Thứ bảy 14/03/2026 22:27
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tội phạm về tiền giả và một số kiến nghị trong công tác phòng, chống tội phạm

Tiền giả trong thực tế đã có một quá khứ tồn tại khá lâu đời. Nhiều người nói “tiền là căn nguyên của mọi tội ác” và tất nhiên là tiền giả không nằm ngoài điều ám chỉ ấy. Càng ngày thì bọn tội phạm càng biết áp dụng những công nghệ hiện đại để làm ra tiền giả khiến cho Chính phủ các nước phải vất vả ngăn chặn. Tiền giả làm giảm sút kinh tế, gây rối loạn thị trường và rất nhiều thiệt hại khác không thể kể hết. Chính vì thế, tội phạm tiền giả thường bị xử rất nặng khi bị bắt quả tang đang lưu hành, lưu trữ và buôn bán tiền giả trên thị trường.

1. Tình trạng tiền giả ở nước ta thời gian qua

Ở nước ta, song song với việc làm giả tiền Việt Nam đồng, thì các loại ngoại tệ, séc, thẻ tín dụng giả xuất hiện ngày càng nhiều. Thực tế cho thấy, tiền Việt Nam đồng giả được in chủ yếu ở nước ngoài. Tiền được làm giả chủ yếu theo phương pháp thủ công như vẽ, khắc và in lưới. Chúng tách đôi tờ tiền thật rồi dán từng mặt vào một tờ giấy khác. Tờ giấy này được phun màu điện tử giống y chang tiền thật. Cách làm giả này chủ yếu được các đối tượng trong nước sử dụng. Còn các tổ chức làm bạc giả ở nước ngoài lại “ưa thích” phương pháp in offset hoặc photo màu. Sản phẩm được tạo ra từ cách làm này có độ tinh xảo rất cao, mắt thường khó phát hiện được đâu là tiền giả. Đặc biệt với loại mệnh giá 100.000 đồng, chúng đã vô hiệu hóa tác dụng của máy kiểm tra tiền.

Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, thì số lượng tiền giả ngày một tăng, mỗi năm ngân hàng thu vào hàng chục tỷ tiền Việt Nam đồng giả, chủ yếu là các loại có mệnh giá cao. Đây là số tiền giả do các ngân hàng, kho bạc phát hiện và thu giữ. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, thì trên thực tế, số lượng tiền giả đang lưu hành trên thị trường còn lớn hơn rất nhiều. Ngoài 2 loại tiền giả phổ biến có mệnh giá 50.000 đồng và 100.000 đồng, các đối tượng buôn bán tiền giả đang “đầu tư” vào loại 20.000 đồng.

Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, thì việc mở rộng giao lưu kinh tế với Trung Quốc và các quốc gia láng giềng là điều tất yếu, nên đã có nhiều cửa khẩu quốc tế mới được thông thương, các khu kinh tế mở giáp biên giới, chợ đường biên, khách du lịch tham quan, mua bán, người Việt Nam định cư ở nước ngoài về thăm thân nhân cũng lợi dụng đem tiền giả về Việt Nam tiêu thụ. Phần lớn nguồn tiền giả được vận chuyển từ nước ngoài về Việt Nam qua các cửa khẩu biên giới, nhiều nhất là qua cửa khẩu Lạng Sơn. Để lưu hành tiền giả, các đối tượng thường lợi dụng lúc thiếu ánh sáng, đông người... để kẹp tiền giả vào tiền thật nhằm lừa bịp người người tiêu dùng. Một cách khác là chúng sử dụng tiền giả có mệnh giá cao mua hàng hóa có giá trị thấp, với mục đích thu về tiền thật. Tội phạm nước ngoài vào Việt Nam còn nhúng tiền giả vào hóa chất là cho tờ bạc chuyển sang màu sẫm, tạo cảm giác tiền cũ đã được lưu thông từ lâu. Cách này cũng “qua mặt” được máy kiểm tra tiền của ngân hàng và các doanh nghiệp.

2. Tội phạm về tiền giả và một số nguyên nhân chủ yếu

Tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả (sau đây gọi tắt là “tội phạm về tiền giả”) là loại tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tính chất mức độ của nó gây ra không những ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ của Nhà nước ta, trực tiếp phá hoại nền kinh tế của đất nước mà còn gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Thời gian qua, do có lợi nhuận cao, dễ thực hiện nên loại tội phạm này không ngừng gia tăng với thủ đoạn ngày càng tinh vi, đa dạng hơn gây không ít khó khăn cho công tác phòng chống tội phạm này. Tội phạm về tiền giả không chỉ xảy ra ở khu vực thành phố, thị xã, mà bọn tội phạm còn lợi dụng các địa bàn như vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, các chợ buôn bán tiền ở vùng biên giới để thực hiện tội phạm. Đặc biệt, bọn tội phạm đã lợi dụng một số người không có công việc làm, những người nghèo, người già, trẻ em tham gia vào hoạt động phạm tội để kiếm sống làm cho tình hình tội phạm về tiền giả diễn biến ngày càng phức tạp. Trong khi đó, quan hệ phối hợp phòng, chống tội phạm về tiền giả giữa các quốc gia còn nhiều hạn chế, bất cập, cho nên cuộc đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này sẽ gặp nhiều khó khăn.

Theo Điều 180 Bộ luật Hình sự năm 1999, tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả được quy định: “Người nào làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả thì bị phạt tù từ 3 năm đến 7 năm. Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt từ 5 năm đến 12 năm. Phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả thể hiện: Về khách thể, tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả xâm phạm quyền quản lý tài chính của Nhà nước thông qua việc phát hành tiền giả. Mặt khách quan của tội phạm, làm tiền giả là hành vi làm tiền giống tiền thật nhằm trốn tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng để đưa ra thị trường lưu hành. Tội phạm được coi là hoàn thành kể từ khi thực hiện hành vi trên. Chủ thể của tội phạm là người từ đủ 16 tuổi (khoản 1) hoặc từ 14 tuổi trở lên (khoản 2, 3) có năng lực trách nhiệm hình sự. Về mặt chủ quan, tội phạm được thực hiện do cố ý. Người phạm tội biết hành vi làm tiền giả của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm. Về hình phạt, ngoài ba khung hình phạt, có thể kèm theo hình phạt bổ sung được quy định tại điều luật.

Đặc điểm của các vụ án làm tiền giả là loại án truy xét, có vật chứng và phổ biến phát hiện ở khâu lưu hành. Trong khi đó, tàng trữ, lưu hành tiền giả là loại án thường liên quan tới nhiều tỉnh thành trong cả nước và có liên quan đến nước ngoài. Qua khảo sát sơ bộ các vụ án làm tiền giả, chưa phát hiện vụ án nào làm tiền giả ở trong nước. Hầu hết các đối tượng tàng trữ, lưu hành tiền giả đều khai nhận nguồn gốc tiền giả được đưa từ Trung Quốc, Đài Loan xâm nhập vào Việt Nam qua các cửa khẩu biên giới, đặc biệt là cửa khẩu Lạng Sơn), tuy nhiên, đa phần các vụ án chỉ làm rõ được mảng trong nước, còn mảng ở nước ngoài chưa tiến hành được. Để tránh sự phát hiện của Công an Việt Nam, các đối tượng làm tiền giả có nhiều thủ đoạn đối phó rất tinh vi và thường không trực tiếp thực hiện tội phạm. Chúng mua bán, giao nhận tiền giả theo phương thức một người với một người, chủ yếu sử dụng điện thoại di động để liên lạc, hạn chế gặp mặt nên không biết nhau. Những đặc điểm này càng gây khó khăn cho công tác truy bắt đối tượng làm tiền giả, nhất là khi chúng ở ngoài lãnh thổ Việt Nam. Thêm vào đó, việc kiểm soát của các lực lượng tại cửa khẩu chưa thật chặt chẽ, nên tiền giả đưa về Việt Nam vẫn có chiều hướng gia tăng.

Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng tội phạm về tiền giả ở nước ta có thể chỉ ra là:

Thứ nhất, về nhận thức, tội phạm về tiền giả là một loại tội phạm có quá trình hình thành, phát triển với phương thức, thủ đoạn hoạt động tinh vi, phức tạp, không chỉ liên quan đến các tổ chức, ổ nhóm tội phạm trong nước, mà còn liên quan đến các tổ chức tội phạm ở nước ngoài, nhưng việc sơ kết, tổng kết kinh nghiệm, đánh giá hoạt động phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn hoạt động của tội phạm về tiền giả của các cơ quan chức năng chưa được thực hiện thường xuyên. Các lực lượng trong Ngành Công an tuy đã đạt được một số kết quả nhất định trong phòng, chống tội phạm về tiền giả, nhưng do nhận thức ở mỗi đơn vị, địa phương khác nhau, thậm chí, chưa nhận thức đúng đắn, đầy đủ tình hình và tác hại của tội phạm, nên còn có những lúng túng trong việc xây dựng kế hoạch phòng, chống tội phạm về tiền giả, có hiện tượng đùn đẩy hoặc né tránh trách nhiệm...

Thứ hai, về tổ chức thực hiện, các mặt công tác nghiệp vụ như điều tra cơ bản, sưu tra tuyến, địa bàn, đối tượng trọng điểm chưa được triển khai hoặc có làm nhưng không sâu. Một số địa phương đã xác lập, điều tra một số chuyên án, nhưng chỉ là giai đoạn vận chuyển, tiêu thụ tiền giả giới hạn trong một địa phương hoặc mở rộng ra một vài địa phương khác.

Công an một số địa phương giao nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm về tiền giả còn chồng chéo, không thống nhất như phân công của Bộ Công an nên hiệu quả không cao, như có nơi giao cho cả lực lượng an ninh và lực lượng cảnh sát, có nơi giao lực lượng an ninh kinh tế chủ trì (thường trực) trong công tác phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh chống tội phạm về tiền giả, các lực lượng khác có trách nhiệm phối hợp nhưng một số địa phương khác lại giao cho lực lượng cảnh sát. Cơ chế phối hợp giữa các lực lượng trong Ngành Công an cũng như việc áp dụng và vận dụng linh hoạt, sáng tạo các biện pháp nghiệp vụ trong hoạt động của lực lượng công an như biện pháp quần chúng, hành chính, trinh sát, điều tra... còn nhiều hạn chế, nhất là chế độ thông tin báo cáo chưa kịp thời, công tác phối hợp đấu tranh chưa chặt chẽ, đã phần nào ảnh hưởng đến công tác lãnh đạo, chỉ huy và tổ chức phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm về tiền giả trên phạm vi toàn quốc.

Bên cạnh đó, theo quy định của khoản 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự và khoản 1 Điều 170 Bộ luật Tố tụng hình sự, thì cơ quan điều tra cấp tỉnh chỉ điều tra các vụ án có mức án từ 15 năm trở lên. Với các khung hình phạt của tội phạm về tiền giả, thẩm quyền điều tra thuộc cả cơ quan điều tra cấp tỉnh và cảnh sát điều tra cấp quận huyện. Từ ngày 01/10/2004, thực hiện Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự, Công an một số địa phương đã giao điều tra các vụ án tiền giả cho cơ quan an ninh điều tra cấp tỉnh. Nhưng trên thực tế, cơ quan an ninh điều tra cấp tỉnh không phải cấp trên của cảnh sát điều tra cấp huyện. Do vậy, việc phối hợp chưa thực sự nhịp nhàng, gây ra nhiều khó khăn, trùng dẫm trong công tác chỉ đạo, tổ chức điều tra, theo dõi thống kê, đánh giá tình hình tội phạm…, thậm chí làm hạn chế ý chí tấn công tội phạm, vì cảnh sát điều tra cấp huyện chỉ điều tra các vụ án có mức án từ 15 năm trở xuống.

Mối quan hệ phối hợp giữa các lực lượng công an với các ngành chức năng như Ngân hàng, Kho bạc, Hải quan, Bộ đội Biên phòng, Kiểm sát, Toà án cũng còn nhiều hạn chế, bất cập. Một số ngân hàng, kho bạc khi phát hiện tiền giả còn lúng túng chưa có hướng xử lý, chỉ dừng ở mức thu giữ mà không thông báo kịp thời cho cơ quan công an để điều tra truy tìm làm rõ tổ chức tội phạm, làm rõ đối tượng chủ mưu, cầm đầu...

Thứ ba, về pháp luật, một số văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến công tác phòng, chống tội phạm về tiền giả chậm được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tiễn. Do tội phạm làm tiền giả chủ yếu ở ngoài lãnh thổ Việt Nam, đầu mối cung cấp tiền giả thường là người nước ngoài, nên việc triển khai các biện pháp để phát hiện, làm rõ và xử lý các đối tượng làm tiền Việt Nam đồng giả bên ngoài lãnh thổ Việt Nam là cực kỳ khó khăn. Chỉ tính riêng việc áp dụng pháp luật đối với tội phạm làm tiền giả ở nước ngoài, Công an các địa phương cũng chưa được hướng dẫn cụ thể, điển hình là: (i) Theo quy định của khoản 2 Điều 6 Bộ luật Hình sự: “Người nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hoà XHCN Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự Việt Nam trong những trường hợp được quy định trong các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam ký kết hoặc tham gia”. Liên quan vấn đề này, Điều 340 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “Trong trường hợp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam chưa ký kết hoặc chưa gia nhập các điều ước quốc tế có liên quan thì việc hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự được thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái pháp luật nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế”; (ii) Về hoạt động tương trợ tư pháp, theo Điều 341 Bộ luật Tố tụng hình sự: “Khi thực hiện tương trợ tư pháp, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam áp dụng những quy định của điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam ký kết hoặc gia nhập và quy định của Bộ luật này”; (iii) Theo hướng dẫn liên ngành về điều tra các vụ án tiền giả cũng nêu: “Đối với vụ án có bị can, bị cáo là người nước ngoài hoặc có sự móc nối với người nước ngoài, thì cơ quan bảo vệ pháp luật địa phương phải báo cáo các cơ quan bảo vệ pháp luật ở trung ương để có sự hướng dẫn áp dụng pháp luật cho thống nhất”...

Việc phát hiện bắt giữ các vụ án về tiền giả do phải truy xét “nóng”, mất rất nhiều công sức. Thêm vào đó chưa có sự hướng dẫn cụ thể về các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, các nước đã ký kết hiệp định tương trợ tư pháp với Việt Nam, những trường hợp cụ thể áp dụng nguyên tắc “có đi có lại”… làm cho các hoạt động điều tra ở địa phương đối với án tiền giả nói chung không tránh khỏi lúng túng, phá án làm tiền giả vì vậy gần như chưa có hiệu quả. Bên cạnh đó, tình hình tiền giả ở Việt Nam chủ yếu được làm (sản xuất) từ nước ngoài, cho nên muốn phòng, chống tội phạm về tiền giả có hiệu quả thì cần phải có sự hợp tác quốc tế, sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng của các quốc gia (nhất là các quốc gia có chung đường biên giới). Nhưng thực tế cho thấy, khi có yêu cầu phối hợp điều tra, xử lý tội phạm về tiền giả thì có quốc gia thường né tránh.

3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm về tiền giả

Tội phạm về tiền giả là loại tội phạm nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu trực tiếp đến trật tự xã hội và quá trình phát triển kinh tế của đất nước cũng như đời sống của nhân dân. Do vậy, yêu cầu đặt ra là tăng cường và chủ động trong công tác nắm tình hình, đánh giá đúng thực trạng hoạt động của tội phạm, tham mưu kịp thời để tổ chức các biện pháp phòng ngừa xã hội, nghiệp vụ và pháp luật. Tất cả các vụ việc liên quan đến tội phạm về tiền giả phải nhanh chóng được phát hiện và xử lý nghiêm minh, không để tội phạm tiếp tục lưu thông và xâm nhập vào hệ thống kho, quỹ của các ngân hàng, kho bạc, cơ quan, doanh nghiệp nhà nước. Trong quá trình phát hiện, điều tra và xử lý tội phạm liên quan đến tiền giả phải đạt được mục tiêu tìm ra tổ chức làm tiền giả, đường dây, ổ nhóm vận chuyển, tiêu thụ để mở rộng điều tra, xử lý. Để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm về tiền giả, trong thời gian tới, theo chúng tôi, cần phải quan tâm một số giải pháp sau đây:

Một là, Chính phủ cần có kế hoạch ký kết các văn kiện về phối hợp đấu tranh phòng, chống tội phạm về tiền giả với các nước, đặc biệt là với Trung Quốc, Lào, Căm-pu-chia để loại trừ những cơ sở làm tiền giả từ nước ngoài. Bên cạnh đó, Chính phủ tạo điều kiện để Bộ Công an thường xuyên trao đổi thông tin và phối hợp điều tra tội phạm với Công an Trung Quốc và các nước khác. Cho phép Bộ Công an (Tổng cục Cảnh sát) chủ động làm việc với Đại sứ quán Trung Quốc, Căm-pu-chia, Lào tại Việt Nam và các cơ quan Bộ An ninh, Bộ Công an và Interpol của các nước này để phối hợp chỉ đạo Công an các tỉnh, huyện giáp biên giới Việt Nam cùng tham gia phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn tội phạm làm, vận chuyển tiền giả. Xây dựng cơ chế trao đổi thông tin tình hình tội phạm liên quan tiền giả giữa Công an Việt Nam và Công an Trung Quốc, Căm-pu-chia và Lào. Đồng thời, xây dựng cơ chế phối hợp cụ thể, đồng bộ giữa lực lượng Công an, Biên phòng các tỉnh biên giới của Việt Nam với các lực lượng của Trung Quốc, Căm-pu-chia và Lào trong trao đổi thông tin, tăng cường kiểm tra, giám sát không để các đối tượng phạm tội lợi dụng sơ hở trong công tác quản lý, địa hình phức tạp để vận chuyển tiền giả vào Việt Nam tiêu thụ. Đề nghị Công an Trung Quốc tăng cường công tác đấu tranh, điều tra khám phá, bóc dỡ triệt để các tổ chức tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển tiền giả nói chung trong đó có tiền Việt Nam đồng giả; tiến hành bắt, dẫn độ các đối tượng phạm tội, đối tượng truy nã là người Việt Nam liên quan sản xuất, mua bán tiền giả hoạt động, lẩn trốn trên lãnh thổ Trung Quốc về nước để xử lý theo pháp luật.

Hai là, Bộ Công an phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện hiệu quả các quy định của Bộ luật Hình sự về xử lý tội phạm sản xuất, tàng trữ, buôn bán tiền giả. Kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền sửa Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự theo hướng giao cơ quan an ninh điều tra tiến hành điều tra tất cả các vụ án về tiền giả mà không cần phân biệt cấp xét xử của Tòa án như hiện nay. Có hướng dẫn cụ thể, chi tiết đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật địa phương việc áp dụng những quy định chung về hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự đối với các vụ án về tiền giả nhằm nâng cao hiệu quả công tác này, đặc biệt đối với việc trấn áp, kiềm tỏa tội phạm làm tiền giả.

Ba là, Ngành Ngân hàng cần làm tốt công tác bảo vệ nội bộ, giáo dục tinh thần trách nhiệm, đồng thời trang bị kiến thức đấu tranh phòng, chống, ngăn chặn việc làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, nhận biết tiền thật, tiền giả đối với cán bộ thu ngân, kho quỹ tuyệt đối không để tội phạm lợi dụng móc nối đưa tiền giả vào Ngân hàng, Kho bạc. Ngân hàng Nhà nước phối hợp với các ngành chức năng tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, phổ biến rộng rãi để người dân nắm được kỹ năng phân biệt tiền thật, tiền giả. Đồng thời hướng dẫn người dân nâng cao nhận thức, nâng cao cảnh giác, phát hiện, tố cáo đối tượng buôn bán, lưu hành tiền giả và có kế hoạch trang bị các phương tiện kiểm tra tiền ở nơi công cộng để nhân dân phát hiện tiền giả và đấu tranh với loại tội phạm này. Trên thực tiễn, Nhà nước chưa có văn bản chính thức nào về việc cho tuyên truyền phòng, chống tiền giả trong nhân dân, mặc dù về mặt xã hội, tội phạm về tiền giả có thể tạo ra tâm lý bất ổn trong hoạt động lưu thông tiền tệ, gây hoang mang trong quần chúng. Để chủ động trong công tác phòng ngừa, ngoài việc nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của các lực lượng chuyên trách phòng chống tội phạm, đã đến lúc cần mở rộng và tăng cường công tác tuyên truyền về tình hình và kết quả đấu tranh chống tội phạm về tiền giả như các tội phạm có tính chất quốc tế khác (hoạt động rửa tiền, buôn bán phụ nữ, trẻ em, ma túy…). Làm tốt công tác tuyên truyền, người dân cảnh giác khi giao dịch bằng tiền mặt sẽ hạn chế điều kiện hoạt động của tội phạm về tiền giả. Kết hợp với biện pháp này, Nhà nước cần mở rộng và khuyến khích các hình thức giao dịch không sử dụng tiền mặt. Ngoài ra, cần tổ chức các phiên xét xử lưu động, xử lý nghiêm khắc tại địa bàn các huyện vùng biên giới giữa hai nước đối với các bị cáo phạm tội tiền giả nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục, răn đe đối với loại tội phạm này, nâng cao nhận thức của người dân trong công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm về tiền giả.

Bốn là, lực lượng công an cần tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng để phát hiện, ngăn chặn hoạt động vận chuyển tiền giả từ biên giới cũng như quá trình tiêu thụ trong nội địa. Đối với các ngành được giao nhiệm vụ quản lý biên giới, cửa khẩu cần tăng cường hơn nữa công tác tuần tra, kiểm tra, kiểm soát ở các cửa khẩu, tuyến biên giới cả ở trên đất liền, trên biển và luôn luôn đề cao cảnh giác để nhanh chóng phát hiện các hành vi vận chuyển tiền giả Việt Nam đồng vào nước ta.

Trong tương lai, tội phạm về tiền giả sẽ còn diễn biến hết sức phức tạp với chiều hướng gia tăng. Do đó, cần có sự nhận thức đúng và phối hợp chặt chẽ giữa các ngành chức năng cũng như quan hệ quốc tế để tạo ra các điều kiện thuận lợi cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Mặt khác, cần thường xuyên tổng kết rút ra bài học kinh nghiệm nhằm khắc phục những hạn chế, thiếu sót đang tồn tại, xác định đúng nguyên nhân và điều kiện nảy sinh tội phạm về tiền giả để hạn chế và xóa bỏ tình trạng này

Hoàng Diệu Thúy

Bộ Công an

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: