Thứ tư 23/09/2026 00:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự trong Bộ luật Hình sự năm 2015

Vũ khí theo nghĩa Hán - Việt: Vũ là võ thuật, quân sự; khí là đồ dùng, là các đồ vật được sử dụng để chiến đấu. Tất cả các vật dụng có thể dùng vào việc chiến đấu đều được gọi là vũ khí[1]. Còn vũ khí quân dụng là các loại vũ khí được trang bị cho quân sự dùng vào mục đích quốc phòng.


Phương tiện kỹ thuật quân sự là các loại xe, khí tài, phương tiện khác được thiết kế, chế tạo và trang bị cho lực lượng vũ trang để huấn luyện, chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

Pháp lệnh số 16/2011/UBTV/QH12 ngày 30/06/2011 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (Pháp lệnh số 16/2011) quy định về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ; trách nhiệm quản lý nhà nước đối với vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ nhằm bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Tại Điều 12 của Pháp lệnh số 16/2011 đã xác định việc nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, sửa chữa vũ khí; xác định đối tượng được trang bị vũ khí quân dụng bao gồm quân đội nhân dân, công an nhân dân, qân quân tự vệ, kiểm lâm, lực lượng chuyên trách chống buôn lậu của hải quan, đơn vị hải quan cửa khẩu, an ninh hàng không.

Vũ khí quân dụng theo Pháp lệnh số 16/2011 gồm: Các loại súng ngắn, súng trường, súng liên thanh; các loại pháo, dàn phóng, bệ phóng tên lửa, súng cối, hóa chất độc và nguồn phóng xạ; các loại đạn, bom, mìn, lựu đạn, ngư lôi, vật liệu nổ quân dụng, hỏa cụ và vũ khí khác dùng cho mục đích quốc phòng. Phương tiện kỹ thuật quân sự gồm: Xe ô tô, xe kéo, khí tài ra đa, cầu phao... phương tiện khác được thiết kế, chế tạo và trang bị cho lực lượng vũ trang để huấn luyện, chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự được quy định tại Điều 95 Mục B Chương I - Các Tội xâm phạm an ninh quốc gia Bộ luật Hình sự năm 1985 và đến Bộ luật Hình sự năm 1999 tội danh này được quy định tại Điều 230 Chương XIX - Các Tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Hiện nay, Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự được quy định tại Điều 304 mục 3 Chương XXI - Các Tội khác xâm phạm an toàn công cộng Bộ luật Hình sự năm 2015. Trong quá trình áp dụng pháp luật, chúng tôi thấy, còn một số vướng mắc, bất cập trong áp dụng Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 1999 và cho đến hiện nay các quy định tại Điều 304 của Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng chưa phù hợp. Vì vậy, trong phạm vi bài viết này cùng với việc nêu ra những vướng mắc, bất cập quy định tại Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 1999, chúng tôi cũng xin nêu ra những kiến nghị sửa đổi Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho phù hợp.

Điều 95 Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định:

1. Người nào chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Vật phạm pháp có số lượng lớn;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình."

Trong quá trình áp dụng pháp luật để xử lý Tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự theo Bộ luật Hình sự năm 1985 đã gặp phải nhiều khó khăn, vướng mắc. Do đó, ngày 07/01/1995, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư liên ngành số 01/TTLN hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong việc xử lý đối với các hành vi chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự. Đến Bộ luật Hình sự năm 1999, tội danh này đã được sửa đổi bổ sung và quy định tại Điều 230 của Chương XIX - Các Tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, với nội dung như sau:

1. Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.

a) Có tổ chức;

b) Vật phạm pháp có số lượng lớn;

c) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm đến mười lăm năm.

a) Vật phạm pháp có số lượng rất lớn;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

a) Vật phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm".

Như vậy, so với Điều 95 Bộ luật Hình sự năm 1985 thì Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có những quy định khác, quy định bổ sung, đó là, Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự không còn được quy định tại Chương I - Các Tội xâm phạm an ninh quốc gia, mà được quy định tại Chương XIX - Các Tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Đã tội phạm hoá hành vi vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự. Do đó, trong cấu thành cơ bản của tội danh này đã bổ sung thêm hành vi vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự. Bên cạnh đó, hành vi vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự qua biên giới được quy định tại khoản 2 Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 1999 là một tình tiết định khung tăng nặng. Đã quy định hình phạt tiền, phạt quản chế hoặc cấm cư trú là hình phạt bổ sung trong phần chế tài của Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Đã phân chia khoản 3 Điều 95 Bộ luật Hình sự năm 1985 thành khoản 3 và khoản 4 Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 1999, đồng thời thu hẹp khoảng cách mức hình phạt tối đa và tối thiểu trong các khung hình phạt. Bỏ hình phạt tử hình trong phần chế tài của Điều 95 Bộ luật Hình sự năm 1985. Những quy định trên hoàn toàn phù hợp với chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn mới, góp phần đấu tranh phòng chống có hiệu quả tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự.

Tuy nhiên, quá trình áp dụng Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 1999 đã bộc lộ một số vướng mắc trong việc xử lý đối với tội danh này mà chưa có văn bản pháp luật nào thay thế cho Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 07/01/1995 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ hướng dẫn thi hành tội danh này. Do vậy, hiện nay khi tiến hành điều tra, truy tố và xét xử tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn áp dụng hướng dẫn tại Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 07/01/1995, mặc dù thông tư liên ngành này quy định còn chưa đầy đủ có nhiều hạn chế. Mặt khác, Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 1999 có nhiều quy định khác với Điều 95 Bộ luật Hình sự năm 1985, do đó, trong quá trình áp dụng pháp luật các cơ quan tiến hành tố tụng đã gặp phải nhiều vướng mắc đó là:

- Thông tư liên ngành số 01/TTLN chỉ hướng dẫn các hành vi chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, mà chưa có hướng dẫn hành vi vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự.

- Thông tư liên ngành số 01/1995 đã quy định số lượng cụ thể vật phạm pháp đối với một số đối tượng phổ biến như súng, đạn, lựu đạn, thuốc nổ, kíp mìn, nụ xuỳ, dây cháy chậm, dây nổ để truy cứu trách nhiệm hình sự theo các khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 95 Bộ luật Hình sự năm 1985 nhưng cũng mới chỉ đề cập đến các đối tượng là vũ khí quân dụng, còn các đối tượng khác, đặc biệt các đối tượng là phương tiện kỹ thuật quân sự thì chưa có quy định.

- Chỉ quy định số lượng cụ thể vật phạm pháp để xác định thế nào là “vật phạm pháp có số lượng lớn” chứ chưa có quy định để xác định thế nào là “vật phạm pháp có số lượng rất lớn” và “vật phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn”.

- Thông tư liên ngành số 01/TTLN chưa có hướng dẫn chung về việc phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 95 Bộ luật Hình sự năm năm 1985 và nay là điểm d khoản 2 Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 1999 mà chỉ có hướng dẫn một số trường hợp cụ thể như: Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng mà gây hậu quả làm chết người, gây tổn hại sức khoẻ cho người khác, gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm c khoản 2 Điều 95 Bộ luật Hình sự năm 1985 và nay là điểm d khoản 2 Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 1999 về Tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, với tình tiết định khung tăng nặng là gây hậu quả nghiêm trọng.

Những quy định nêu trên của Thông tư liên ngành 01/1995 chưa bao quát hết các trường hợp phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng đã xảy ra trong thực tế, đặc biệt chưa có quy định thế nào là gây hậu quả rất nghiêm trọng và gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng để xử lý tội phạm theo khoản 3 và khoản 4 Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Từ những vướng mắc, bất cập và với những phân tích, lập luận nêu trên, chúng tôi xin đưa ra một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định của Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 1999 và nay là Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 như sau:

Về Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 hiện nay quy định: Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự. Như vậy, trong điều luật này quy định sáu hành vi được coi là tội phạm gồm: Chế tạo trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; sử dụng trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; mua bán trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự.

Chế tạo trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự là làm mới hoàn toàn hoặc lắp ráp từ những bộ phận của vũ khí, phương tiện và có giá trị sử dụng theo tính năng tác dụng của chúng. Hành vi làm mới hoàn toàn súng được coi là chế tạo vũ khí quân dụng nếu đạn dùng cho súng là đạn dùng cho các vũ khí quân dụng; tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự là cất, giữ vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép; vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự được hiểu là hành vi đưa các loại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự từ nơi này tới nơi khác mà không được cơ quan thẩm quyền cho phép; sử dụng trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự là sử dụng không có giấy phép của cơ quan Nhà nưóc có thẩm quyền; chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự bao gồm các hành vi cướp, cưỡng đoạt, cướp giật, công nhiên chiếm đoạt, tham ô, trộm cắp, lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm hoặc dùng các thủ đoạn khác chiêm đoạt tài sản các đôi tượng nói trên. Cũng được coi là chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự các hành vi của quân nhân, nhân viên, công nhân quốc phòng và những người khác được trang bị trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự để huấn luyện chiến đấu hoặc thực hiện nhiệm vụ trong thời gian công tác, khi xuất ngũ, chuyển ngành, về hưu mà không còn được phép sử dụng nhưng đã không giao nộp lại theo quy định.

Trước đây, các quy định tại Điều 95 Bộ luật Hình sự năm 1985 và Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 1999 chỉ quy định chung chung không quy định định lượng cụ thể trong các điều luật, nay theo Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã đưa các quy định cụ thể của Thông tư liên tịch 01/1995 và Pháp lệnh 16/2011 vào trong luật lượng hóa định lượng trong mỗi hành vi phạm tội. Tuy nhiên, do hạn chế, thiếu sót của nhiều nội dung trong Bộ luật Hình sự năm 2015 nên dù chưa có hiệu lực thi hành chính thức, nhưng Quốc hội đã có Nghị quyết sửa đổi một số nội dung của Bộ luật Hình sự năm 2015, trong đó có việc sửa đổi tội danh này. Hiện nay, khi tiếp tục xin ý kiến các cơ quan chức năng trong việc sửa đổi điều luật này cũng còn có rất nhiều quan điểm khác nhau chưa thống nhất được, đặc biệt là có hay không lượng hóa các quy định của Thông tư 01/1995 và Pháp lệnh 16/2011 vào trong điều luật như hiện nay.

Hầu hết các ý kiến của các nhà nghiên cứu chế tạo, quản lý vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự thì đều nêu quan điểm cho rằng không nên quy định định lượng cụ thể và tên các loại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự vào trong Bộ luật Hình sự năm 2015. Còn ý kiến quan điểm của các nhà xây dựng luật và các cơ quan trực tiếp thực thi pháp luật thì cơ bản thống nhất phải lượng hóa và quy định cụ thể các loại vũ khí, số lượng, khối lượng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự vào trong luật như hiện nay.

Qua các cuộc hội thảo và ý kiến của các chuyên gia chúng tôi thấy mỗi quan điểm đều có cơ sở khoa học. Tuy nhiên, việc lượng hóa hay không lượng hóa các quy định của thông tư vào luật thì đều có những thuận lợi nhưng cũng có những bất cập của nó, đó là:

- Về thuận lợi, nếu quy định cụ thể trong luật thì tính pháp lý sẽ cao hơn, dễ áp dụng cho những người thi hành pháp luật trong việc định tội danh, định khung hình phạt, giảm bớt việc ban hành các văn bản dưới luật như thông tư, pháp lệnh hướng dẫn thi hành.

- Về khó khăn, theo quan điểm của các nhà chuyên môn trong lĩnh vực sản xuất, chế tạo, quản lý các loại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự thì việc lượng hóa vào trong luật số lượng, khối lượng cụ thể của các loại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự sẽ dẫn đến một tình trạng sẽ không đầy đủ; mặt khác do việc phát triển của vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự mới liên tục phát triển. Vì vậy, khi các loại vũ khí phương tiện kỹ thuật quân sự mới này ra đời thì sẽ lại phải sửa luật mà việc sửa luật lại không phải thực hiện được ngay, do vậy sẽ không đáp ứng được tính kịp thời của pháp luật dẫn đến khó thực hiện cho các cơ quan tiến hành tố tụng, còn việc để các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành thì việc sửa đổi sẽ dễ dàng hơn.

Từ thực tiễn trên, theo chúng tôi, do sự phát triển của tình hình, để phù hợp thông lệ xây dựng luật pháp các nước trên thế giới và thực tiễn của Việt Nam thì việc lượng hóa các định lượng cụ thể trong mỗi tội phạm cấu thành vật chất quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 là hoàn toàn phù hợp và cần thiết, tránh được hướng dẫn sau khi luật ra đời lại chờ thông tư hướng dẫn của các ngành dẫn đến hiệu lực thi hành pháp luật sẽ hạn chế, làm cho các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ khó khăn trong áp dụng. Tuy nhiên, quy định tại Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 như hiện tại chúng tôi thấy chưa đầy đủ. Cho nên, chúng tôi đề nghị bổ sung vào Điều 304 một nội dung quy định về các loại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự khác có tính năng, tác dụng tương tự. Đây là một quy định nhằm dự liệu cho tình huống phát triển của các loại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự mới phát triển.

Còn quan điểm không lượng hóa vào trong luật các loại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, theo chúng tôi là không phù hợp, vì tất cả các loại tội có cấu thành vật chất như trên đã đề cập thì nay Bộ luật Hình sự hầu như đã lượng hóa tất cả vào mỗi điều luật cụ thể. Do vậy, để thống nhất và có tính đồng bộ thì các tội về vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự cũng phải lượng hóa vào luật là hoàn toàn phù hợp và cần thiết.

Ngoài ra, định lượng quy định của Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng còn chưa phù hợp như: Chưa có quy khối lượng thuốc nổ bị chiếm đoạt từ trên 30 gam đến dưới 31 gam thì xử lý thế nào; chưa quy định định số lượng cụ thể của các phương tiện kỹ thuật quân sự; dùng chữ “ly” để xác định cỡ nòng của các loại súng, pháo là không đúng. Vì vậy, cần sửa đổi, bổ sung lại các nội dung này cho đúng và phù hợp.

Từ những phân tích trên chúng tôi kiến nghị sửa và thiết kế lại tội danh ở Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015, như sau:

Điều 304. Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự

1. Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép, chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự hoặc các loại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự khác trang bị cho quốc phòng có tính năng, tác dụng tương tự thì bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Có tổ chức;

b) Vật phạm pháp là vũ khí quân dụng có số lượng: từ 03 đến 10 khẩu súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên và các loại vũ khí quân dụng khác trang bị cho quốc phòng có tính năng, tác dụng tương tự; từ 01 đến 05 khẩu súng bộ binh khác như trung liên, đại liên, súng máy cao xạ 12,7 mm đến 25 mm, súng B40, B41 và các loại vũ khí quân dụng khác trang bị cho quốc phòng có tính năng, tác dụng tương tự; từ 05 đến 15 quả mìn, lựu đạn và các loại vũ khí quân dụng khác trang bị cho quốc phòng có tính năng, tác dụng tương tự; từ 03 đến 10 quả đạn cối, đạn pháo và các loại vũ khí quân dụng khác trang bị cho quốc phòng có tính năng, tác dụng tương tự; từ 300 đến 1.000 viên đạn bộ binh cỡ 11,43 mm trở xuống và các loại vũ khí quân dụng khác trang bị cho quốc phòng có tính năng, tác dụng tương tự; từ 200 đến 600 viên đạn súng máy cao xạ cỡ 12,7 mm đến 25 mm và các loại vũ khí quân dụng khác trang bị cho quốc phòng có tính năng, tác dụng tương tự; từ 10 kilôgam đến dưới 31 kilôgam thuốc nổ các loại hoặc từ 1.000 đến 3.000 nụ xuỳ hoặc ống nổ; từ 3.000 mét đến dưới 10.000 mét dây cháy chậm, dây nổ.

c) Vật phạm pháp là phương tiện kỹ thuật quân sự có số lượng: 02 xe ô tô, 02 xe cầu phà, 02 đến 10 khí tài phòng hóa, dụng cụ quan sát và các loại phương tiện kỹ thuật quân sự khác có tính năng tương tự;

d) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

đ) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

h) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

i) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 02 người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

đ) Vật phạm pháp là vũ khí quân dụng có số lượng: từ 11 đến 30 khẩu súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên và các loại vũ khí khác trang bị cho quốc phòng có tính năng, tác dụng tương tự; từ 6 đến 20 khẩu súng bộ binh khác như trung liên, đại liên, súng máy cao xạ 12,7 mm đến 25mm, súng B40, B41 và các loại vũ khí quân dụng khác trang bị cho quốc phòng có tính năng, tác dụng tương tự; từ 16 đến 45 quả mìn, lựu đạn; từ 11 đến 30 quả đạn cối, đạn pháo và các loại vũ khí quân dụng khác trang bị cho quốc phòng có tính năng, tác dụng tương tự; từ 1.001 đến 3000 viên đạn bộ binh cỡ 11,43 mm trở xuống và các loại vũ khí quân dụng khác trang bị cho quốc phòng có tính năng, tác dụng tương tự; từ 601 đến 2.000 viên đạn súng máy cao xạ cỡ 12,7mm đến 25 mm và các loại vũ khí quân dụng khác trang bị cho quốc phòng có tính năng, tác dụng tương tự; từ 31 kilôgam đến dưới 101 kilôgam thuốc nổ các loại; từ 3.001 đến 10.000 nụ xuỳ hoặc ống nổ hoặc từ 10.000 mét đến dưới 30.000 mét dây cháy chậm, dây nổ.

e) Vật phạm pháp là phương tiện kỹ thuật quân sự có số lượng: 04 xe ô tô, 04 xe cầu phà, 11 đến 20 khí tài phòng hóa, dụng cụ quan sát, ra đa và các loại phương tiện kỹ thuật quân sự khác có tính năng tương tự;

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Vật phạm pháp là vũ khí quân dụng có số lượng: từ 31 khẩu súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên trở lên; từ 21 khẩu súng bộ binh khác như trung liên, đại liên, súng máy cao xạ 12,7 mm đến 25 mm, súng B40, B41 trở lên và các loại vũ khí quân dụng khác trang bị cho quốc phòng có tính năng, tác dụng tương tự; từ 46 quả mìn, lựu đạn trở lên và các loại vũ khí khác trang bị cho quốc phòng có tính năng, tác dụng tương tự; từ 31 quả đạn cối, đạn pháo trở lên và các loại vũ khí quân dụng khác trang bị cho quốc phòng có tính năng, tác dụng tương tự; từ 3001 viên đạn trở lên (đạn bộ binh cỡ 11,43 mm trở xuống); từ 2.001 viên đạn súng máy cao xạ trở lên (đạn cỡ 12,7 mm đến 25 mm); từ 101 kilôgam trở lên thuốc nổ các loại; từ 10.001 nụ xuỳ hoặc ống nổ trở lên hoặc từ 30.000 mét dây cháy chậm, dây nổ trở lên.

b) Vật phạm pháp là phương tiện kỹ thuật quân sự có số lượng: 06 xe ô tô, 06 xe cầu phà, trên 20 khí tài phòng hóa, dụng cụ quan sát, ra đa và các loại phương tiện kỹ thuật quân sự khác có tính năng tương tự;

c) Làm chết 03 người trở lên;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

e) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

Vũ Thành Long
Tòa án quân sự Trung ương

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: