Chủ nhật 13/09/2026 13:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Trao đổi về quy định Tòa án không được từ chối giải quyết vụ án dân sự vì chưa có điều luật để áp dụng trong Dự thảo sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự

Việt Nam đang xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với quan điểm tất cả vì con người và hướng tới con người, đồng thời chúng ta cũng đang hội nhập sâu, rộng và toàn diện vào nền kinh tế thế giới, vì vậy đòi hỏi chúng ta không ngừng đổi mới chính sách, hoàn thiện thể chế.

Việt Nam đang xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với quan điểm tất cả vì con người và hướng tới con người, đồng thời chúng ta cũng đang hội nhập sâu, rộng và toàn diện vào nền kinh tế thế giới, vì vậy đòi hỏi chúng ta không ngừng đổi mới chính sách, hoàn thiện thể chế. Một trong những trọng tâm đó là cải cách nền tư pháp, sao cho nền tư pháp đó trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc. Trên tinh thần đó chúng ta đã tiến hành sửa đổi bổ, sung Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong dự thảo có quy định: “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ án dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng”.

Trong bài viết này, tác giả xin được bày tỏ quan điểm của mình với cơ quan soạn thảo, đồng nghiệp và những người quan tâm về vấn đề trên, với mục đích hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự nhằm bảo đảm tốt nhất quyền con người, quyền công dân và thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành đã góp phần tích cực vào việc bảo vệ lợi ích nhà nước, cá nhân, lợi ích của tổ chức và góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.

Trải qua hơn 10 năm thi hành, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 đã bộc lộ nhiều bất cập, trong đó có quy định liệt kê các vụ việc Tòa án thụ lý giải quyết. Việc liệt kê sẽ dẫn đến nhiều lĩnh vực không được đề cập, người dân không thể khởi kiện ra Tòa án vì luật không quy định, gây thiệt hại cho chủ thể và bất ổn xã hội. Trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập toàn diện, sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế, đòi hỏi chúng ta phải nhanh chóng sửa đổi các quy định của pháp luật tố tụng dân sự theo hướng ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ tốt nhất các quyền dân sự, kinh tế của nhân dân và hội nhập toàn diện với nền kinh tế thế giới. Một trong những sửa đổi theo hướng trên được ghi nhận trong Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi là: Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.

Phương án 1: Cơ quan, tổ chức, cá nhân do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác.

Phương án 2:

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác.

2. Tòa án không được từ chối giải quyết vụ án dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng [1].

Chúng tôi ủng hộ phương án thứ 2 vì quy định như vậy sẽ bảo vệ triệt để quyền khởi kiện của chủ thể, đây là tiền đề để bảo vệ các quyền khác, để các quyền dân sự, kinh tế, kinh doanh... được thực thi. Tuy nhiên, về quy định này hiện nay có hai luồng quan điểm chính. Thứ nhất là không đồng ý với quy định này vì cho rằng việc quy định như vậy sẽ dẫn đến tình trạng người dân tùy tiện khởi kiện, gây bất ổn xã hội và Toà án có thể tùy tiện trong xét xử, có thể gây nên tình trạng bất nhất trong quá trình xét xử đối với những vụ việc có nội dung tương tự, quan điểm này cũng cho rằng, việc quy định như vậy là trái với quy định Tòa án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật đã được ghi nhận trong Hiến pháp và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân. Thứ hai là đồng ý với quy định trên trong dự thảo vì cho rằng, quy định này bảo vệ triệt để hơn các quyền dân sự, kinh tế của người dân và phù hợp với pháp luật của một số quốc gia tiên tiến trên thế giới.

Như đã trình bày ở trên, chúng tôi cho rằng trong bối cảnh thực tế hiện nay việc quy định như trong dự thảo là tương đối phù hợp. Bởi lẽ chủ trương của Đảng về chiến lược cải cách tư pháp đã được ghi nhận trong Nghị quyết số 49-NQ/TW với mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hoạt động tư pháp mà trung tâm là hoạt động xét xử phải được tiến hành có hiệu quả, hiệu lực cao. Đồng thời, Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng pháp luật thống nhất, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm. Vì vậy, việc quy định: Tòa án không được từ chối giải quyết vụ án dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng là phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp của Đảng về phát triển hệ thống án lệ, trên tinh thần hội đồng xét xử độc lập, sáng tạo, công tâm trong xét xử “thẩm phán làm luật” để lấp những khoảng trống của pháp luật và bảo vệ triệt để quyền lợi của người dân, bảo đảm trật tự xã hội.

Thực tế trong thời gian qua, rất nhiều vụ việc người dân khởi kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự, như tranh chấp về việc bốc mộ, chăm sóc mồ mả hay kiện đòi các giấy tờ liên quan đến quyền sở hữu, quyền nhân thân... bị Tòa án từ chối vì không thuộc thẩm quyền. Xét về mặt pháp lý, thì việc từ chối giải quyết trên của các Tòa án là hợp pháp. Ví dụ kiện đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hay sổ hộ khẩu, thì theo quy định hiện hành thì giấy tờ nói trên không phải là tài sản. Theo quy định hiện hành tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản [2] đồng thời theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thẩm quyền giải quyết của Tòa án chỉ bao gồm:

1. Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam.

2. Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản.

3. Tranh chấp về hợp đồng dân sự.

4. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ trừ những trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 29 của bộ luật này.

5. Tranh chấp về thừa kế tài sản.

6. Tranh chấp về bồi thường thiết hại ngoài hợp đồng.

7. Tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.

8. Tranh chấp liên quan đến nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật

9. Các tranh chấp khác về dân sự mà pháp luật có quy định [3].

Với quy định này của Bộ luật Tố tụng hiện hành, chúng ta thấy pháp luật tố tụng quy định “vừa đóng lại vừa mở”. Đóng bởi từ khoản 1 đến khoản 8 là liệt kê các vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tuy nhiên, khoản 9 lại mở cho Tòa án, nhưng lại không rõ ràng, vì các tranh chấp về dân sự này phải được pháp luật quy định, mà pháp luật quy định là pháp luật nào thì không rõ. Phải chăng các nhà làm luật đã thấy sự bất cập của pháp luật tố tụng dân sự trong việc liệt kê cụ thể các vụ việc giải quyết là không đầy đủ. Thực tế các Tòa án đã từ chối giải quyết các vụ việc không được liệt kê trong Bộ luật là không thỏa đáng, không bảo vệ triệt để quyền lợi của người dân, nên đã quy định như khoản 9 nói trên, nhằm tạo sự chủ động cho Tòa án trong hoạt động tố tụng của mình. Nhưng việc quy định như trên lại nửa vời, chính vì vậy dẫn đến tình trạng có vụ việc yêu cầu thì Tòa án này giải quyết, nhưng Tòa án khác lại từ chối hoặc Tòa án xét xử sơ thẩm giải quyết, nhưng Tòa án phúc thẩm lại hủy vì không đúng thẩm quyền.

Như đã phân tích ở trên, việc từ chối của Tòa án là hợp pháp, nhưng không hợp lý và không phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013. Ở nước ta, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật [4].

Với quy định trên thì các quyền dân sự của cá nhân phải được ghi nhận một cách rõ ràng và thực tế một số quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005 đã đi theo hướng này. Cụ thể tại Điều 4 quy định quyền tự do cam kết, thỏa thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm nếu cam kết thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội [5]. Với quy định này, chúng ta thấy Bộ luật Dân sự đã ghi nhận một nguyên tắc hết sức tiến bộ của một xã hội tự do và dân chủ là “người dân được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm” quy định này cũng phù hợp với chủ trương của Đảng, chính sách của nhà nước là xây dựng một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì vậy phải tôn trọng các quy luật cung cầu, quy luật giá trị, các chủ thể trong xã hội thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần của mình thông qua hợp đồng. Các cam kết không vi phạm điều cấm của pháp luật và đạo đức xã hội phải được tôn trọng và phải được Nhà nước bảo vệ.

Tuy nhiên với quy định tại Điều 25 Bộ luật Tố tụng dân sự, thì Tòa án đã từ chối giải quyết các yêu cầu của người dân khi vụ việc dân sự ấy không được liệt kê trong Bộ luật. Quy định này đã đi ngược lại tinh thần của Hiến pháp năm 2013 và Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2005, dẫn đến tình trạng người dân sẽ tự giải quyết tranh chấp, “tự xử” khi không “nhờ” được công quyền. Việc tự giải quyết này dẫn đến nhiều hệ lụy cho xã hội đó là tình trạng “cá lớn nuốt cá bé” là tình trạng tùy tiện xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác và ở đâu có tình trạng người dân tự giải quyết tranh chấp mà không theo pháp luật, thì ở đó công lý bị chà đạp và làm xói mòn niềm tin của người dân vào công quyền.

Việc quy định: Tòa án không được từ chối giải quyết vụ án dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng còn là một sự bổ sung, sự cụ thể hóa Điều 3 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Theo quy định của điều này “trong trường hợp pháp luật không có quy định và các bên không có thỏa thuận, thì có thể áp dụng tập quán, nếu không có tập quán thì áp dụng quy định tương tự của pháp luật. Tập quán và quy định tương tự của pháp luật không được trái với nguyên tắc quy định trong Bộ luật này”. Như vậy, chúng ta thấy Bộ luật Dân sự năm 2005 đã quy định có thể áp dụng tương tự của pháp luật. Trong đó có các quy định về bình đẳng, về công bằng, trung thực, thiện chí… để giải quyết tranh chấp khi không có quy định cụ thể của luật. Tuy nhiên, quy định trên chưa cụ thể, nên thực tế các Tòa án vì nhiều lý do khác nhau thường từ chối giải quyết cho an toàn, hoặc chờ xin ý kiến của Tòa án tối cao, việc này đã gây thiệt hại và gây bức xúc cho người dân.

Việc bổ sung quy định này cũng phù hợp với Hiến pháp năm 2013:

“1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” [6].

Với bản chất của học thuyết nhà nước pháp quyền, thì nhà nước ấy phải vì con người, hướng tới con người và tất cả vì con người. Nhà nước phải bảo đảm các quyền con người, quyền công dân được thực thi trong thực tế xã hội trong đó có quyền được yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ khi có tranh chấp mà trọng tâm, chủ yếu là việc giải quyết của Tòa án nhân nhân trong hoạt động xét xử. Học thuyết nhà nước pháp quyền một thành quả to lớn của xã hội loài người mà Việt Nam đang xây dụng đòi hỏi chúng ta phải ban hành một hệ thống pháp luật cụ thể, đầy đủ, rõ ràng, công khai và minh bạch. Một hệ thống pháp luật mà mọi người dân có thể dễ ràng tiếp cận, dễ hiểu qua đó biết mình được làm gì và không được làm gì, và công quyền phải đáp ứng những yêu cầu chính đáng của nhân dân. Với học thuyết nhà nước pháp quyền đòi hỏi các cơ quan công quyền trong đó có hệ thống các cơ quan tư pháp phải thực thi nghiêm minh pháp luật.

Việc quy định này cũng góp phần tích cực trong việc hình thành hệ thống án lệ theo tinh thần của Nghị quyết số 49-NQ/TW. Việc thừa nhận án lệ trong hệ thống pháp luật góp phần to lớn vào việc bổ sung những khiếm khuyết, những “lỗ hổng” của pháp luật, bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và phù hợp với nền kinh tế thị trường, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế, các quan hệ kinh tế, dân sự đang phát triển từng ngày, từng giờ, vì vậy pháp luật không thể dự liệu được hết tất cả các tình huống nảy sinh trong cuộc sống. Việc phát triển hệ thống án lệ không những giải quyết kịp thời quyền lợi của người dân, mà còn phù hợp với thông lệ thế giới, với các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Đồng thời với quy định này sẽ tạo điều kiện cho thẩm phán chủ động sáng tạo trong hoạt động xét xử. Và muốn làm được điều này, thì thẩm phán, người tham gia xét xử phải có cơ sở pháp lý để thực hiện, đáp ứng nhiệm vụ đó thì họ phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn và trau dồi đạo đức, sao cho phán quyết của mình phải bảo đảm hợp pháp, hợp lý và hợp tình.

Tuy nhiên, việc quy định: Tòa án không được từ chối giải quyết vụ án dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng trong dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi cần phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của Việt Nam. Việt Nam là một nước đang phát triển, nền kinh tế còn khó khăn, hạ tầng cơ sở còn nhiều hạn chế, chúng ta đang trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các thể chế chưa hoàn chỉnh, thậm chí còn đang trong giai đoạn thí điểm, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, vì vậy rất cần sự ổn định trật tự xã hội. Tôn trọng và bảo vệ quyền lợi của người dân, nhưng các quyền, lợi ích đó phải đặt trong một trật tự xã hội. Việc tôn trọng, mở rộng, và bảo vệ các quyền lợi của người dân, nhưng chúng ta cũng cần một môi trường xã hội ổn định để xây dựng, bảo vệ đất nước và phát triển kinh tế - xã hội. Chúng ta hội nhập sâu rộng và toàn diện vào nền kinh tế thế giới, nhưng chúng ta cần có một lộ trình thích hợp, phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của Việt Nam. Do đó, quy định: Tòa án không được từ chối giải quyết vụ án dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng cần phải được hạn chế. Cụ thể những yêu cầu ảnh hưởng tới an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, dân tộc thì Tòa án có quyền từ chối thụ lý. Việc giới hạn này là cần thiết để tránh tình trạng các thế lực thù địch chống phá Nhà nước ta, lợi dụng quy định này khởi kiện hoặc lôi kéo, kích động một số người nhẹ dạ để gây mất trật tự, bất ổn cho xã hội. Đồng thời để tránh tình trạng người dân tùy tiện khởi kiện, thì cần tăng án phí, nếu một người tùy tiện khởi kiện mà bị Tòa án bác yêu cầu, thì họ sẽ phải chịu khoản tiền này, đây cũng được xem là một biện pháp chế tài đối với người tùy tiện khởi kiện và răn đe người khác. Đối với thẩm phán, để tránh tình trạng xét xử tùy tiện, cũng cần có các chế tài nghiêm minh khi thẩm phán cố tình ra phán quyết trái luật. Có thể nói, đây cũng là một quy định mới, vì vậy Nhà nước cần phải có sự chuẩn bị tốt về cơ sở vật chất và đặc biệt là con người, phải bồi dưỡng, tập huấn cho đội ngũ thẩm phán và hội thẩm nhân nhân dân để hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Việc dự thảo sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: Tòa án không được từ chối giải quyết vụ án dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng là cần thiết, phù hợp với Hiến pháp sửa đổi năm 2013 và phù hợp với nền kinh tế - xã hội hiện nay của Việt Nam. Nhất là khi chúng ta đang hội nhập toàn diện vào nền kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, quy định này cần giới hạn lại theo hướng trừ các trường hợp ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia, dân tộc. Việc quy định như vậy vừa bảo đảm các quyền con người, quyền công dân, đồng thời cũng giữ được ổn định trật tự xã hội.

Nguyễn Xuân Quang

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Tài liệu tham khảo:

[1]. Điều 4 dự thảo sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2005.

[3]. Điều 25 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2014.

[4]. Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

[5]. Đoạn 1 Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2005.

[6]. Khoản 1, 2 Điều 2 Hiến pháp năm 2013.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: