Chủ nhật 21/06/2026 08:39
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Trao đổi về quy định Tòa án không được từ chối giải quyết vụ án dân sự vì chưa có điều luật để áp dụng trong Dự thảo sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự

Việt Nam đang xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với quan điểm tất cả vì con người và hướng tới con người, đồng thời chúng ta cũng đang hội nhập sâu, rộng và toàn diện vào nền kinh tế thế giới, vì vậy đòi hỏi chúng ta không ngừng đổi mới chính sách, hoàn thiện thể chế.

Việt Nam đang xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với quan điểm tất cả vì con người và hướng tới con người, đồng thời chúng ta cũng đang hội nhập sâu, rộng và toàn diện vào nền kinh tế thế giới, vì vậy đòi hỏi chúng ta không ngừng đổi mới chính sách, hoàn thiện thể chế. Một trong những trọng tâm đó là cải cách nền tư pháp, sao cho nền tư pháp đó trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc. Trên tinh thần đó chúng ta đã tiến hành sửa đổi bổ, sung Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong dự thảo có quy định: “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ án dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng”.

Trong bài viết này, tác giả xin được bày tỏ quan điểm của mình với cơ quan soạn thảo, đồng nghiệp và những người quan tâm về vấn đề trên, với mục đích hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự nhằm bảo đảm tốt nhất quyền con người, quyền công dân và thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành đã góp phần tích cực vào việc bảo vệ lợi ích nhà nước, cá nhân, lợi ích của tổ chức và góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.

Trải qua hơn 10 năm thi hành, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 đã bộc lộ nhiều bất cập, trong đó có quy định liệt kê các vụ việc Tòa án thụ lý giải quyết. Việc liệt kê sẽ dẫn đến nhiều lĩnh vực không được đề cập, người dân không thể khởi kiện ra Tòa án vì luật không quy định, gây thiệt hại cho chủ thể và bất ổn xã hội. Trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập toàn diện, sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế, đòi hỏi chúng ta phải nhanh chóng sửa đổi các quy định của pháp luật tố tụng dân sự theo hướng ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ tốt nhất các quyền dân sự, kinh tế của nhân dân và hội nhập toàn diện với nền kinh tế thế giới. Một trong những sửa đổi theo hướng trên được ghi nhận trong Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi là: Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.

Phương án 1: Cơ quan, tổ chức, cá nhân do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác.

Phương án 2:

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác.

2. Tòa án không được từ chối giải quyết vụ án dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng [1].

Chúng tôi ủng hộ phương án thứ 2 vì quy định như vậy sẽ bảo vệ triệt để quyền khởi kiện của chủ thể, đây là tiền đề để bảo vệ các quyền khác, để các quyền dân sự, kinh tế, kinh doanh... được thực thi. Tuy nhiên, về quy định này hiện nay có hai luồng quan điểm chính. Thứ nhất là không đồng ý với quy định này vì cho rằng việc quy định như vậy sẽ dẫn đến tình trạng người dân tùy tiện khởi kiện, gây bất ổn xã hội và Toà án có thể tùy tiện trong xét xử, có thể gây nên tình trạng bất nhất trong quá trình xét xử đối với những vụ việc có nội dung tương tự, quan điểm này cũng cho rằng, việc quy định như vậy là trái với quy định Tòa án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật đã được ghi nhận trong Hiến pháp và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân. Thứ hai là đồng ý với quy định trên trong dự thảo vì cho rằng, quy định này bảo vệ triệt để hơn các quyền dân sự, kinh tế của người dân và phù hợp với pháp luật của một số quốc gia tiên tiến trên thế giới.

Như đã trình bày ở trên, chúng tôi cho rằng trong bối cảnh thực tế hiện nay việc quy định như trong dự thảo là tương đối phù hợp. Bởi lẽ chủ trương của Đảng về chiến lược cải cách tư pháp đã được ghi nhận trong Nghị quyết số 49-NQ/TW với mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hoạt động tư pháp mà trung tâm là hoạt động xét xử phải được tiến hành có hiệu quả, hiệu lực cao. Đồng thời, Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng pháp luật thống nhất, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm. Vì vậy, việc quy định: Tòa án không được từ chối giải quyết vụ án dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng là phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp của Đảng về phát triển hệ thống án lệ, trên tinh thần hội đồng xét xử độc lập, sáng tạo, công tâm trong xét xử “thẩm phán làm luật” để lấp những khoảng trống của pháp luật và bảo vệ triệt để quyền lợi của người dân, bảo đảm trật tự xã hội.

Thực tế trong thời gian qua, rất nhiều vụ việc người dân khởi kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự, như tranh chấp về việc bốc mộ, chăm sóc mồ mả hay kiện đòi các giấy tờ liên quan đến quyền sở hữu, quyền nhân thân... bị Tòa án từ chối vì không thuộc thẩm quyền. Xét về mặt pháp lý, thì việc từ chối giải quyết trên của các Tòa án là hợp pháp. Ví dụ kiện đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hay sổ hộ khẩu, thì theo quy định hiện hành thì giấy tờ nói trên không phải là tài sản. Theo quy định hiện hành tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản [2] đồng thời theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thẩm quyền giải quyết của Tòa án chỉ bao gồm:

1. Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam.

2. Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản.

3. Tranh chấp về hợp đồng dân sự.

4. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ trừ những trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 29 của bộ luật này.

5. Tranh chấp về thừa kế tài sản.

6. Tranh chấp về bồi thường thiết hại ngoài hợp đồng.

7. Tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.

8. Tranh chấp liên quan đến nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật

9. Các tranh chấp khác về dân sự mà pháp luật có quy định [3].

Với quy định này của Bộ luật Tố tụng hiện hành, chúng ta thấy pháp luật tố tụng quy định “vừa đóng lại vừa mở”. Đóng bởi từ khoản 1 đến khoản 8 là liệt kê các vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tuy nhiên, khoản 9 lại mở cho Tòa án, nhưng lại không rõ ràng, vì các tranh chấp về dân sự này phải được pháp luật quy định, mà pháp luật quy định là pháp luật nào thì không rõ. Phải chăng các nhà làm luật đã thấy sự bất cập của pháp luật tố tụng dân sự trong việc liệt kê cụ thể các vụ việc giải quyết là không đầy đủ. Thực tế các Tòa án đã từ chối giải quyết các vụ việc không được liệt kê trong Bộ luật là không thỏa đáng, không bảo vệ triệt để quyền lợi của người dân, nên đã quy định như khoản 9 nói trên, nhằm tạo sự chủ động cho Tòa án trong hoạt động tố tụng của mình. Nhưng việc quy định như trên lại nửa vời, chính vì vậy dẫn đến tình trạng có vụ việc yêu cầu thì Tòa án này giải quyết, nhưng Tòa án khác lại từ chối hoặc Tòa án xét xử sơ thẩm giải quyết, nhưng Tòa án phúc thẩm lại hủy vì không đúng thẩm quyền.

Như đã phân tích ở trên, việc từ chối của Tòa án là hợp pháp, nhưng không hợp lý và không phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013. Ở nước ta, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật [4].

Với quy định trên thì các quyền dân sự của cá nhân phải được ghi nhận một cách rõ ràng và thực tế một số quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005 đã đi theo hướng này. Cụ thể tại Điều 4 quy định quyền tự do cam kết, thỏa thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm nếu cam kết thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội [5]. Với quy định này, chúng ta thấy Bộ luật Dân sự đã ghi nhận một nguyên tắc hết sức tiến bộ của một xã hội tự do và dân chủ là “người dân được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm” quy định này cũng phù hợp với chủ trương của Đảng, chính sách của nhà nước là xây dựng một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì vậy phải tôn trọng các quy luật cung cầu, quy luật giá trị, các chủ thể trong xã hội thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần của mình thông qua hợp đồng. Các cam kết không vi phạm điều cấm của pháp luật và đạo đức xã hội phải được tôn trọng và phải được Nhà nước bảo vệ.

Tuy nhiên với quy định tại Điều 25 Bộ luật Tố tụng dân sự, thì Tòa án đã từ chối giải quyết các yêu cầu của người dân khi vụ việc dân sự ấy không được liệt kê trong Bộ luật. Quy định này đã đi ngược lại tinh thần của Hiến pháp năm 2013 và Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2005, dẫn đến tình trạng người dân sẽ tự giải quyết tranh chấp, “tự xử” khi không “nhờ” được công quyền. Việc tự giải quyết này dẫn đến nhiều hệ lụy cho xã hội đó là tình trạng “cá lớn nuốt cá bé” là tình trạng tùy tiện xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác và ở đâu có tình trạng người dân tự giải quyết tranh chấp mà không theo pháp luật, thì ở đó công lý bị chà đạp và làm xói mòn niềm tin của người dân vào công quyền.

Việc quy định: Tòa án không được từ chối giải quyết vụ án dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng còn là một sự bổ sung, sự cụ thể hóa Điều 3 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Theo quy định của điều này “trong trường hợp pháp luật không có quy định và các bên không có thỏa thuận, thì có thể áp dụng tập quán, nếu không có tập quán thì áp dụng quy định tương tự của pháp luật. Tập quán và quy định tương tự của pháp luật không được trái với nguyên tắc quy định trong Bộ luật này”. Như vậy, chúng ta thấy Bộ luật Dân sự năm 2005 đã quy định có thể áp dụng tương tự của pháp luật. Trong đó có các quy định về bình đẳng, về công bằng, trung thực, thiện chí… để giải quyết tranh chấp khi không có quy định cụ thể của luật. Tuy nhiên, quy định trên chưa cụ thể, nên thực tế các Tòa án vì nhiều lý do khác nhau thường từ chối giải quyết cho an toàn, hoặc chờ xin ý kiến của Tòa án tối cao, việc này đã gây thiệt hại và gây bức xúc cho người dân.

Việc bổ sung quy định này cũng phù hợp với Hiến pháp năm 2013:

“1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” [6].

Với bản chất của học thuyết nhà nước pháp quyền, thì nhà nước ấy phải vì con người, hướng tới con người và tất cả vì con người. Nhà nước phải bảo đảm các quyền con người, quyền công dân được thực thi trong thực tế xã hội trong đó có quyền được yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ khi có tranh chấp mà trọng tâm, chủ yếu là việc giải quyết của Tòa án nhân nhân trong hoạt động xét xử. Học thuyết nhà nước pháp quyền một thành quả to lớn của xã hội loài người mà Việt Nam đang xây dụng đòi hỏi chúng ta phải ban hành một hệ thống pháp luật cụ thể, đầy đủ, rõ ràng, công khai và minh bạch. Một hệ thống pháp luật mà mọi người dân có thể dễ ràng tiếp cận, dễ hiểu qua đó biết mình được làm gì và không được làm gì, và công quyền phải đáp ứng những yêu cầu chính đáng của nhân dân. Với học thuyết nhà nước pháp quyền đòi hỏi các cơ quan công quyền trong đó có hệ thống các cơ quan tư pháp phải thực thi nghiêm minh pháp luật.

Việc quy định này cũng góp phần tích cực trong việc hình thành hệ thống án lệ theo tinh thần của Nghị quyết số 49-NQ/TW. Việc thừa nhận án lệ trong hệ thống pháp luật góp phần to lớn vào việc bổ sung những khiếm khuyết, những “lỗ hổng” của pháp luật, bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và phù hợp với nền kinh tế thị trường, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế, các quan hệ kinh tế, dân sự đang phát triển từng ngày, từng giờ, vì vậy pháp luật không thể dự liệu được hết tất cả các tình huống nảy sinh trong cuộc sống. Việc phát triển hệ thống án lệ không những giải quyết kịp thời quyền lợi của người dân, mà còn phù hợp với thông lệ thế giới, với các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Đồng thời với quy định này sẽ tạo điều kiện cho thẩm phán chủ động sáng tạo trong hoạt động xét xử. Và muốn làm được điều này, thì thẩm phán, người tham gia xét xử phải có cơ sở pháp lý để thực hiện, đáp ứng nhiệm vụ đó thì họ phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn và trau dồi đạo đức, sao cho phán quyết của mình phải bảo đảm hợp pháp, hợp lý và hợp tình.

Tuy nhiên, việc quy định: Tòa án không được từ chối giải quyết vụ án dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng trong dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi cần phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của Việt Nam. Việt Nam là một nước đang phát triển, nền kinh tế còn khó khăn, hạ tầng cơ sở còn nhiều hạn chế, chúng ta đang trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các thể chế chưa hoàn chỉnh, thậm chí còn đang trong giai đoạn thí điểm, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, vì vậy rất cần sự ổn định trật tự xã hội. Tôn trọng và bảo vệ quyền lợi của người dân, nhưng các quyền, lợi ích đó phải đặt trong một trật tự xã hội. Việc tôn trọng, mở rộng, và bảo vệ các quyền lợi của người dân, nhưng chúng ta cũng cần một môi trường xã hội ổn định để xây dựng, bảo vệ đất nước và phát triển kinh tế - xã hội. Chúng ta hội nhập sâu rộng và toàn diện vào nền kinh tế thế giới, nhưng chúng ta cần có một lộ trình thích hợp, phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của Việt Nam. Do đó, quy định: Tòa án không được từ chối giải quyết vụ án dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng cần phải được hạn chế. Cụ thể những yêu cầu ảnh hưởng tới an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, dân tộc thì Tòa án có quyền từ chối thụ lý. Việc giới hạn này là cần thiết để tránh tình trạng các thế lực thù địch chống phá Nhà nước ta, lợi dụng quy định này khởi kiện hoặc lôi kéo, kích động một số người nhẹ dạ để gây mất trật tự, bất ổn cho xã hội. Đồng thời để tránh tình trạng người dân tùy tiện khởi kiện, thì cần tăng án phí, nếu một người tùy tiện khởi kiện mà bị Tòa án bác yêu cầu, thì họ sẽ phải chịu khoản tiền này, đây cũng được xem là một biện pháp chế tài đối với người tùy tiện khởi kiện và răn đe người khác. Đối với thẩm phán, để tránh tình trạng xét xử tùy tiện, cũng cần có các chế tài nghiêm minh khi thẩm phán cố tình ra phán quyết trái luật. Có thể nói, đây cũng là một quy định mới, vì vậy Nhà nước cần phải có sự chuẩn bị tốt về cơ sở vật chất và đặc biệt là con người, phải bồi dưỡng, tập huấn cho đội ngũ thẩm phán và hội thẩm nhân nhân dân để hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Việc dự thảo sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: Tòa án không được từ chối giải quyết vụ án dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng là cần thiết, phù hợp với Hiến pháp sửa đổi năm 2013 và phù hợp với nền kinh tế - xã hội hiện nay của Việt Nam. Nhất là khi chúng ta đang hội nhập toàn diện vào nền kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, quy định này cần giới hạn lại theo hướng trừ các trường hợp ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia, dân tộc. Việc quy định như vậy vừa bảo đảm các quyền con người, quyền công dân, đồng thời cũng giữ được ổn định trật tự xã hội.

Nguyễn Xuân Quang

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Tài liệu tham khảo:

[1]. Điều 4 dự thảo sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2005.

[3]. Điều 25 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2014.

[4]. Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

[5]. Đoạn 1 Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2005.

[6]. Khoản 1, 2 Điều 2 Hiến pháp năm 2013.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: