tư 15/07/2026 20:36
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tiêu chuẩn và điều kiện của những chức danh người quản lý trong doanh nghiệp nhà nước

Chủ sở hữu là thành viên duy nhất trong doanh nghiệp nhà nước nhưng quyền và nghĩa vụ thành viên được thực hiện bởi nhà quản trị công ty nằm trong chính cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp[1], hay nói cách khác, hành động thông qua con người cụ thể[2] - người quản lý công ty.

Tiêu chuẩn và điều kiện của người quản lý doanh nghiệp Nhà nước được quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản luật áp dụng riêng đối với doanh nghiệp nhà nước. Bài viết nhận diện và phân tích những điểm mâu thuẫn về tiêu chuẩn và điều kiện của người quản lý doanh nghiệp nhà nước; đồng thời đưa ra một số kiến nghị.

1. Xác định những chức danh người quản lý trong doanh nghiệp nhà nước

Chủ sở hữu là thành viên duy nhất trong doanh nghiệp nhà nước nhưng quyền và nghĩa vụ thành viên được thực hiện bởi nhà quản trị công ty nằm trong chính cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp[1], hay nói cách khác, hành động thông qua con người cụ thể[2] - người quản lý công ty.

Khoản 18 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các luật áp dụng riêng đối với doanh nghiệp nhà nước đều quy định người quản lý doanh nghiệp nhà nước bao gồm: "Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc".

Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản luật áp dụng riêng đối với doanh nghiệp nhà nước quy định khác nhau về chức danh kế toán trưởng và kiểm soát viên, cụ thể:

Tại khoản 18 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 liệt kê người quản lý doanh nghiệp nhà nước không bao gồm hai chức danh: Kế toán trưởng và kiểm soát viên. Tuy nhiên, với quy định “cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại điều lệ công ty” đã cho phép điều lệ quy định bổ sung các chức danh người quản lý.

Tiếp đến, Luật Quản lý sử dụng vốn nhà nước đầu tư, sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014 chỉ quy định kế toán trưởng là người quản lý doanh nghiệp nhà nước và không đề cập đến kiểm soát viên[3].

Mặt khác, Nghị định số 97/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 của Chính phủ về quản lý người giữ chức danh chức vụ tại doanh nghiệp là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ có quy định chức danh kế toán trưởng, kiểm soát viên là người quản lý doanh nghiệp Nhà nước[4].

Từ đó cho thấy, có sự mâu thuẫn khi xác định “kiểm soát viên” có phải là người quản lý doanh nghiệp Nhà nước không?

Tiếp đến cần phải xem xét điều lệ tổ chức hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước về chức danh này. Đối với chức danh kiểm soát viên có sự khác nhau trong điều lệ của từng doanh nghiệp Nhà nước. Điều lệ Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam có quy định kiểm soát viên là người quản lý doanh nghiệp. Điều lệ của Tập đoàn Đường sắt Việt Nam, Tập đoàn Viễn thông quân đội không liệt kê chức danh kiểm soát viên trong nhóm người quản lý doanh nghiệp.

Nhìn chung, quyền của kiểm soát viên theo các quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 và điều lệ của các doanh nghiệp nhà nước[5] (không phân biệt doanh nghiệp nhà nước có quy định kiểm soát viên là người quản lý hay không phải người quản lý) được chia thành các nhóm sau đây:

Một là, nhóm quyền liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: Quyền tham gia cuộc họp của Hội đồng thành viên và chất vấn Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc; xem xét, đánh giá vấn đề điều hành hoạt động kinh doanh.

Hai là, nhóm quyền tài chính bao gồm: Xem xét các báo cáo, sổ sách, hợp đồng giao dịch của doanh nghiệp.

Ba là, nhóm quyền yêu cầu được cung cấp thông tin bởi Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Kế toán trưởng. Các thông tin mà kiểm soát viên yêu cầu cung cấp có liên quan về quản lý, kinh doanh, tài chính của doanh nghiệp.

Theo đó, các nhóm quyền của kiểm soát viên liên quan đến “kiểm soát” hoạt động quản lý, điều hành của Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Kế toán trưởng và không có quy định thể hiện sự tham gia vào quản lý, điều hành doanh nghiệp nhà nước.

Ngoài ra, tại Quyết định số 35/2013/QĐ-TTg ngày 7/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế hoạt động của kiểm soát viên công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước năm giữ 100% vốn điều lệ quy định kiểm soát viên là cá nhân do chủ sở hữu bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, giúp chủ sở hữu kiểm soát tổ chức thực hiện quyền chủ sở hữu, quản lý điều hành công việc kinh doanh của Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty và Tổng Giám đốc (Giám đốc)[6]. Do đó, trách nhiệm của kiểm soát viên chỉ là “kiểm soát” việc quản lý điều hành công việc của công ty.

Từ những phân tích trên cho thấy, khi xác định những chức danh là người quản lý doanh nghiệp nhà nước, ngoài quy định “Người quản lý doanh nghiệp” tại phần giải thích từ ngữ, cần xem xét cụ thể chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của chức danh quản lý. Chức danh kiểm soát viên là một ví dụ điển hình cho trường hợp này.

Tóm lại, người quản lý doanh nghiệp nhà nước bao gồm những chức danh như sau: Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc (Phó Giám đốc/Phó Tổng giám đốc), Kế toán trưởng.

2. Tiêu chuẩn và điều kiện chung để trở thành người quản lý doanh nghiệp Nhà nước

Một là, người quản lý doanh nghiệp không được thuộc các trường hợp cấm quy định tại khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp năm 2014. Đáng chú ý là đối tượng người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự. Dưới góc độ tâm sinh lý, người chưa thành niên là người đang trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển thể chất và tinh thần[7], chưa có sự ổn định về tâm sinh lý.

Hai là, người quản lý có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm quản trị kinh doanh của công ty[8].

Tiêu chuẩn về chuyên môn, kinh nghiệm của thành viên Hội đồng thành viên tại điều lệ là “có trình độ đại học trở lên, có năng lực kinh doanh và quản lý doanh nghiệp”[9]. Nhìn chung, hầu hết tiêu chuẩn, điều kiện của thành viên Hội đồng thành viên trong Điều lệ các doanh nghiệp nhà nước là sự sao chép một cách máy móc và không cụ thể, rõ ràng. Quy chế làm việc của ban lãnh đạo chủ chốt theo chế độ làm việc tập thể. Chính vì vậy, không chỉ riêng Chủ tịch Hội đồng thành viên mà mỗi cá nhân trong Hội động thành viên đều có vai trò quan trọng để đưa ra quyết định cuối cùng cho tập đoàn. Quy định "năng lực quản lý và kinh doanh"[10] cần được thể hiện bằng những kinh nghiệm thực tế trong chuyên môn một cách minh bạch. Năng lực chuyên môn của họ cũng có thể liên quan tới các nghĩa vụ cụ thể và mục tiêu chính sách của doanh nghiệp[11].

Theo Luật Doanh nghiệp nhà nước của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 2008 thì người quản lý doanh nghiệp phải có năng lực chuyên môn và khả năng làm việc ở vị trí được yêu cầu[12]. Ví dụ như tiêu chuẩn chức danh Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Hàng không quốc gia Trung Quốc là phải thành thạo chính sách và các quy định liên quan đến đầu tư và tăng vốn trong và ngoài nước; thông thạo các nguyên tắc, đặc điểm và phương thức hoạt động được sử dụng trong thị trường vốn trong và ngoài nước; hiểu biết sâu sắc về kinh tế, tài chính và quản lý tài chính doanh nghiệp, kinh nghiệm thực tiễn về đầu tư của công ty cũng như là tăng vốn. Ngoài ra, ít nhất 02 năm kinh nghiệm làm quản lý cấp cao của một doanh nghiệp có vốn đầu tư nhà nước hoặc tập đoàn đa quốc gia[13]. Tiêu chuẩn của người quản lý tập trung vào những kiến thức chuyên môn thuộc ngành nghề của doanh nghiệp đó cũng như số năm kinh nghiệm từng đảm nhiệm chức danh quản lý. Cách quy định cụ thể này cũng là một nguồn thảm khảo cho pháp luật Việt Nam.

3. Điều kiện, tiêu chuẩn riêng để trở thành người quản lý doanh nghiệp nhà nước

Một là, tiêu chuẩn và điều kiện liên quan đến nhân thân của người quản lý doanh nghiệp Nhà nước.

Người quản lý doanh nghiệp nhà nước phải là công dân Việt Nam; thường trú tại Việt Nam. Theo Khoản 1 Điều 5 Luật Quốc tịch 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014): "Người có quốc tịch Việt Nam là công dân Việt Nam".

Doanh nghiệp nhà nước có khuôn khổ pháp lý riêng, có những điểm khác biệt với các công ty tư nhân[14]. Quy định trên đảm bảo sự an tâm, toàn tâm, toàn ý, tin tưởng thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, tạo mối quan hệ chính trị - pháp lý gắn kết một cá nhân với một nhà nước có chủ quyền.

Theo pháp luật Trung Quốc, tiêu chuẩn người quản lý doanh nghiệp nhà nước về quốc tịch, giới tính không phải là yêu cầu bắt buộc[15]. Xây dựng tiêu chuẩn của người quản lý của doanh nghiệp nhà nước thuộc thẩm quyền cơ quan quản lý và giám sát tài sản Nhà nước. Đối với chức danh Phó Tổng giám đốc của Tập đoàn Điện tử Trung Quốc, Tập đoàn Shenhua[16], Tập đoàn Hàng không quốc gia Trung Quốc, Tập đoàn Dự trữ ngũ cốc Trung Quốc, Công ty máy móc và thiết bị quốc gia Trung Quốc, Tập đoàn Hoá chất Trung Quốc, Tập đoàn Công nghiệp nặng Trung Quốc, Tập đoàn Truyền thông và tín hiệu đường sắt Trung Quốc yêu cầu bắt buộc phải có quốc tịch Trung Quốc[17].

Tiếp đến, người quản lý doanh nghiệp nhà nước "có phẩm chất chính trị, đạo đức, hiểu biết pháp luật và có ý thức chấp hành pháp luật". Đây là một trong những tiêu chuẩn để một cá nhân trở thành người quản lý và đồng thời là tiêu chí dùng để đánh giá người quản lý doanh nghiệp nhà nước[18].

Không những ở pháp luật doanh nghiệp Việt Nam, "good moral character" là một tiêu chuẩn trong Luật Doanh nghiệp nhà nước của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa[19]. Theo Black’s Law Dictionary, “good moral character” là cách cư xử phù hợp với tiêu chuẩn đạo đức của xã hội hiện tại, không có sự xuất hiện của những hành vi lừa dối, hành vi đáng trách về mặt đạo đức[20].

Theo một số học giả khác trên thế giới, phẩm chất đạo đức tốt là sự tuân thủ pháp luật và không bị phụ thuộc vào ma tuý và rượu[21], được đo lường theo các tiêu chuẩn của công dân trung bình ở cộng đồng nơi người đó cư trú và không đòi hỏi sự xuất sắc đạo đức ở mức độ cao nhất[22].

Việc xác định nội hàm phẩm chất đạo đức tốt dựa vào việc loại trừ những hành vi cấm trong xã hội được cho là dễ dàng hơn. Do đó, khái niệm phẩm chất đạo đức tốt tại Black’s Law Dictionary được được xem là phù hợp.

Tiêu chuẩn người quản lý doanh nghiệp nhà nước không có quan hệ gia đình với thành viên Hội đồng thành viên; Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Kế toán tưởng; Kiểm soát viên.

Mục đích việc đặt ra tiêu chuẩn này giúp những người quản lý doanh nghiệp nhà nước hành động quản lý công tâm, công bằng, tránh sự cả nể. Ngoài ra, quy định trên nhằm loại trừ sự áp đặt ý chí, thông đồng, kết nối để thâu tóm quyền lực nhằm tối đa hóa lợi ích cho một nhóm người có mối quan hệ gia đình.

Hai là, tiêu chuẩn và điều kiện về những chức vụ người quản lý doanh nghiệp Nhà nước đã và đang đảm nhiệm.

Điển hình như thành viên Hội đồng thành viên Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) không giữ các chức vụ quản lý, điều hành tại các doanh nghiệp trong Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam[23]. Thành viên Hội đồng thành viên Tập đoàn Dầu khí Việt Nam không giữ các chức vụ quản lý, điều hành tại các doanh nghiệp tập đoàn[24]. Thành viên Hội đồng thành viên Tập đoàn Công nghiệp cao su việt Nam không được giữ chức vụ quản lý điều hành tại các doanh nghiệp thành viên[25].

Không chỉ pháp luật Việt Nam mà theo pháp luật Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, các chức danh Chủ tịch, Giám đốc và quản lý cao cấp của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước không được đồng thời đảm nhiệm chức vụ đó tại bất kỳ công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần hoặc tổ chức kinh tế khác trừ khi được sự đồng ý của Cơ quan giám sát và quản lý tài sản thuộc sở hữu nhà nước (SASAC)[26].

Ngoài ra, người quản lý doanh nghiệp không đảm nhiệm lại chức vụ quản lý khi đã từng bị cách chức "Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Giám đốc, Phó Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc của doanh nghiệp Nhà nước"[27].

Tuy nhiên, không phải tất cả điều lệ doanh nghiệp nhà nước đều ghi nhận người quản lý doanh nghiệp nhà nước không được đảm nhiệm lại chức vụ quản lý khi đã từng bị cách chức. Trong Điều lệ Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam, thiếu vắng quy định minh thị về trường hợp cấm như trên, ngược lại với Điều lệ Tập đoàn Dầu khí Việt Nam[28], Tập đoàn Điện lực Việt Nam[29], Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam[30], Tập đoàn Hóa chất Việt Nam[31]. Sự khác nhau này không dẫn đến hậu quả là các ứng viên trong Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam được trở thành người quản lý doanh nghiệp dù đã từng bị cách chức "Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Giám đốc, Phó Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc của doanh nghiệp Nhà nước". Bởi vì quy định viện dẫn sau đây: “Các tiêu chuẩn và điều kiện khác theo quy định của pháp luật”[32], thay vào đó, quy định tiêu chuẩn của Luật Doanh nghiệp năm 2014 vẫn được áp dụng.

Vì vậy, sự ghi nhận cụ thể quy định trên tại các điều lệ doanh nghiệp nhà nước là vấn đề cấp thiết. Những hậu quả người quản lý để xảy ra trong nhiệm kỳ vừa qua sẽ ảnh hưởng đến sự tín nhiệm đối với người quản lý trong tương lai. Do đó, cần có sự thống nhất trong việc ghi nhận quy định về tiêu chuẩn trong điều lệ của tất cả doanh nghiệp nhà nước cụ thể.

Bên cạnh hình thức kỷ luật cách chức, ứng viên đã từng bị miễn nhiệm, chấm dứt hợp đồng trước thời hạn hoặc làm công ty thua lỗ hai năm liên tiếp thì cũng không được trở thành người quản lý doanh nghiệp nhà nước. Điển hình tại khoản 6 Điều 39 Nghị định số 07/2018/NĐ-CP ngày 10/01/2018 của Chính phủ về Điều lệ Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và khoản 6 Điều 40 Nghị định số 20/2018/NĐ-CP ngày 05/02/2018 của Chính phủ về Điều lệ Tập đoàn Hóa chất Việt Nam cũng đã ghi nhận quy định này. Ngược lại, trong Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014, một số điều lệ doanh nghiệp nhà nước còn lại như Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam lại không có quy định.

Các lý do để miễn nhiệm khác nhau như: Không đủ sức khỏe, không đủ năng lực và uy tín, theo yêu cầu nhiệm vụ, vì lý do khác[33]. Đối với những sai phạm trong quá khứ cũng sẽ là lý do "không đủ năng lực và uy tín" ảnh hưởng đến sự tín nhiệm của người quản lý trong tương lai. Ngoài ra, ứng viên từng làm công ty thua lỗ trong vòng hai năm liên tiếp cũng là lý do rất chính đáng để cá nhân đó không được đảm đương chức vụ quản lý doanh nghiệp.

Người quản lý từng bị miễn nhiệm, chấm dứt hợp đồng trước hạn hoặc từng làm công ty thua lỗ hai năm liên tiếp không được trở thành người quản lý là điều được đánh giá hợp lý. Ngay cả những doanh nghiệp nhà nước chưa ghi nhận quy định này trong Điều lệ thì cũng cần học hỏi ghi nhận.

Theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam, không có quy định cấm ứng viên từng bị cách chức Kế toán trưởng không được trở thành người quản lý, điều hành.

Quy định về Kế toán trưởng không thống nhất giữa các điều lệ doanh nghiệp nhà nước. Căn cứ quy định nhiệm vụ của Kế toán trưởng lại hoàn toàn giống nhau tại các điều lệ doanh nghiệp nhà nước như: Tổ chức công tác kế toán, thông kế của Tập đoàn; giúp Tổng giám đốc giám sát tài chính tại Tập đoàn theo pháp luật về tài chính, kế toán; chịu trách nhiệm trước Tổng Giám đốc, trước Hội đồng thành viên và trước pháp luật về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân công hoặc ủy quyền. Như vậy, điều lệ doanh nghiệp nhà nước cần thống nhất ghi nhận kế toán trưởng là chức danh quản lý doanh nghiệp, tránh sự mâu thuẫn với Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư và sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014.

Không có quy định cấm cá nhân từng bị cách chức Kế toán trưởng đảm nhiệm chức danh "thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Giám đốc/Tổng giám đốc". Cá nhân từng bị cách chức Phó Tổng giám đốc thì không được trở hành "thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Giám đốc/Tổng giám đốc". Nếu nhiệm vụ của Phó Tổng Giám đốc cũng chỉ là giúp Tổng Giám đốc trong việc điều hành thì Kế toán trưởng chịu trách nhiệm mảng công tác kế toán, thống kê. Cả Phó Tổng Giám đốc và Kế toán trưởng đều là người quản lý doanh nghiệp nhà nước. Đương nhiên, nhiệm vụ của hai chức danh này khác nhau về chuyên môn, nghiệp vụ và không tồn tại quy định nào khẳng định chức năng của Phó Tổng giám đốc là quan trọng hơn Kế toán trưởng. Do đó, nếu có quy định một ứng viên từng bị cách chức Phó Tổng giám đốc không được ứng cử trở thành người quản lý thì cần có quy định tương tự với Kế toán trưởng.

Chức danh Kế toán trưởng là nút thắt quan trọng trong hệ thống kế toán của các doanh nghiệp nhà nước. Thực tế đã cho thấy, những sai phạm của Kế toán trưởng dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, thất thoát tài sản nhà nước là điều không thể tránh khỏi. Do đó, đặt ra sự cấp thiết phải ghi nhận cá nhân từng bị cách chức Kế toán trưởng không được đảm đương lại các chức danh quản lý doanh nghiệp nhà nước.

Tăng Thị Bích Diễm

Trường Đại học Luật TP. Hồ Chi Minh


[1] Phan Huy Hồng (2014), "Quy định đặc thù về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu trong Luật Doanh nghiệp (sửa đổi)", Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (10) tr.36.

[2] Bùi Xuân Hải(2007), "Học thuyết về đại diện mấy vấn đề của pháp luật công ty Việt Nam", Tạp chí khoa học pháp lý, (04), tr.1.

[3] Khoản 7 Điều 3 Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014.

[4] Khoản 2 Điều 2, khoản 1 Điều 3 Nghị định số 97/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 của Chính phủ về quản lý người giữ chức danh chức vụ tại doanh nghiệp là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

[5] Điều 53 Điều lệ Tập đoàn dầu khí Việt Nam, Điều 16 Điều lệ Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam, Điều 53 Điều lệ Tập đoàn điện lực Việt Nam, khoản 2 Điều 42 Điều lệ Tổng công ty đường sắt Việt Nam.

[6] Khoản 2 Điều 2 Quyết định số 35/2013/QĐ-TTg ngày 07/06/2013 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành quy chế hoạt động của kiểm soát viên công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

[7] Dương Thị Ngọc Thương (2013), Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, tr.11.

[8] Khoản 2 Điều 65, khoản 3 Điều 81, khoản 1 Điều 100, điểm b khoản 1 Điều 151 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[9] Điểm b khoản 1 Điều 40 Nghị định số 26/2018/NĐ-CP ngày 28/02/2018 của Chính phủ về Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tập đoàn điện lực Việt Nam; Khoản 2 Điều 34 Nghị định số 28/2014/NĐ-CP ngày 10/04/2014 của Chính phủ về Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam.

[10] Khoản 2 Điều 34 Nghị định số 28/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10/04/2014 về Điều lệ tổ chức hoạt động của Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam.

[11] OECD (2005), "Hướng dẫn của OECD về quản trị trong doanh nghiệp Nhà nước", Tổ chức tài chính quốc tế tại Việt Nam, tr.52.

[12] Điều 23 Luật Doanh nghiệp nhà nước của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 2008.

[13] http://en.sasac.gov.cn/n1461859/c1463576/content.html.

[14] OECD (2015), "Hướng dẫn của OECD về quản trị trong doanh nghiệp nhà nước", Tổ chức tài chính quốc tế tại Việt Nam, tr.21.

[15] Điều 23 Luật Doanh nghiệp Nhà nước của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa.

[16] http://www.shenhuagroup.com.cn.

[17] http://en.sasac.gov.cn/n1461859/c1463576/content.html.

[18] Khoản 5 Điều 13 Nghị định 97/2015/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ về quản lý người giữ chức danh, chức vụ tại doanh nghiệp là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên mà nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

[19] Điều 23 Luật Doanh nghiệp Nhà nước của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa.

[20] Henry Campbell Black (1968), Black’s Law Dictionary, West Publishing Co., p.13.

[21] Raymond L. Woodcock (1991), Take the bar and beat me, Career Press, page 130.

[22] https://www.immigrationoptions.com/copy-of-tn-fact-sheet.

[23] Điểm d khoản 1 Điều 40 Nghị định số 26/2018/NĐ-CP ngày 28/02/2018 của Chính phủ về Điều lệ tổ chức hoạt động Tập đoàn Điện lực Việt Nam.

[24] Khoản 4 Điều 39 Điều lệ tổ chức hoạt động Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.

[25] Khoản 4 Điều 34 Nghị định số 28/2014/NĐ-CP ngày 10/04/2014 của Chính phủ về Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam.

[26] Điều 70 Luật Công ty của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa.

[27] Khoản 4 Điều 92, khoản 1 Điều 98, khoản 7 Điều 100 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[28] Khoản 6 Điều 39 Nghị định số 07/2018/NĐ-CP ngày 10/01/2018 của Chính phủ về Điều lệ tổ chức hoạt động Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.

[29] Điểm g khoản 1 Điều 40 Nghị định số 26/2018/NĐ-CP ngày 28/02/2018 của Chính phủ về Điều lệ tổ chức hoạt động Tập đoàn Điện lực Việt Nam.

[30] Điểm e khoản 2 Điều 44 Nghị định số 25/2016/NĐ-CP ngày 06/04/2018 của Chính phủ về Điều lệ tổ chức hoạt động Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam.

[31] Nghị định số 20/2018/NĐ-CP ngày 05/02/2018 của Chính phủ về Điều lệ Tập đoàn Hóa chất Việt Nam.

[32] Khoản 6 Điều 34 Nghị định số 28/2014/NĐ-CP ngày 10/04/2014 của Chính phủ về Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam.

[33] Điều 30 Luật Cán bộ, công chức năm 2008.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.

Theo dõi chúng tôi trên: