Thứ tư 11/03/2026 04:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tính hợp lý của pháp luật trong việc giới hạn quyền tự do kinh doanh của công dân

Tóm tắt: Cũng như mọi quyền tự do của con người, quyền tự do kinh doanh không phải là khẩu hiệu, vật trang trí và không phải do Nhà nước ban tặng. Quyền tự do kinh doanh là một phạm trù pháp lý, chỉ là hiện thực nếu nó được pháp luật ghi nhận với các biện pháp bảo đảm bằng pháp luật[1].

Abstract: Like every rights of human freedom, the right of business freedom is not just a slogan, a decorative thing and not awarded by the state. The right of business freedom is a legal term, which becomes reality if acknowledged by the law through legal guaranty measures.

1. Khó ai có thể xác định được chắc chắn quyền tự do kinh doanh có từ bao giờ và thế nào là quyền tự do kinh doanh, mặc dù thuật ngữ này được sử dụng rất thường xuyên. Về nguồn gốc, quyền tự do kinh doanh thường được nhiều nhà nghiên cứu gắn với cuộc cách mạng dân chủ ở châu Âu lục địa, Triết học Khai sáng và các kết quả của Cách mạng Anh. Ngày nay, hầu hết các nghiên cứu về quyền tự do kinh doanh thường dẫn chiếu đến: “Tìm hiểu về bản chất và nguyên nhân của cải của các dân tộc” (An inquiry into the nature and causes of the wealth of nations)[2]. Tác phẩm này được công bố vào năm 1776, cùng năm với Tuyên ngôn độc lập của Hoa kỳ để ly khai khỏi Liên hiệp Anh. Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ ghi dấu ảnh hưởng của Triết học Khai sáng và kết quả của Cách mạng Anh năm 1688[3]. Tuyên ngôn độc lập của Hoa kỳ và “Tìm hiểu về bản chất và nguyên nhân của cải của các dân tộc” được coi là những tác phẩm quan trọng liên quan đến quyền tự do nói chung và tự do kinh doanh nói riêng. Vì vậy, năm 1776 được một số nhà nghiên cứu cho rằng là năm quan trọng về quyền con người cũng như quyền tự do kinh doanh. Có người còn coi đó là năm tiên tri, vì vậy đã có nhận định: “Lịch sử kinh tế học hiện đại được bắt đầu từ năm 1776. Trước thời điểm này, 6.000 năm lịch sử đã trôi qua mà không lưu lại bất kỳ một tác phẩm xuất bản nào có ảnh hưởng mạnh mẽ cho hậu thế về một chủ đề đã từng chi phối mỗi phút giây trong cuộc sống của con người hàng ngày kể từ lúc bắt đầu thức giấc”[4].

Cuốn sách “Tìm hiểu về bản chất và nguyên nhân của cải của các dân tộc” được coi là chủ thuyết “Bàn tay vô hình” của kinh tế thị trường, mặc dù thuật ngữ “Bàn tay vô hình” chỉ được dùng vài lần trong cuốn sách, nơi mà “Anh cho tôi thứ mà tôi thích, anh sẽ có thứ mà anh yêu cầu”[5], hay “Bạn không cần cám ơn người đã bán cho bạn một chiếc bánh rất ngon, họ làm điều đó không phải vì bạn mà vì lợi ích mà họ thu được, nhưng vì lợi ích của họ mà bạn và xã hội cùng được hưởng lợi”. Adam Smith cũng như một số người hâm mộ ông sau này cho rằng của cải của các dân tộc không phải là xâm chiếm thuộc địa và cướp bóc qua các cuộc chiến tranh. Sự giầu có, thịnh vượng của các dân tộc không tính bằng việc tích lũy của cải, vàng bạc… Tự do là tài sản quý nhất của các dân tộc. Sáng kiến và các giao lưu sẽ mang lại sự thịnh vượng cho các dân tộc.

Có quan điểm cho rằng, Adam Smith đã tuyệt đối hóa ưu việt của thị trường. Về vấn đề này, đánh giá của GS.TS. Lê Ngọc Hùng rất đáng quan tâm: “Adam Smith đã nêu ra một vấn đề xuyên suốt lịch sử các khoa học về kinh tế nói chung và kinh tế học chính trị nói riêng, đó là vấn đề “thị trường hay nhà nước”, thực chất đây là vấn đề phân công lao động giữa nhà nước và thị trường chứ không phải là vấn đề “ai thắng ai”, cũng không phải là cuộc chiến một mất một còn: hoặc nhà nước hoặc thị trường như một số nhà nghiên cứu có đầu óc chính trị hóa cực đoan đã từng nêu ra trước đây. Đây là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lý thuyết của Adam Smith. Ông đã mở đầu lý thuyết của mình bằng luận điểm về tác động của sự phân công lao động đối với cách thức làm việc của con người và kết thúc lý thuyết của mình bằng luận điểm về sự phân công lao động giữa thị trường và nhà nước”[6]. Nội dung cơ bản mà Adam Smith đề cập trong cuốn sách là sự phân công lao động. Phân công lao động bao gồm cả giữa xã hội, doanh nghiệp và Nhà nước. Ông không quan niệm Nhà nước đứng trên xã hội và doanh nghiệp với tư cách là người quản lý. Nhà nước được phân công những công việc lao động để bảo vệ quyền tự do kinh doanh, có trách nhiệm can thiệp khắc phục các khuyết tật của thi trường bởi không có cái gì hoàn hảo trong xã hội.

2. Thuật ngữ giới hạn của quyền tự do kinh doanh rất ít được sử dụng trên phạm vi quốc tế bởi quyền tự do luôn là quyền được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Nhưng cũng như mọi quyền tự do, quyền tự do kinh doanh luôn bị giới hạn bởi quyền tự do của người khác và vì vậy, pháp luật (Nhà nước) phải can thiệp. Việc can thiệp của Nhà nước không hoàn toàn đồng nghĩa với giới hạn quyền tự do kinh doanh. Thị trường với quy luật tìm kiếm lợi nhuận tối đa nên có những khuyết tật cố hữu và vì vậy cần sự phân công lao động cho Nhà nước can thiệp với tư cách là đại diện cho người đóng thuế cũng như toàn xã hội. Câu hỏi quan trọng phải trả lời là tại sao cần thiết phải can thiệp, can thiệp bằng cách nào, can thiệp để bảo vệ ai và bảo vệ cái gì và theo cách thức như thế nào? Nguyên tắc cơ bản mà các nước có nền kinh tế thị trường can thiệp đó là khi cần: (i) Bảo vệ trật tự công; (ii) Bảo vệ môi trường cạnh tranh; (iii) Bảo vệ người tiêu dùng; (iv) Bảo vệ môi trường… Về cơ bản, các tiêu chí này đều liên quan đến trật tự công theo nghĩa rộng. Bảo vệ trật tự công là một khái niệm được sử dụng rộng rãi ở hầu hết các quốc gia, nhất là các nước phát triển, nhưng rất khó tìm thấy một quy định trong luật thực định hay giải thích cụ thể, rõ ràng. Đó là vấn đề của thực tiễn, Tòa án sẽ giải thích vấn đề có thuộc trật tự công hay không. Pháp luật Việt Nam chưa sử dụng khái niệm “bảo vệ trật tự công”, nhưng cũng có khái niệm gần gũi như “điều cấm của pháp luật”, “đạo đức xã hội”.

3. Khi Bộ Kế hoạch và Đầu tư chuẩn bị trình Chính phủ ban hành Nghị định về điều kiện kinh doanh[7], một cuộc tranh luận sôi nổi đã diễn ra mà đỉnh cao là tại Hội thảo do Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI) tổ chức vào tháng 6/2016. Thời báo Kinh tế Sài gòn cũng đã đăng tải nhiều ý kiến khác nhau, trong đó ý kiến cụ thể nhất phải kể đến là của Luật sư Trương Thanh Đức[8]. Khái niệm điều kiện kinh doanh đang được bàn là khái niệm “bị đánh tráo”. Cái mà đang được bàn rộng rãi thật ra là Nhà nước can thiệp vào các hoạt động kinh doanh như thế nào là hợp lý trong phát triển kinh tế thị trường. Nhận diện quan trọng là nhu cầu và cách can thiệp đối với từng loại hoạt động dựa trên đặc thù của hoạt động ấy. Đối với các loại hàng hóa hay hoạt động cấm kinh doanh, có thật sự là cấm hoàn toàn hay không? Thuốc phiện là chất gây nghiện nên thuộc loại hàng hóa cấm kinh doanh, tuy nhiên, nó không thể thiếu được đối với một số việc nhất định như chế biến một số loại thuốc chữa bệnh... Vì vậy, người ta vẫn phải mua bán nó. Tương tự như vậy đối với cấm buôn bán vũ khí, chất nổ… Vậy khái niệm cấm kinh doanh có đúng với bản chất thật sự của sự việc không? Không có hoạt động kinh doanh nào là không có điều kiện vì bất kỳ hoạt động kinh doanh nào cũng liên quan đến người khác và về nguyên tắc quyền tự do kinh doanh luôn bị giới hạn bởi quyền tự do của người khác. Vấn đề quan trọng của pháp luật là phân biệt điều kiện nào bắt buộc, điều kiện nào cần biện pháp can thiệp, một thủ tục xác nhận…? Biện pháp can thiệp, thủ tục xác nhận ấy gọi là gì?

4. Có thể chia cách can thiệp theo các nhóm dưới đây:

Nhóm thứ nhất cần giám sát trực tiếp bởi một cơ quan giám sát do đặc thù kinh doanh có thể gây ra rủi ro hệ thống và rủi ro cho công chúng. Đầu tiên phải kể đến kinh doanh ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán và các quỹ tài chính. Đây là các hoạt động tạo ra các quỹ tiền tệ tập trung, công chúng không phân biệt có phải là thương gia hay không đề có thể tham gia. Lĩnh vực kinh doanh này luôn có rủi ro cao và nguy cơ gây rủi ro hệ thống. Tiếp theo là các hoạt động kinh doanh có nguồn nguy hiểm cao như năng lượng nguyên tử, an ninh năng lượng như điện lực… Đối với lĩnh vực kinh doanh cần giám sát thì biện pháp can thiệp thường bao gồm: (i) Cấp phép; (ii) Các nghiệp vụ phải thực hiện theo các chuẩn mực pháp luật định sẵn, ví dụ như kinh doanh truyền tải điện không được từ chối đấu nối với các nhà máy phát điện, thiết bị đấu nối phải có chung (tương đồng) tiêu chuẩn…; (iii) Chịu sự giám sát và can thiệp trực tiếp của một cơ quan nhà nước độc lập, ví dụ: Cơ quan giám sát tín dụng, Cục Điều tiết điện lực, Cục Giám sát Bảo hiểm, Ủy ban chứng khoán… Sự can thiệp của nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh này ở Việt Nam về cơ bản đang tiếp cận với các thông lệ quốc tế tốt nhất. Tuy nhiên, cũng còn những vấn đề quan trọng cần được tiếp tục hoàn thiện.

Nhóm thứ hai là can thiệp giám sát hành nghề bằng một thủ tục cấp giấy hành nghề và giám sát đạo đức nghề nghiệp. Thông thường, đây là những nghề tự do, ví dụ như luật sư, bác sỹ, kế toán viên, kiểm toán viên, kiểm toán môi trường… Theo thông lệ quốc tế chung, giám sát hoạt động của những người hành nghề tự do thường không do nhà nước đảm nhiệm mà do các tổ chức nghề nghiệp thực hiện. Việc giám sát tập trung vào chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp, thông qua: (i) Phải thực hành tại một tổ chức nghề nghiệp trong một thời hạn luật định được cấp giấy hành nghề; (ii) Phải là thành viên của một tổ chức nghề nghiệp của mình; (iii) Phải tham gia các khóa đào tạo nâng cao chuyên môn; (iv) Phải tuân thủ các quy chuẩn đạo đức nghề nghiệp. Ở Việt Nam hiện nay, Nhà nước đang cấp giấy hành nghề.

Nhóm thứ ba liên quan đến hoạt động có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Nhóm này không chỉ liên quan đến hoạt động kinh doanh mà cả các hoạt động khác. Ví dụ phải kể đến là thực phẩm, thuốc chữa bệnh, nhà hàng ăn uống, bếp ăn cơ quan, nhà máy, các điều kiện về an toàn… Đối với các hoạt động này, việc giám sát vô cùng phức tạp vì tính chất hoạt động. Thông thường, việc giám sát tập trung vào: (i) Cấp phép; (ii) Kiểm tra mẫu.

Nhóm thứ tư liên quan đến những người hành nghề có nguồn nguy hiểm cao cho con người như lái xe khách, lái tàu hỏa, tàu thủy, máy bay… Cách giám sát ở đây chủ yếu là: (i) Cấp giấy phép (thường do tổ chức nghề nghiệp thực hiện); (ii) Kiểm tra sức khỏe thường xuyên[9].

Nhóm thứ năm liên quan đến những quy định bắt buộc, tức là các nhà kinh doanh không có quyền lựa chọn khác. Ví dụ công ty cổ phần là loại công ty chịu nhiều quy định bắt buộc nhất vì công ty có sức chi phối lớn, có sự tham gia của tất cả mọi người, kể cả những người không có khả năng, hiểu biết về kinh doanh (công ty mở) và vì vậy rủi ro rất cao đối với toàn xã hội. Công ty cổ phần buộc phải có 04 cơ quan, đó là: (i) Đại hội cổ đông; (ii) Hội đồng quản trị; (iii) Ban điều hành; (iv) Ban kiểm soát. Nếu niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, công ty phải công bố các thông tin cần thiết như báo các tài chính, bảng cân đối tài sản, người đại diện... Hoạt động của công ty bắt buộc phải được kiểm toán[10]... Một ví dụ khác về quy định bắt buộc đó là các doanh nghiệp, người sử dụng lao động khi ký kết hợp đồng lao động không có quyền tự thỏa thuận về điều kiện bảo đảm an toàn lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chế độ khám chữa bệnh, thai sản... Về cơ bản, các quy định của pháp luật về can thiệp đối với nhóm này tương thích với các thông lệ chung nhất.

Cũng có thể khái quát thêm các nhóm khác hay chia nhỏ các nhóm đã trình bày trên đây.

5. Pháp luật cạnh tranh thể hiện rõ sự can thiệp của Nhà nước đối với thương trường. Dù thể hiện dưới hình thức nào, pháp luật về cạnh tranh thường bao quát ba nhóm cơ bản. Đó là: (i) Pháp luật về chống hạn chế cạnh tranh; (ii) Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh; (iii) Pháp luật về giảm giá.

Pháp luật về chống hạn chế cạnh tranh ra đời do quy luật tự do cạnh tranh luôn hướng tới độc quyền, thủ tiêu canh tranh. Vì vậy, pháp luật phải can thiệp. Pháp luật về chống hạn chế cạnh tranh thường bao gồm luật về cartel, luật về chống độc quyền và luật về hợp nhất doanh nghiệp. Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh cấm các hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây tổn hại cho doanh nghiệp khác. Pháp luật về giảm giá quy định nguyên tắc giảm giá dưới giá thành. Pháp luật về giảm giá không tương đồng hoàn toàn với pháp luật về bán phá giá.

Việt Nam quan tâm khá sớm đến pháp luật cạnh tranh nghiên cứu theo phương pháp so sánh. Điều đó không chỉ thể hiện trong việc Việt Nam đã ban hành Luật Cạnh tranh sớm hơn Trung Quốc nếu lấy mốc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế để đo. Pháp luật cạnh tranh Việt Nam mới quan tâm đến hai vấn đề là pháp luật về chống hạn chế cạnh tranh và pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh, về cơ bản tương đồng với các thông lệ quốc tế chung nhất. Luật về giảm giá chưa được quan tâm bởi có lẽ từ sau khi đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, xu hướng giá của Việt Nam khi nào cũng tăng, nên ít ai quan tâm đến việc giảm giá mà phần đông chủ yếu quan tâm đến chống tăng giá.

6. Vi phạm quyền và lợi ích của người tiêu dùng là một trong những khuyết tật cố hữu của kinh tế thị trường. Người tiêu dùng với vai trò là “thượng đế” trong thị trường nhưng lại là bên yếu thế trong quan hệ hợp đồng vì họ luôn thiếu thông tin so với nhà sản xuất và người bán hàng (bất cân xứng thông tin). Thương gia, với tư cách là nhà buôn chuyên nghiệp phải có nghĩa vụ bảo vệ người tiêu dùng - bên yếu thế trong quan hệ bất cân xứng thông tin. Cũng có quan điểm cho rằng bảo vệ người tiêu dùng là chức năng xã hội của doanh nghiệp[11].

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 của Việt Nam về cơ bản tuân theo các thông lệ quốc tế chung nhất. Các quy định về nghĩa vụ thông tin, điều kiện giao dịch chung, hợp đồng mẫu, nguyên tắc giải thích giao dịch và hợp đồng… trong Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng có mục đích chủ yếu là để bảo vệ người tiêu dùng. Ngoài ra còn phải kể đến các lĩnh vực pháp luật khác như chất lượng hàng hóa, tiêu chuẩn đo lường, nhãn hàng hóa…

7. Ô nhiễm môi trường là một trong khuyết tật của kinh tế thị trường. Nếu như cách đây trên 20 năm còn cần giảng giải cho người Việt Nam về ô nhiễm môi trường, thì ngày nay gần như ai cũng đã hiểu tác hại của nó như thế nào qua các vụ việc như: Vedan xả thải làm ô nhiễm sông Thị Vải, Formosa làm ô nhiễm biển miền Trung, cá chết hàng loạt ở các sông, hồ…; bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ môi trường là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Việt Nam cũng đã ban hành hai đạo luật quan trọng về bảo vệ môi trường là Luật Bảo vệ môi trường và Luật Đa dạng sinh học. Về cơ bản các thông lệ quốc tế chung nhất đã được tiếp thu ở hai đạo luật này. Tuy nhiên, quan trọng hơn là cơ chế thực thi và cơ chế bảo đảm có thực sự phát huy được hiệu quả hay không?

TS. Nguyễn Am Hiểu

Tài liệu tham khảo:

[1]. Xem thêm: Sonesavanh Sayakone, Quyền tự do kinh doanh theo pháp luật của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Luận văn Thạc sỹ luật học, Đại học Luật Hà Nội, 2016.

[2]. Adam Smith: Của cải của các dân tộc, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997.

[3]. Xem Bách khoa toàn thư mở.

[4.] Xem thêm: Tuyên ngôn của Adam Smith về cuộc cách mạng kinh tế năm 1776, nguồn: Mark Skousen (2007), “Adam Smith Declares an Economic Revolution in 1776” (Chapter 1), in Mark Skousen, The Big Three in Economics: Adam Smith, Karl Marx, And John Maynard Keynes (: M.E.Sharpe), pp. 3-45. Biên dịch & Hiệu đính: Nguyễn Hoàng Hà.

[5]. Xem: GS, TS. Lê Ngọc Hùng, Nguồn gốc sự giàu có của các dân tộc: Một số bài học từ Adam Smith trong lãnh đạo, quản lý xã hội hiện đại, 07/7/2015 21:25’, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Binh-luan/2015/34143/Nguon-goc-su-giau-co-cua-cac-dan-toc-Mot-so-bai.aspx.

[6]. Xem: GS.TS. Lê Ngọc Hùng, Nguồn gốc sự giàu có của các dân tộc: Một số bài học từ Adam Smith trong lãnh đạo, quản lý xã hội hiện đại, 07/7/2015 21:25’, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Binh-luan/2015/34143/Nguon-goc-su-giau-co-cua-cac-dan-toc-Mot-so-bai.aspx.

[7]. Xem thêm: Nguyễn Hoàng Khiêm, Pháp luật về điều kiện kinh doanh ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sỹ, Học viện khoa học xã hội.

[8]. Xem: Trương Thanh Đức, Không trái luật thì cũng vi hiến, TBKTSG số 26-2016 (1.332), ngày 23/6/2016.

[9]. Xem: Nguyễn Am Hiểu, Nhận diện thế nào là điều kiện kinh doanh?TBKTSG số 26-2016 (1.332), ngày 23/6/2016.

[10]. Xem: Nguyễn Am Hiểu, Hình thức pháp lý doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay nhìn từ góc độ luật so sánh, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 4 (180) năm 2003.

[11]. Xem thêm: Phạm Thị Huyền Sang, Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học Xã hội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: