Thứ sáu 01/05/2026 16:27
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở theo Bộ luật Lao động năm 2019 - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở theo Bộ luật Lao động năm 2019 - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện
  1. Khái quát về tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở

Tổ chức đại diện người lao động là tổ chức có vị trí quan trọng trong việc đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động. Quyền tự do hiệp hội (hay còn gọi là quyền tự do liên kết) của người lao động là một trong những quyền cơ bản trong phạm trù quyền con người, có giá trị lịch sử lâu đời trong pháp luật quốc tế[1].

Bộ luật Lao động năm 1994 quy định, tổ chức đại diện người lao động duy nhất và chính thức là công đoàn cơ sở, thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động. Trường hợp chưa có công đoàn cơ sở thì chậm nhất 06 tháng, Liên đoàn cấp tỉnh phải thành lập tổ chức công đoàn lâm thời tại doanh nghiệp để đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động và tập thể lao động (Điều 153 Bộ luật Lao động năm 1994). Thực tiễn cho thấy, thời gian thi hành Bộ luật Lao động năm 1994 đã xảy ra tương đối nhiều cuộc đình công bất hợp pháp mà chủ yếu là do tập thể người lao động lãnh đạo đình công mà không có sự lãnh đạo của tổ chức công đoàn. Do đó, để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, Bộ luật Lao động sửa đổi năm 2006 đã sửa đổi theo hướng, đối với những doanh nghiệp chưa có ban chấp hành công đoàn cơ sở, thì việc tổ chức và lãnh đạo đình công phải do đại diện được tập thể lao động cử và việc cử này đã được thông báo với công đoàn huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoặc tương đương (Điều 172a).

Bộ luật Lao động năm 2012 tiếp tục thừa nhận công đoàn cơ sở là tổ chức đại diện chính thức và duy nhất của người lao động. Người lao động dù muốn hay không, họ không có sự lựa chọn trong việc thành lập, gia nhập tổ chức đại diện người lao động vì chỉ có duy nhất một tổ chức đại diện chính là công đoàn.

Trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đều ghi nhận các quốc gia thành viên phải thông qua và duy trì các tiêu chuẩn lao động quốc tế theo Tuyên bố về các nguyên tắc và quyền cơ bản của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) năm 1998, trong đó có quyền tự do liên kết và thỏa ước lao động tập thể[2]. Điều này buộc Việt Nam phải có định hướng sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật, đặc biệt là các quy định về tổ chức đại diện người lao động theo hướng mở rộng, bảo đảm quyền tự do liên kết, thúc đẩy thương lượng tập thể nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của người lao động.

Bộ luật Lao động năm 2019 ra đời đã có những quy định mới về tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mang tính đột phá, thay đổi nhận thức của các nhà lập pháp về tổ chức đại diện người lao động. Theo đó, ngoài tổ chức công đoàn, trong doanh nghiệp có thể có những tổ chức đại diện người lao động độc lập, thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động tại cơ sở. Có thể nói, quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 về tổ chức đại diện người lao động đã có sự đổi mới cơ bản, bám sát thực tiễn, khắc phục được những bất cập, hạn chế được nhận diện trước đó.

2. Quy định pháp luật về tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở

Để tạo cơ sở pháp lý cho tổ chức đại diện người lao động được thành lập và hoạt động hợp pháp, Chương XIII (từ Điều 170 đến Điều 178) Bộ luật Lao động năm 2019 đã có những quy định về các vấn đề như: Thành lập, gia nhập, hoạt động của tổ chức đại diện người lao động; quyền và nghĩa vụ của tổ chức đại diện người lao động và sự bảo đảm hoạt động của tổ chức đại diện người lao động.

2.1. Quyền thành lập, gia nhập, hoạt động của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở

2.1.1. Phạm vi hoạt động và đối tượng của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở

Theo Bộ luật Lao động năm 2019, người lao động tại doanh nghiệp có thể tự do lựa chọn tham gia công đoàn cơ sở trực thuộc Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, được điều chỉnh bởi Luật Công đoàn năm 2012 hoặc lựa chọn gia nhập tổ chức đại diện người lao động khác, độc lập với công đoàn, không trực thuộc Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, do người lao động tự nguyện lập ra, được điều chỉnh bởi Bộ luật Lao động năm 2019. So với trước đây, các quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 đã mở rộng theo hướng cho phép người lao động có sự lựa chọn tham gia tổ chức đại diện lao động theo nhu cầu của mình, họ có thể lựa chọn tham gia công đoàn hoặc các tổ chức đại diện khác hoặc không tham gia các tổ chức đại diện. Điều này đã thể hiện rõ nét quyền tự do liên kết của người lao động.

Đối tượng tham gia tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở theo Bộ luật Lao động năm 2019 đã có sự mở rộng so với Luật Công đoàn năm 2012. Theo Luật Công đoàn năm 2012, đối tượng tham gia công đoàn chỉ có thể là người lao động có quốc tịch Việt Nam. Hiện nay, theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019, người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam có nhu cầu cũng có thể tham gia các tổ chức đại diện trong doanh nghiệp, bảo đảm việc thu hút thành viên tham gia tổ chức, thể hiện sự bình đẳng về quyền tự do liên kết của người lao động nước ngoài với người lao động Việt Nam. Quy định như vậy về cơ bản đã phù hợp với tinh thần của Công ước 87 của ILO khi tiến tới bảo đảm bình đẳng, không có sự phân biệt đối xử giữa bất kỳ người lao động nào khi thực hiện quyền tự do liên kết của mình.

2.1.2. Điều kiện thành lập tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở

Bộ luật Lao động năm 2019 quy định tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở được thành lập và hoạt động hợp pháp kể từ thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép đăng ký. Bởi lẽ, quyền tự do lập hội là quyền con người của người lao động được pháp luật quốc tế thừa nhận nhưng vẫn phải đặt trong khuôn khổ pháp luật, hài hòa lợi ích với người sử dụng lao động và của cộng đồng. Ngoài ra, đây cũng là những quy định lần đầu tiên xuất hiện, do đó việc quy định chặt chẽ sẽ giúp cho việc thi hành các quy định về tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đạt hiệu quả và Nhà nước có thể kiểm soát, quản lý các tổ chức này theo đúng mục đích, tôn chỉ tránh việc các tổ chức đại diện vi phạm pháp luật.

Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở muốn được thành lập sẽ phải chuẩn bị thành phần hồ sơ hợp lệ nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét, nếu đủ điều kiện, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ cấp đăng ký cho tổ chức đại diện người lao động. Kể từ ngày được cấp đăng ký, tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở có tư cách đại diện chính thức, có quyền và nghĩa vụ trong việc đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, bình đẳng với tổ chức công đoàn cũng như với các tổ chức đại diện người lao động khác tại cơ sở đã được thành lập.

Trong quá trình hoạt động, tổ chức đại diện người lao động có thể bị thu hồi đăng ký khi vi phạm tôn chỉ, mục đích hoạt động của tổ chức theo điều lệ hoặc tổ chức đại diện người lao động chấm dứt sự tồn tại trong trường hợp chia, tách, sáp nhập, hợp nhất giải thể hoặc doanh nghiệp giải thể, phá sản. Về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký, thẩm quyền, thủ tục cấp đăng ký, thu hồi đăng ký; quản lý nhà nước đối với vấn đề tài chính, tài sản của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp; chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể; quyền liên kết của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp cụ thể thế nào sẽ do Chính phủ quy định.

2.1.3. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của tổ chức đại diện tại cơ sở

Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở khi xây dựng nguyên tắc tổ chức và hoạt động phải bảo đảm tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và điều lệ; tự nguyện, tự quản, dân chủ, minh bạch. Thực hiện nguyên tắc tự nguyện, tự quản tốt sẽ thể hiện quyền làm chủ của chính những thành viên tổ chức. Đây là một trong những yếu tố thu hút người lao động chấp nhận tham gia tổ chức đại diện người lao động vì họ cho rằng đây sẽ là tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích cho mình tốt nhất.

Để bảo đảm quyền tự chủ, tự quyết của người lao động, tránh sự can thiệp mang tính hành chính của Nhà nước tới quyền của tổ chức, vi phạm nguyên tắc tự do liên kết, Bộ luật Lao động năm 2019 chỉ có các quy định khung mang tính chất định hướng còn việc cụ thể các nguyên tắc tổ chức và hoạt động sẽ do chính các thành viên của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở xây dựng, thông qua và thực hiện theo Điều lệ. Như vậy các quy định trên đã có sự tương thích với các định của pháp luật quốc tế. Bởi theo ILO, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của tổ chức người lao động phải do chính tổ chức đó xây dựng, ghi nhận trong Điều lệ và điều đó thuộc về phạm vi tự quản, tự chủ của chính tổ chức đó, miễn không trái với pháp luật quốc gia. Pháp luật lao động còn quy định Chính phủ sẽ quy định chi tiết một số nội dung của Điều lệ, từ đó tạo hành lang pháp lý cho việc thành lập và hoạt động hiệu quả của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở.

2.2. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở

2.2.1. Quyền của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở

Khoản 3 Điều 170 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định, tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở và tổ chức công đoàn cơ sở bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ trong việc đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong quan hệ lao động. Như vậy, các tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở khi được ghi nhận sẽ có các quyền tương đương với tổ chức công đoàn cơ sở, thể hiện không có sự phân biệt giữa các tổ chức. Tuy nhiên, tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở sẽ không thể bình đẳng ngang bằng với tổ chức công đoàn cơ sở. Vì ngoài chức năng đại diện, bảo vệ người lao động, tổ chức công đoàn còn là tổ chức chính trị - xã hội, tính chính trị ở đây được thể hiện ở nhiều chức năng khác nhau quy định tại Luật Công đoàn, còn tổ chức đại diện người lao động ra đời chỉ với chức năng đại diện, bảo vệ người lao động tại doanh nghiệp. Việc quy định như vậy là hợp lý, một mặt đã có sự phù hợp, tương thích với pháp luật quốc tế, mặt khác cũng bảo đảm sự ổn định chính trị của đất nước.

2.2.2. Quyền của ban lãnh đạo tổ chức

Ban lãnh đạo tổ chức sẽ do chính các thành viên của tổ chức đó bầu ra theo nguyên tắc dân chủ, tự nguyện, minh bạch, công khai. Tiêu chí thành viên ban lãnh đạo phải là người lao động Việt Nam đang làm việc tại doanh nghiệp; không đang trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt hoặc chưa được xóa án tích do phạm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, các tội xâm phạm sở hữu theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Khi được thành viên tín nhiệm bầu, thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở có các quyền như: Tiếp cận người lao động tại nơi làm việc trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở; Việc thực hiện quyền này phải bảo đảm không ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của người sử dụng lao động,… (khoản 1 Điều 176 Bộ luật Lao động năm 2019). Có thể thấy, pháp luật đã có những quy định cụ thể về quyền làm cơ sở pháp lý cho thành viên ban lãnh đạo có thể thực hiện tốt các công việc, nhiệm vụ của mình trong nhiệm kỳ của ban lãnh đạo tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở. Nếu không quy định các quyền này thì thành viên ban lãnh đạo có thể sẽ không thể thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình khi tiến hành đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động tại doanh nghiệp.

2.3. Sự bảo đảm hoạt động của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở

Bộ luật Lao động năm 2019 đã có những quy định về quyền tự chủ, tự quản về tài chính; nghĩa vụ của người sử dụng lao động đối với tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở và các hành vi bị nghiêm cấm đối với người sử dụng lao động liên quan đến thành lập, gia nhập và hoạt động của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở.

2.3.1. Quyền tự chủ, tự quản về tài chính

Theo khoản 1 Điều 26 Luật Công đoàn năm 2012, người sử dụng lao động sẽ phải đóng góp kinh phí và quỹ công đoàn, cụ thể bằng 02% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động. Việc quy định nguồn quỹ của tổ chức công đoàn như vậy là không tương thích với Công ước số 98. Theo ILO, việc đóng góp kinh phí vào quỹ công đoàn là một trong những hình thức thể hiện sự can thiệp của người sử dụng lao động vào tổ chức đại diện, với mục đích đặt tổ chức này dưới sự kiểm soát của người sử dụng lao động, khó bảo đảm được sự độc lập của tổ chức này. Để khắc phục bất cập đó, Bộ luật Lao động năm 2019 không quy định người sử dụng lao động phải đóng góp kinh phí vào quỹ của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở. Thay vào đó, phí thành viên, nguồn tài sản tài chính quỹ của tổ chức sẽ do chính những thành viên của tổ chức đó đóng góp và sẽ trực tiếp quản lý quỹ, phù hợp với tôn chỉ, mục đích của tổ chức, miễn là không trái với các quy định của pháp luật. Quy định này không chỉ phù hợp với các quy định của ILO mà còn thể hiện quyền tự chủ cũng như sự độc lập hoàn toàn về mặt tài chính của tổ chức đại diện người lao động, tránh sự mua chuộc từ phía người sử dụng lao động hoặc các chủ thể khác nhằm làm suy yếu hoạt động của tổ chức người lao động.

2.3.2. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động đối với tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở

Bộ luật Lao động năm 2019 quy định người sử dụng lao động không được gây cản trở, khó khăn khi người lao động tiến hành các hoạt động hợp pháp nhằm thành lập, gia nhập và hoạt động các tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở. Kể từ khi được thành lập hợp pháp, người sử dụng lao động phải công nhận và có sự tôn trọng các quyền và nghĩa vụ của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, đây là một trong các nghĩa vụ người sử dụng lao động phải thực hiện nhằm giúp cho tổ chức của người lao động phát huy tối đa chức năng của mình.

Để bảo đảm việc làm, thời giờ làm việc, tiền lương,... cho người lao động, Bộ luật Lao động năm 2019 đã quy định về nghĩa vụ của người sử dụng lao động đối với thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở. Theo đó, người sử dụng lao động phải thỏa thuận bằng văn bản với ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, chuyển làm công việc khác, kỷ luật sa thải đối với người lao động là thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở. Trường hợp không thỏa thuận được, hai bên phải báo cáo với cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Sau 30 ngày kể từ ngày báo cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh biết, người sử dụng lao động mới có quyền quyết định. Trường hợp không nhất trí với quyết định của người sử dụng lao động thì người lao động, ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở có quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.

Trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình, nếu hợp đồng lao động giữa người lao động là thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp đang trong nhiệm kỳ hết thời hạn thì người sử dụng lao động phải gia hạn hợp đồng lao động đã giao kết với chính thành viên đó đến hết nhiệm kỳ còn lại.

2.3.3. Các hành vi bị nghiêm cấm đối với người sử dụng lao động liên quan đến thành lập, gia nhập và hoạt động của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở

Điều 175 Bộ luật Lao động năm 2019 đã ghi nhận các hành vi bị nghiêm cấm của người sử dụng lao động đối với tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở bao gồm: (i) Phân biệt đối xử đối với người lao động, thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở vì lý do thành lập, gia nhập hoặc hoạt động của tổ chức đại diện người lao động; (ii) Can thiệp, thao túng quá trình thành lập, bầu cử, xây dựng kế hoạch công tác và tổ chức thực hiện các hoạt động của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, bao gồm cả việc hỗ trợ tài chính hoặc các biện pháp kinh tế khác nhằm làm vô hiệu hóa hoặc suy yếu việc thực hiện chức năng đại diện của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở hoặc phân biệt đối xử giữa các tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở. Điều 175 là một trong những quy định có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp sự bảo vệ cần thiết đối với người lao động, cán bộ tổ chức đại diện, bản thân tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở. Ngoài ra, đây là điều luật quan trọng nhất của Bộ luật Lao động để bảo đảm sự phù hợp giữa pháp luật Việt Nam với các tiêu chuẩn của Công ước 98 của ILO về áp dụng các nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể[3]. Những hành vi liệt kê nêu trên của người sử dụng lao động gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền tự do việc làm, thu nhập, tiền lương của người lao động, thành viên ban lãnh đạo tổ chức, hoạt động của tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp và sự tồn tại của quan hệ lao động. Theo ILO, đây chính là các hành vi phân biệt đối xử chống lại công đoàn trong việc làm của họ[4].

Việc bảo vệ tổ chức đại diện người lao động trước những hành vi can thiệp của người sử dụng lao động đã nhận được nhiều sự quan tâm của ILO cũng như các quốc gia trên thế giới. Ủy ban về Tự do hiệp hội của ILO đã nhấn mạnh rằng, chỉ với các quy định về hành vi can thiệp, thao túng bị cấm là không đủ mà nó cần đi kèm với những quy định về trình tự, thủ tục giải quyết, những quy định chế tài đủ nghiêm khắc và răn đe[5]. Trên cơ sở quy định của ILO, ngày 17/01/2022, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 12/2022/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định theo hướng xử phạt vi hành chính đối với người sử dụng lao động khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ đối với tổ chức công đoàn và tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở. Tác giả cho rằng, pháp luật đã bao quát đầy đủ các hành vi bị cấm và chế tài tương ứng đối với từng hành vi vi phạm với các tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở. Nhận xét về chế tài áp dụng, có thể thấy các chế tài xử phạt này đã mang tính hiệu quả, đủ sức răn đe với các hành vi vi phạm chống công đoàn của người sử dụng lao động.

2.4. Một số bất cập, hạn chế của các quy định về tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở theo Bộ luật Lao động năm 2019

Bộ luật Lao động năm 2019 dù đã có hiệu lực nhưng các quy định về tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở vẫn chưa thể triển khai thi hành trên thực tế do một số những bất cập, hạn chế sau:

Thứ nhất, về phạm vi của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở. Hiện nay, người lao động có quyền thành lập, gia nhập và hoạt động theo tổ chức Công đoàn truyền thống hoặc người lao động tại doanh nghiệp có quyền thành lập, gia nhập và hoạt động theo tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp. Tuy nhiên, phạm vi mà người lao động được quyền thành lập tổ chức đại diện người lao động bị giới hạn trong phạm vi một doanh nghiệp mà chưa được mở rộng phạm vi như cấp ngành hay các cơ quan, tổ chức khác ngoài doanh nghiệp. Tại các cơ quan, tổ chức này, người sử dụng lao động vẫn thực hiện hoạt động thuê mướn, tuyển dụng người lao động nhưng người lao động không được thực hiện quyền tự do liên kết của mình. Đối với tổ chức đại diện cấp ngành hay tại các cơ quan, tổ chức khác ngoài doanh nghiệp, chủ thể đại diện, bảo vệ cho quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động vẫn là tổ chức công đoàn. Việc giới hạn phạm vi thành lập này không đảm quyền tự do liên kết giữa người lao động làm việc tại các doanh nghiệp với người lao động làm việc trong các cơ quan, tổ chức khác, dẫn đến các quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 chưa có sự tương thích hoàn toàn với các quy định về quyền tự do liên kết của ILO tại Công ước số 87.

Thứ hai, về đối tượng tham gia. Bộ luật Lao động năm 2019 đã ghi nhận người lao động trong doanh nghiệp có quyền thành lập, gia nhập và hoạt động tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp. Như vậy, đối tượng tham gia tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp có thể bao gồm người lao động Việt Nam, người nước ngoài làm việc thông qua hợp đồng lao động trong phạm vi doanh nghiệp tại Việt Nam. Điều này cơ bản đã có sự tương thích với pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước số 87 của ILO khi lao động người nước ngoài làm việc tại Việt Nam đã có sự bình đẳng với người lao động Việt Nam trong việc thực hiện quyền tự do liên kết của mình.

Dù vậy, quy định trên chưa bao quát được hết quyền tự do liên kết của người lao động, đặc biệt là người lao động làm việc trong các đơn vị sự nghiệp, đơn vị công như cán bộ, công chức, viên chức, những người làm việc không có quan hệ lao động. Những người lao động nói trên không thể lựa chọn thành lập, tham gia tổ chức đại diện người lao động khác mà chỉ có sự lựa chọn thành lập, gia nhập tổ chức công đoàn. Ủy ban về Tự do hiệp hội cho rằng, không chỉ người lao động làm việc trong khu vực tư nhân của nền kinh tế mà gồm cả công chức và người làm việc trong khu vực công nói chung[6] đều được bảo đảm quyền tự do hiệp hội, không có sự phân biệt đối xử nào khi thực hiện quyền này. Việc giới hạn đối tượng thực hiện quyền thành lập, gia nhập tổ chức đại diện người lao động đã thể hiện sự không phù hợp với tinh thần của Công ước 87 về quyền tự do liên kết, chưa bảo đảm bình đẳng về quyền thành lập, gia nhập tổ chức đại diện giữa người lao động xác lập quan hệ lao động tại doanh nghiệp với người lao động làm việc trong các cơ quan, tổ chức ngoài doanh nghiệp.

Thứ ba, chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về việc thành lập tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở. Quy định về tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở là quy định mới, liên quan đến đường lối, chính sách của Đảng, đến các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như Hiến pháp, Luật Công đoàn, Luật Doanh nghiệp,... nên nếu không quy định chi tiết rõ ràng và đồng bộ có thể dẫn đến mẫu thuẫn, chồng chéo các quy định, giảm hiệu quả áp dụng trong quá trình thực hiện. Đó là các nội dung về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký; thẩm quyền, thủ tục cấp đăng ký, thu hồi đăng ký; số lượng thành viên tối thiểu là người lao động làm việc tại doanh nghiệp phải có tại thời điểm đăng ký của tổ chức đại diện người lao động; nội dung phải có của Điều lệ của tổ chức đại diện người lao động... được giao cho Chính phủ hướng dẫn chi tiết. Tuy nhiên, hiện nay Chính phủ vẫn chưa ban hành văn bản hướng dẫn các nội dung trên do đó các quy định này vẫn chưa được triển khai vì chưa có cơ sở pháp lý thực hiện.

Thứ tư, quy mô của tổ chức đại diện người lao động mới chỉ giới hạn tại cấp cơ sở. Theo quy định của Luật Công đoàn hiện hành và Điều lệ Công đoàn, hệ thống tổ chức công đoàn bao gồm: Cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp trên cơ sở trực tiếp và các cấp cơ sở. Có thể thấy, hệ thống tổ chức công đoàn đã được thiết lập đồng bộ từ trung ương đến địa phương và ở các cấp cơ sở tạo thành mạng lưới thống nhất trong tổ chức và hoạt động. So sánh với tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, có thể thấy tổ chức công đoàn có hệ thống đồng bộ, quy mô phạm vi rộng hơn rất nhiều còn tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở chỉ được quy định trong quy mô doanh nghiệp mà không thể thành lập cấp trên cấp cơ sở. Đây là sự bất bình đẳng giữa hai tổ chức này và nếu không giải quyết được sẽ khiến cho tổ chức đại diện người lao động mang tính hình thức, khó có thể phát huy tối đa vai trò của tổ chức này trong việc cải thiện vị thế, tiếng nói của người lao động trước người sử dụng lao động, đặc biệt là trong vấn đề đối thoại, thương lượng tập thể để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động.

Thứ năm, chưa có quy định cụ thể hướng dẫn trường hợp tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở có thể gia nhập Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam. Theo khoản 3 Điều 172 Bộ luật Lao động năm 2019, tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở có thể được thành lập một cách độc lập thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong doanh nghiệp hoặc có thể tiến hành gia nhập Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có những quy định cụ thể, chi tiết về thủ tục, trình tự gia nhập Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam. Do chưa có những quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục gia nhập nên hiện nay các quy định về việc gia nhập của tổ chức đại diện người lao động vào Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam chưa được thực hiện, ảnh hưởng đến quyền tự do liên kết của chính tổ chức đại diện đó.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở

Qua thực tiễn thi hành, các quy định về tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đã bộc lộ một số bất cập, hạn chế, để hoàn thiện pháp luật lao động về tổ chức đại diện người lao động, tác giả đề xuất một số kiến nghị như sau:

Thứ nhất, quy định người lao động có thể thành lập, gia nhập và hoạt động các tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở ngoài phạm vi doanh nghiệp, mở rộng ra cả cấp ngành, nhiều doanh nghiệp. Pháp luật lao động cần có sự sửa đổi theo hướng quy định mở rộng quyền tự do liên kết của người lao động được áp dụng ở cả cấp ngành và tại các cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, cá nhân có sử dụng lao động ngoài doanh nghiệp. Khi những người lao động tại đơn vị sử dụng lao động này được bảo đảm quyền tự do liên kết sẽ tạo nên sự bình đẳng giữa họ với người lao động làm việc tại doanh nghiệp, phát huy được vai trò, vị thế của tổ chức đại diện người lao động. Khi các tổ chức đại diện người lao động được mở rộng ra ở cấp ngành, với đặc thù là tập thể người lao động làm việc trong cùng ngành nghề, cùng chuyên môn lao động sẽ giúp cho việc thúc đẩy thương lượng tập thể được thực chất, nâng cao tiếng nói của người lao động nhằm cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao lợi ích, bảo vệ người lao động.

Thứ hai, bổ sung những đối tượng khác như cán bộ, công chức, viên chức, những người lao động không có quan hệ lao động được hưởng quyền thành lập, gia nhập và hoạt động các tổ chức đại diện người lao động. Theo Công ước 87 của ILO, cán bộ, công chức, viên chức và người lao động không có quan hệ lao động được xác định là những người lao động và được quyền thành lập, gia nhập các tổ chức đại diện người lao động ngoài tổ chức công đoàn. Do đó, pháp luật lao động cần sửa đổi, bổ sung không chỉ những người lao động tại doanh nghiệp được quyền thành lập, gia nhập tổ chức đại diện tại cơ sở mà cả cán bộ, công chức, viên chức được thực hiện quyền đó ngay tại các cơ quan, tổ chức, người lao động không có quan hệ lao động có thể lựa chọn một tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở phù hợp với nhu cầu, trên cơ sở tự nguyện để tham gia.

Thứ ba, nhanh chóng ban hành văn bản hướng dẫn của Chính phủ về tổ chức đại diện người lao động. Hiện nay, Chính phủ vẫn chưa ban hành văn bản hướng dẫn các quy định trong Bộ luật Lao động năm 2019 về tổ chức đại diện người lao động nên thực tế chưa thể thi hành. Do đó, để có cơ sở pháp lý cho hoạt động của tổ chức đại diện người lao động được thực chất, tránh hình thức, Chính phủ cần nhanh chóng ban hành Nghị định hướng dẫn, đặc biệt là các quy định hướng dẫn về việc thành lập, hoạt động của tổ chức đại diện người lao động.

Thứ tư, pháp luật cần quy định số lượng thành viên tối thiểu để đủ điều kiện thành lập tổ chức đại diện người lao động. Hiện nay, theo quy định, phạm vi thành lập tổ chức đại diện của người lao động chủ yếu trong doanh nghiệp. Quy mô doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Do đó, với mong muốn thúc đẩy quyền tự do liên kết, bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp cho người lao động làm việc trong các doanh nghiệp này, tác giả đề xuất số lượng thành viên tối thiểu để thành lập tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở là từ 05 thành viên trở lên, có nguyện vọng tham gia, tán thành điều lệ của tổ chức đại diện. Quy định số lượng như trên là hợp lý, phù hợp với quy mô doanh nghiệp ở Việt Nam cũng như có sự đồng bộ, thống nhất với Luật Công đoàn hiện hành nhằm bảo đảm sự bình đẳng về thành viên giữa tổ chức công đoàn với tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở.

Thứ năm, quy định tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở có thể thành lập các tổ chức đại diện cấp trên cấp cơ sở. Hiện nay, quy mô của tổ chức đại diện người lao động đang bị giới hạn ở cấp cơ sở, chưa được mở rộng ra các cấp cao hơn như đối với tổ chức công đoàn. Do đó, pháp luật lao động cần sửa đổi, bổ sung các quy định về việc tổ chức đại diện người lao động ngoài quy mô cấp cơ sở có thể thành lập các tổ chức đại diện người lao động cấp trên cơ sở. Từ đó, hệ thống tổ chức đại diện có thể mở rộng, mang tính cấp bậc, thuận tiện trong việc quản lý, điều hành các tổ chức đại diện, cải thiện tiếng nói của người lao động, nâng cao vai trò, vị thế của tổ chức đại diện người lao động, tiến tới bình đẳng với tổ chức công đoàn trong việc đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động. Tuy nhiên, khi nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định về vấn đề này, Nhà nước cần có sự nghiên cứu, xem xét, đánh giá về tính khả thi và có lộ trình cụ thể vì tổ chức đại diện người lao động là vấn đề mới, sự nhận thức của người lao động và các chủ thể khác cần có thời gian tiếp nhận, tránh đột ngột sẽ làm giảm hiệu quả của các quy định về hệ thống tổ chức đại diện người lao động cũng như có sự can thiệp từ các chủ thể khác nhằm làm suy yếu hoặc định hướng hoạt động của tổ chức đại diện người lao động không theo đúng chức năng của mình.

Thứ sáu, bổ sung các quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục tổ chức đại diện người lao động gia nhập Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam nếu có nhu cầu. Hiện nay, Luật Công đoàn năm 2012 không có quy định về thủ tục gia nhập của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở vào Công đoàn Việt Nam. Điều này đã dẫn đến sự thiếu đồng bộ trong các quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 với Luật Công đoàn về sự gia nhập của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở. Luật Công đoàn năm 2012 đang tiến hành sửa đổi các quy định để phù hợp hơn với thực tiễn cũng như khắc phục sự thiếu đồng bộ này. Theo tác giả, khi sửa đổi quy định về quyền gia nhập thành lập, gia nhập công đoàn cần quy định như sau: “Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở được thành lập hợp pháp, tự nguyện tán thành Điều lệ Công đoàn Việt Nam thì có quyền gia nhập Công đoàn Việt Nam và trở thành công đoàn cơ sở. Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam quy định trình tự, thủ tục tổ chức đại diện người lao động gia nhập Công đoàn Việt Nam”.

Đào Vũ Quang Huy

Học viên Cao học Khóa 29 Luật Kinh tế - Đại học Luật Hà Nội


[1] Trần Thị Thúy Lâm, Đỗ Thị Dung (2021), Bình luận về những điểm mới của Bộ luật Lao động năm 2019, Nxb. Lao động, Hà Nội, tr. 237.

[2] Điều 19.1 Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và khoản 2 Điều 13.4 Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA).

[3] Nguyễn Hữu Chí, Nguyễn Văn Bình (2021), Bình luận khoa học Bộ luật Lao động năm 2019, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 458.

[4] Điều 1 Công ước 98 về quyền tổ chức và thương lượng tập thể của ILO.

[5] Tổ chức Lao động quốc tế (2017), Bộ tổng tập về các nguyên tắc và quyết định của Ủy ban ILO về tự do hiệp hội, Tái bản lần thứ năm, đoạn 818, 822.

[6] Tổ chức Lao động Quốc tế (2017), Bộ tổng tập về các Nguyên tắc và quyết định của Ủy ban ILO về Tự do hiệp hội, Tái bản lần thứ năm, đoạn 209.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: