Chủ nhật 08/02/2026 05:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Trao đổi về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp huyện

Chính quyền địa phương cấp huyện đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển tải, triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của cấp trung ương và cấp tỉnh. Bài viết phân tích về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp huyện.

Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2019 (Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015), chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính, cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) được tổ chức ở các đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Chính quyền địa phương có nhiệm vụ tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật tại địa phương; quyết định các vấn đề của địa phương do luật định.

HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Trong ba cấp chính quyền địa phương thì chính quyền địa phương cấp huyện đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển tải, triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của cấp trung ương và cấp tỉnh; kiểm tra, giám sát, hướng dẫn, chỉ đạo chính quyền cấp xã trong việc triển khai thực hiện Hiến pháp và pháp luật. Do đó, việc trao đổi về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND cấp huyện phải tiếp cận trên cơ sở vị trí pháp lý và nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương với tư cách là một chủ thể của hệ thống hành pháp (thực hiện nhiệm vụ lập quy - ban hành văn bản quy phạm pháp luật) và là cơ quan tự quản địa phương (do nhân dân địa phương bầu ra, quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương).

Từ vị trí, vai trò và nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp huyện mà Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy Ban nhân dân năm 2004 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) đã quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND cấp huyện. Theo quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND năm 2004 thì nội dung nghị quyết của HĐND huyện ban hành để quyết định chủ trương, biện pháp trong các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, xã hội, đời sống, khoa học và công nghệ, tài nguyên và môi trường, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, thi hành pháp luật, xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính trên địa bàn huyện quy định tại các điều 19, 20, 21, 22, 23, 24 và 25 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của cơ quan nhà nước cấp trên. Ngoài các nội dung trên thì HĐND quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh còn ban hành nghị quyết để quyết định chủ trương, biện pháp khác về xây dựng, phát triển đô thị trên địa bàn quận và chủ trương biện pháp khác về xây dựng, phát triển thị xã, thành phố thuộc tỉnh quy định tại Điều 26, Điều 27 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của cơ quan nhà nước cấp trên; HĐND huyện thuộc địa bàn hải đảo còn ban hành nghị quyết để quyết định chủ trương, biện pháp khác về xây dựng, phát triển hải đảo quy định tại Điều 28 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của cơ quan nhà nước cấp trên.

Như vậy, có thể thấy rằng, phạm vi nội dung nghị quyết của HĐND cấp huyện (theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2004) được ban hành rất rộng, thuộc tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương gắn với những nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003. Quy định này đã bảo đảm tối đa quyền tự quản, tự chủ trong việc tự quyết định các vấn đề của địa phương mà không bị giới hạn bởi bất kỳ văn bản pháp luật nào ngoài Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Tuy nhiên, với độ “mở” quá lớn như vậy thực tế đã dẫn đến tình trạng HĐND cấp huyện ban hành nghị quyết quy phạm pháp luật tràn lan, chất lượng không cao, khó kiểm soát và đã tạo ra một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thiếu thống nhất giữa các địa phương, trong đó có cả những nghị quyết mang tính chủ trương, đường lối như quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội mà không chứa các quy phạm pháp luật (quy tắc xử sự chung) - là thuộc tính của văn bản quy phạm pháp luật.

Để khắc phục hạn chế nêu trên, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã thu hẹp một cách đáng kể phạm vi nội dung ban hành nghị quyết của HĐND cấp huyện. Theo quy định tại Điều 30 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, HĐND cấp huyện chỉ được ban hành nghị quyết để quy định những vấn đề được luật giao. Thực tế trong những năm qua thấy rằng, các luật và văn bản dưới luật chủ yếu giao thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho HĐND cấp tỉnh mà hầu như không có văn bản luật nào giao cho HĐND cấp huyện ban hành. Do đó, thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND cấp huyện trên thực tế là không phát sinh. Tính tự quản của chính quyền cấp huyện bị thu hẹp gần như tuyệt đối. Điều này đã dẫn đến hệ quả là HĐND cấp huyện khó có thể thực hiện có hiệu quả tất cả các nhiệm vụ, quyền hạn được giao trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, nhất là trong việc quy định các các biện pháp mang tính đặc thù để phát huy tiềm năng, lợi thế và định hướng phát triển riêng của mỗi địa phương.

Theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn mà HĐND cấp huyện cần ban hành các nghị quyết cá biệt để thực hiện (như việc thành lập, bãi bỏ cơ quan chuyên môn; xác nhận kết quả bầu cử các chức danh, kết quả lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm, bãi nhiệm, cho thôi làm nhiệm vụ đại biểu; thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quyết định dự toán ngân sách, phê chuẩn quyết toán ngân sách…) thì HĐND cấp huyện cần phải ban hành những nghị quyết quy phạm pháp luật để thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, quyền hạn mà Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định. Chẳng hạn như: Biện pháp thực hiện nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác; bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân trên địa bàn; biện pháp quản lý và sử dụng đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác; biện pháp bảo vệ và cải thiện môi trường, phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bão, lụt ở địa phương theo quy định của pháp luật; biện pháp phát triển hệ thống giáo dục mầm non, tiểu học và trung học cơ sở; biện pháp phát triển sự nghiệp văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao; biện pháp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, phòng, chống dịch bệnh; biện pháp phát triển việc làm, chính sách xóa đói, giảm nghèo; quyết định các cơ chế, chính sách thu hút đầu tư phát triển đô thị, chương trình, kế hoạch xây dựng công trình hạ tầng đô thị, giao thông; biện pháp quản lý dân cư và tổ chức đời sống dân cư, bảo đảm trật tự công cộng, cảnh quan đô thị trên địa bàn.

Thực tế ở tỉnh Quảng Bình đã vấp phải những vướng mắc nêu trên. Chẳng hạn như, để đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và nâng chao chất lượng giáo dục, HĐND thị xã Ba Đồn đã ban hành Nghị quyết số 71/NQ-HĐND ngày 28/12/2021 về việc ban hành quy định định mức hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2022 - 2025 và Nghị quyết số 06/NQ-HĐND ngày 28/7/2022 quy định việc hỗ trợ khuyến khích học sinh, giáo viên ngành giáo dục thị xã Ba Đồn đạt thành tích cao trong các kỳ thi giai đoạn 2022 - 2026. Hoặc, để phát triển thiết chế văn hóa, khuyến khích đẩy mạnh phát triển sản xuất, HĐND thành phố Đồng Hới đã ban hành Nghị quyết số 58/NQ-HĐND ngày 22/7/2021 về việc thông qua chính sách hỗ trợ xây dựng và mua sắm trang thiết bị, cơ sở vật chất nhà văn hóa thôn, tổ dân phố đạt chuẩn giai đoạn 2021 - 2025 và Nghị quyết số 03/NQ-HĐND ngày 02/4/2021 về chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất của thành phố Đồng Hới giai đoạn 2021 - 2025. Mặc dù các nghị quyết nêu trên đều ban hành theo hình thức nghị quyết cá biệt nhưng nội dung nghị quyết lại chứa các quy phạm pháp luật và theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì HĐND cấp huyện không được ban hành nghị quyết quy phạm pháp luật khi không được luật giao. Do đó, HĐND thị xã Ba Đồn và HĐND thành phố Đồng Hới đã phải ban hành nghị quyết để bãi bỏ các nghị quyết nêu trên. Như vậy có thể thấy rằng, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 thì “mở” còn Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì “đóng” về phạm vi thẩm quyền ban hành nghị quyết quy phạm pháp luật của HĐND cấp huyện.

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật là luật hình thức để bảo đảm cho việc triển khai thực hiện những quy định của các văn bản pháp luật nội dung, do đó luật hình thức phải bảo đảm tương thích với luật nội dung. Từ quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 thấy rằng, bên cạnh việc quy định phân quyền cho chính quyền địa phương phải được quy định trong Luật, Luật này đã bổ sung quy định về việc phân cấp cho chính quyền địa phương. Tại Điều 13 quy định: “Căn cứ vào yêu cầu công tác, khả năng thực hiện và điều kiện, tình hình cụ thể của địa phương, cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương được quyền phân cấp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện một cách liên tục, thường xuyên một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của mình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Tại khoản 1 Điều 19 và khoản 1 Điều 40 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp tỉnh trong tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật, đó là: “Quyết định biện pháp để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp; quyết định việc phân cấp cho chính quyền địa phương cấp huyện, cấp xã, cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở tỉnh”. Tương tự, tại khoản 1 Điều 26 và khoản 1 Điều 54 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp huyện trong tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật đó là: “Quyết định biện pháp để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp; quyết định việc phân cấp cho chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương cấp huyện”. Để đảm bảo thực hiện quy định này, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2020 đã bổ sung quy định về thẩm quyền ban hành nghị quyết quy phạm pháp luật của HĐND cấp huyện theo hướng mở rộng hơn để phù hợp với quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015. Cụ thể đó là: HĐND cấp huyện ban hành nghị quyết để quy định những vấn đề được luật, nghị quyết của Quốc hội giao hoặc để thực hiện việc phân cấp cho chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước cấp dưới theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương (khoản 7 Điều 1). Mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng “mở”, nhưng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật vẫn chưa giải quyết triệt để vướng mắc trong thực tiễn và chưa tương thích hoàn toàn với Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.

Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã “mở” cho HĐND cấp huyện “hai cánh cửa” về thẩm quyền: Một là, “quyết định biện pháp để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp”; Hai là, “quyết định việc phân cấp cho chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương cấp huyện”. Tức là vừa ban hành nghị quyết để thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên (trong đó có HĐND cấp tỉnh) phân cấp (giao cho), vừa ban hành nghị quyết để phân cấp (giao lại) những nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp huyện cho cấp dưới (cấp xã). Điều này thể hiện sự kết nối liên thông giữa cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. Trong khi đó Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2020 thì chỉ “mở” cho HĐND cấp huyện “một cánh cửa” về thẩm quyền ban hành nghị quyết quy phạm pháp luật, đó là chỉ được ban hành nghị quyết để thực hiện việc phân cấp cho chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước cấp dưới mà không được ban hành nghị quyết quyết định biện pháp để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp. “Khiếm khuyết” này đã làm vô hiệu hóa quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp tỉnh trong việc quyết định việc phân cấp cho chính quyền địa phương cấp huyện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở tỉnh quy định tại khoản 1 Điều 19 và khoản 1 Điều 40 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015. Trong khi không được luật, nghị quyết của Quốc hội giao thì việc HĐND cấp huyện ban hành nghị quyết để “thực hiện việc phân cấp cho chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước cấp dưới (cấp xã) theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương” cũng không thể phát sinh trong thực tế.

Với những bất cập trong quy định về thẩm quyền ban hành nghị quyết quy phạm pháp luật của HĐND cấp huyện như đã nêu trên, cơ quan có thẩm quyền cần sớm nghiên cứu tham mưu để Chính phủ trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật bảo đảm sự tương thích với quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương và nhu cầu thực tiễn đặt ra của chính quyền cấp huyện trong việc quyết định các vấn đề mang tính tự quản của địa phương./.

ThS. Phạm Thái Quý

Phó Trưởng ban Pháp chế Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Bình

Ảnh: Internet

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: