Thứ hai 11/05/2026 18:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự trong Bộ luật Hình sự năm 2015

Vũ khí theo nghĩa Hán - Việt: Vũ là võ thuật, quân sự; khí là đồ dùng, là các đồ vật được sử dụng để chiến đấu. Tất cả các vật dụng có thể dùng vào việc chiến đấu đều được gọi là vũ khí[1]. Còn vũ khí quân dụng là các loại vũ khí được trang bị cho quân sự dùng vào mục đích quốc phòng.


Phương tiện kỹ thuật quân sự là các loại xe, khí tài, phương tiện khác được thiết kế, chế tạo và trang bị cho lực lượng vũ trang để huấn luyện, chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

Pháp lệnh số 16/2011/UBTV/QH12 ngày 30/06/2011 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (Pháp lệnh số 16/2011) quy định về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ; trách nhiệm quản lý nhà nước đối với vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ nhằm bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Tại Điều 12 của Pháp lệnh số 16/2011 đã xác định việc nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, sửa chữa vũ khí; xác định đối tượng được trang bị vũ khí quân dụng bao gồm quân đội nhân dân, công an nhân dân, qân quân tự vệ, kiểm lâm, lực lượng chuyên trách chống buôn lậu của hải quan, đơn vị hải quan cửa khẩu, an ninh hàng không.

Vũ khí quân dụng theo Pháp lệnh số 16/2011 gồm: Các loại súng ngắn, súng trường, súng liên thanh; các loại pháo, dàn phóng, bệ phóng tên lửa, súng cối, hóa chất độc và nguồn phóng xạ; các loại đạn, bom, mìn, lựu đạn, ngư lôi, vật liệu nổ quân dụng, hỏa cụ và vũ khí khác dùng cho mục đích quốc phòng. Phương tiện kỹ thuật quân sự gồm: Xe ô tô, xe kéo, khí tài ra đa, cầu phao... phương tiện khác được thiết kế, chế tạo và trang bị cho lực lượng vũ trang để huấn luyện, chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự được quy định tại Điều 95 Mục B Chương I - Các Tội xâm phạm an ninh quốc gia Bộ luật Hình sự năm 1985 và đến Bộ luật Hình sự năm 1999 tội danh này được quy định tại Điều 230 Chương XIX - Các Tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Hiện nay, Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự được quy định tại Điều 304 mục 3 Chương XXI - Các Tội khác xâm phạm an toàn công cộng Bộ luật Hình sự năm 2015. Trong quá trình áp dụng pháp luật, chúng tôi thấy, còn một số vướng mắc, bất cập trong áp dụng Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 1999 và cho đến hiện nay các quy định tại Điều 304 của Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng chưa phù hợp. Vì vậy, trong phạm vi bài viết này cùng với việc nêu ra những vướng mắc, bất cập quy định tại Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 1999, chúng tôi cũng xin nêu ra những kiến nghị sửa đổi Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho phù hợp.

Điều 95 Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định:

1. Người nào chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Vật phạm pháp có số lượng lớn;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình."

Trong quá trình áp dụng pháp luật để xử lý Tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự theo Bộ luật Hình sự năm 1985 đã gặp phải nhiều khó khăn, vướng mắc. Do đó, ngày 07/01/1995, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư liên ngành số 01/TTLN hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong việc xử lý đối với các hành vi chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự. Đến Bộ luật Hình sự năm 1999, tội danh này đã được sửa đổi bổ sung và quy định tại Điều 230 của Chương XIX - Các Tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, với nội dung như sau:

1. Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.

a) Có tổ chức;

b) Vật phạm pháp có số lượng lớn;

c) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm đến mười lăm năm.

a) Vật phạm pháp có số lượng rất lớn;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

a) Vật phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm".

Như vậy, so với Điều 95 Bộ luật Hình sự năm 1985 thì Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có những quy định khác, quy định bổ sung, đó là, Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự không còn được quy định tại Chương I - Các Tội xâm phạm an ninh quốc gia, mà được quy định tại Chương XIX - Các Tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Đã tội phạm hoá hành vi vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự. Do đó, trong cấu thành cơ bản của tội danh này đã bổ sung thêm hành vi vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự. Bên cạnh đó, hành vi vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự qua biên giới được quy định tại khoản 2 Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 1999 là một tình tiết định khung tăng nặng. Đã quy định hình phạt tiền, phạt quản chế hoặc cấm cư trú là hình phạt bổ sung trong phần chế tài của Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Đã phân chia khoản 3 Điều 95 Bộ luật Hình sự năm 1985 thành khoản 3 và khoản 4 Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 1999, đồng thời thu hẹp khoảng cách mức hình phạt tối đa và tối thiểu trong các khung hình phạt. Bỏ hình phạt tử hình trong phần chế tài của Điều 95 Bộ luật Hình sự năm 1985. Những quy định trên hoàn toàn phù hợp với chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn mới, góp phần đấu tranh phòng chống có hiệu quả tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự.

Tuy nhiên, quá trình áp dụng Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 1999 đã bộc lộ một số vướng mắc trong việc xử lý đối với tội danh này mà chưa có văn bản pháp luật nào thay thế cho Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 07/01/1995 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ hướng dẫn thi hành tội danh này. Do vậy, hiện nay khi tiến hành điều tra, truy tố và xét xử tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn áp dụng hướng dẫn tại Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 07/01/1995, mặc dù thông tư liên ngành này quy định còn chưa đầy đủ có nhiều hạn chế. Mặt khác, Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 1999 có nhiều quy định khác với Điều 95 Bộ luật Hình sự năm 1985, do đó, trong quá trình áp dụng pháp luật các cơ quan tiến hành tố tụng đã gặp phải nhiều vướng mắc đó là:

- Thông tư liên ngành số 01/TTLN chỉ hướng dẫn các hành vi chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, mà chưa có hướng dẫn hành vi vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự.

- Thông tư liên ngành số 01/1995 đã quy định số lượng cụ thể vật phạm pháp đối với một số đối tượng phổ biến như súng, đạn, lựu đạn, thuốc nổ, kíp mìn, nụ xuỳ, dây cháy chậm, dây nổ để truy cứu trách nhiệm hình sự theo các khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 95 Bộ luật Hình sự năm 1985 nhưng cũng mới chỉ đề cập đến các đối tượng là vũ khí quân dụng, còn các đối tượng khác, đặc biệt các đối tượng là phương tiện kỹ thuật quân sự thì chưa có quy định.

- Chỉ quy định số lượng cụ thể vật phạm pháp để xác định thế nào là “vật phạm pháp có số lượng lớn” chứ chưa có quy định để xác định thế nào là “vật phạm pháp có số lượng rất lớn” và “vật phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn”.

- Thông tư liên ngành số 01/TTLN chưa có hướng dẫn chung về việc phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 95 Bộ luật Hình sự năm năm 1985 và nay là điểm d khoản 2 Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 1999 mà chỉ có hướng dẫn một số trường hợp cụ thể như: Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng mà gây hậu quả làm chết người, gây tổn hại sức khoẻ cho người khác, gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm c khoản 2 Điều 95 Bộ luật Hình sự năm 1985 và nay là điểm d khoản 2 Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 1999 về Tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, với tình tiết định khung tăng nặng là gây hậu quả nghiêm trọng.

Những quy định nêu trên của Thông tư liên ngành 01/1995 chưa bao quát hết các trường hợp phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng đã xảy ra trong thực tế, đặc biệt chưa có quy định thế nào là gây hậu quả rất nghiêm trọng và gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng để xử lý tội phạm theo khoản 3 và khoản 4 Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Từ những vướng mắc, bất cập và với những phân tích, lập luận nêu trên, chúng tôi xin đưa ra một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định của Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 1999 và nay là Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 như sau:

Về Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 hiện nay quy định: Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự. Như vậy, trong điều luật này quy định sáu hành vi được coi là tội phạm gồm: Chế tạo trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; sử dụng trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; mua bán trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự.

Chế tạo trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự là làm mới hoàn toàn hoặc lắp ráp từ những bộ phận của vũ khí, phương tiện và có giá trị sử dụng theo tính năng tác dụng của chúng. Hành vi làm mới hoàn toàn súng được coi là chế tạo vũ khí quân dụng nếu đạn dùng cho súng là đạn dùng cho các vũ khí quân dụng; tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự là cất, giữ vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép; vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự được hiểu là hành vi đưa các loại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự từ nơi này tới nơi khác mà không được cơ quan thẩm quyền cho phép; sử dụng trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự là sử dụng không có giấy phép của cơ quan Nhà nưóc có thẩm quyền; chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự bao gồm các hành vi cướp, cưỡng đoạt, cướp giật, công nhiên chiếm đoạt, tham ô, trộm cắp, lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm hoặc dùng các thủ đoạn khác chiêm đoạt tài sản các đôi tượng nói trên. Cũng được coi là chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự các hành vi của quân nhân, nhân viên, công nhân quốc phòng và những người khác được trang bị trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự để huấn luyện chiến đấu hoặc thực hiện nhiệm vụ trong thời gian công tác, khi xuất ngũ, chuyển ngành, về hưu mà không còn được phép sử dụng nhưng đã không giao nộp lại theo quy định.

Trước đây, các quy định tại Điều 95 Bộ luật Hình sự năm 1985 và Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 1999 chỉ quy định chung chung không quy định định lượng cụ thể trong các điều luật, nay theo Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã đưa các quy định cụ thể của Thông tư liên tịch 01/1995 và Pháp lệnh 16/2011 vào trong luật lượng hóa định lượng trong mỗi hành vi phạm tội. Tuy nhiên, do hạn chế, thiếu sót của nhiều nội dung trong Bộ luật Hình sự năm 2015 nên dù chưa có hiệu lực thi hành chính thức, nhưng Quốc hội đã có Nghị quyết sửa đổi một số nội dung của Bộ luật Hình sự năm 2015, trong đó có việc sửa đổi tội danh này. Hiện nay, khi tiếp tục xin ý kiến các cơ quan chức năng trong việc sửa đổi điều luật này cũng còn có rất nhiều quan điểm khác nhau chưa thống nhất được, đặc biệt là có hay không lượng hóa các quy định của Thông tư 01/1995 và Pháp lệnh 16/2011 vào trong điều luật như hiện nay.

Hầu hết các ý kiến của các nhà nghiên cứu chế tạo, quản lý vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự thì đều nêu quan điểm cho rằng không nên quy định định lượng cụ thể và tên các loại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự vào trong Bộ luật Hình sự năm 2015. Còn ý kiến quan điểm của các nhà xây dựng luật và các cơ quan trực tiếp thực thi pháp luật thì cơ bản thống nhất phải lượng hóa và quy định cụ thể các loại vũ khí, số lượng, khối lượng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự vào trong luật như hiện nay.

Qua các cuộc hội thảo và ý kiến của các chuyên gia chúng tôi thấy mỗi quan điểm đều có cơ sở khoa học. Tuy nhiên, việc lượng hóa hay không lượng hóa các quy định của thông tư vào luật thì đều có những thuận lợi nhưng cũng có những bất cập của nó, đó là:

- Về thuận lợi, nếu quy định cụ thể trong luật thì tính pháp lý sẽ cao hơn, dễ áp dụng cho những người thi hành pháp luật trong việc định tội danh, định khung hình phạt, giảm bớt việc ban hành các văn bản dưới luật như thông tư, pháp lệnh hướng dẫn thi hành.

- Về khó khăn, theo quan điểm của các nhà chuyên môn trong lĩnh vực sản xuất, chế tạo, quản lý các loại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự thì việc lượng hóa vào trong luật số lượng, khối lượng cụ thể của các loại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự sẽ dẫn đến một tình trạng sẽ không đầy đủ; mặt khác do việc phát triển của vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự mới liên tục phát triển. Vì vậy, khi các loại vũ khí phương tiện kỹ thuật quân sự mới này ra đời thì sẽ lại phải sửa luật mà việc sửa luật lại không phải thực hiện được ngay, do vậy sẽ không đáp ứng được tính kịp thời của pháp luật dẫn đến khó thực hiện cho các cơ quan tiến hành tố tụng, còn việc để các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành thì việc sửa đổi sẽ dễ dàng hơn.

Từ thực tiễn trên, theo chúng tôi, do sự phát triển của tình hình, để phù hợp thông lệ xây dựng luật pháp các nước trên thế giới và thực tiễn của Việt Nam thì việc lượng hóa các định lượng cụ thể trong mỗi tội phạm cấu thành vật chất quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 là hoàn toàn phù hợp và cần thiết, tránh được hướng dẫn sau khi luật ra đời lại chờ thông tư hướng dẫn của các ngành dẫn đến hiệu lực thi hành pháp luật sẽ hạn chế, làm cho các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ khó khăn trong áp dụng. Tuy nhiên, quy định tại Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 như hiện tại chúng tôi thấy chưa đầy đủ. Cho nên, chúng tôi đề nghị bổ sung vào Điều 304 một nội dung quy định về các loại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự khác có tính năng, tác dụng tương tự. Đây là một quy định nhằm dự liệu cho tình huống phát triển của các loại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự mới phát triển.

Còn quan điểm không lượng hóa vào trong luật các loại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, theo chúng tôi là không phù hợp, vì tất cả các loại tội có cấu thành vật chất như trên đã đề cập thì nay Bộ luật Hình sự hầu như đã lượng hóa tất cả vào mỗi điều luật cụ thể. Do vậy, để thống nhất và có tính đồng bộ thì các tội về vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự cũng phải lượng hóa vào luật là hoàn toàn phù hợp và cần thiết.

Ngoài ra, định lượng quy định của Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng còn chưa phù hợp như: Chưa có quy khối lượng thuốc nổ bị chiếm đoạt từ trên 30 gam đến dưới 31 gam thì xử lý thế nào; chưa quy định định số lượng cụ thể của các phương tiện kỹ thuật quân sự; dùng chữ “ly” để xác định cỡ nòng của các loại súng, pháo là không đúng. Vì vậy, cần sửa đổi, bổ sung lại các nội dung này cho đúng và phù hợp.

Từ những phân tích trên chúng tôi kiến nghị sửa và thiết kế lại tội danh ở Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015, như sau:

Điều 304. Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự

1. Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép, chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự hoặc các loại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự khác trang bị cho quốc phòng có tính năng, tác dụng tương tự thì bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Có tổ chức;

b) Vật phạm pháp là vũ khí quân dụng có số lượng: từ 03 đến 10 khẩu súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên và các loại vũ khí quân dụng khác trang bị cho quốc phòng có tính năng, tác dụng tương tự; từ 01 đến 05 khẩu súng bộ binh khác như trung liên, đại liên, súng máy cao xạ 12,7 mm đến 25 mm, súng B40, B41 và các loại vũ khí quân dụng khác trang bị cho quốc phòng có tính năng, tác dụng tương tự; từ 05 đến 15 quả mìn, lựu đạn và các loại vũ khí quân dụng khác trang bị cho quốc phòng có tính năng, tác dụng tương tự; từ 03 đến 10 quả đạn cối, đạn pháo và các loại vũ khí quân dụng khác trang bị cho quốc phòng có tính năng, tác dụng tương tự; từ 300 đến 1.000 viên đạn bộ binh cỡ 11,43 mm trở xuống và các loại vũ khí quân dụng khác trang bị cho quốc phòng có tính năng, tác dụng tương tự; từ 200 đến 600 viên đạn súng máy cao xạ cỡ 12,7 mm đến 25 mm và các loại vũ khí quân dụng khác trang bị cho quốc phòng có tính năng, tác dụng tương tự; từ 10 kilôgam đến dưới 31 kilôgam thuốc nổ các loại hoặc từ 1.000 đến 3.000 nụ xuỳ hoặc ống nổ; từ 3.000 mét đến dưới 10.000 mét dây cháy chậm, dây nổ.

c) Vật phạm pháp là phương tiện kỹ thuật quân sự có số lượng: 02 xe ô tô, 02 xe cầu phà, 02 đến 10 khí tài phòng hóa, dụng cụ quan sát và các loại phương tiện kỹ thuật quân sự khác có tính năng tương tự;

d) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

đ) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

h) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

i) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 02 người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

đ) Vật phạm pháp là vũ khí quân dụng có số lượng: từ 11 đến 30 khẩu súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên và các loại vũ khí khác trang bị cho quốc phòng có tính năng, tác dụng tương tự; từ 6 đến 20 khẩu súng bộ binh khác như trung liên, đại liên, súng máy cao xạ 12,7 mm đến 25mm, súng B40, B41 và các loại vũ khí quân dụng khác trang bị cho quốc phòng có tính năng, tác dụng tương tự; từ 16 đến 45 quả mìn, lựu đạn; từ 11 đến 30 quả đạn cối, đạn pháo và các loại vũ khí quân dụng khác trang bị cho quốc phòng có tính năng, tác dụng tương tự; từ 1.001 đến 3000 viên đạn bộ binh cỡ 11,43 mm trở xuống và các loại vũ khí quân dụng khác trang bị cho quốc phòng có tính năng, tác dụng tương tự; từ 601 đến 2.000 viên đạn súng máy cao xạ cỡ 12,7mm đến 25 mm và các loại vũ khí quân dụng khác trang bị cho quốc phòng có tính năng, tác dụng tương tự; từ 31 kilôgam đến dưới 101 kilôgam thuốc nổ các loại; từ 3.001 đến 10.000 nụ xuỳ hoặc ống nổ hoặc từ 10.000 mét đến dưới 30.000 mét dây cháy chậm, dây nổ.

e) Vật phạm pháp là phương tiện kỹ thuật quân sự có số lượng: 04 xe ô tô, 04 xe cầu phà, 11 đến 20 khí tài phòng hóa, dụng cụ quan sát, ra đa và các loại phương tiện kỹ thuật quân sự khác có tính năng tương tự;

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Vật phạm pháp là vũ khí quân dụng có số lượng: từ 31 khẩu súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên trở lên; từ 21 khẩu súng bộ binh khác như trung liên, đại liên, súng máy cao xạ 12,7 mm đến 25 mm, súng B40, B41 trở lên và các loại vũ khí quân dụng khác trang bị cho quốc phòng có tính năng, tác dụng tương tự; từ 46 quả mìn, lựu đạn trở lên và các loại vũ khí khác trang bị cho quốc phòng có tính năng, tác dụng tương tự; từ 31 quả đạn cối, đạn pháo trở lên và các loại vũ khí quân dụng khác trang bị cho quốc phòng có tính năng, tác dụng tương tự; từ 3001 viên đạn trở lên (đạn bộ binh cỡ 11,43 mm trở xuống); từ 2.001 viên đạn súng máy cao xạ trở lên (đạn cỡ 12,7 mm đến 25 mm); từ 101 kilôgam trở lên thuốc nổ các loại; từ 10.001 nụ xuỳ hoặc ống nổ trở lên hoặc từ 30.000 mét dây cháy chậm, dây nổ trở lên.

b) Vật phạm pháp là phương tiện kỹ thuật quân sự có số lượng: 06 xe ô tô, 06 xe cầu phà, trên 20 khí tài phòng hóa, dụng cụ quan sát, ra đa và các loại phương tiện kỹ thuật quân sự khác có tính năng tương tự;

c) Làm chết 03 người trở lên;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

e) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

Vũ Thành Long
Tòa án quân sự Trung ương

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.

Theo dõi chúng tôi trên: