Chủ nhật 17/05/2026 17:30
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Trao đổi về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp huyện

Chính quyền địa phương cấp huyện đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển tải, triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của cấp trung ương và cấp tỉnh. Bài viết phân tích về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp huyện.

Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2019 (Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015), chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính, cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) được tổ chức ở các đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Chính quyền địa phương có nhiệm vụ tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật tại địa phương; quyết định các vấn đề của địa phương do luật định.

HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Trong ba cấp chính quyền địa phương thì chính quyền địa phương cấp huyện đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển tải, triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của cấp trung ương và cấp tỉnh; kiểm tra, giám sát, hướng dẫn, chỉ đạo chính quyền cấp xã trong việc triển khai thực hiện Hiến pháp và pháp luật. Do đó, việc trao đổi về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND cấp huyện phải tiếp cận trên cơ sở vị trí pháp lý và nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương với tư cách là một chủ thể của hệ thống hành pháp (thực hiện nhiệm vụ lập quy - ban hành văn bản quy phạm pháp luật) và là cơ quan tự quản địa phương (do nhân dân địa phương bầu ra, quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương).

Từ vị trí, vai trò và nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp huyện mà Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy Ban nhân dân năm 2004 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) đã quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND cấp huyện. Theo quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND năm 2004 thì nội dung nghị quyết của HĐND huyện ban hành để quyết định chủ trương, biện pháp trong các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, xã hội, đời sống, khoa học và công nghệ, tài nguyên và môi trường, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, thi hành pháp luật, xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính trên địa bàn huyện quy định tại các điều 19, 20, 21, 22, 23, 24 và 25 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của cơ quan nhà nước cấp trên. Ngoài các nội dung trên thì HĐND quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh còn ban hành nghị quyết để quyết định chủ trương, biện pháp khác về xây dựng, phát triển đô thị trên địa bàn quận và chủ trương biện pháp khác về xây dựng, phát triển thị xã, thành phố thuộc tỉnh quy định tại Điều 26, Điều 27 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của cơ quan nhà nước cấp trên; HĐND huyện thuộc địa bàn hải đảo còn ban hành nghị quyết để quyết định chủ trương, biện pháp khác về xây dựng, phát triển hải đảo quy định tại Điều 28 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của cơ quan nhà nước cấp trên.

Như vậy, có thể thấy rằng, phạm vi nội dung nghị quyết của HĐND cấp huyện (theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2004) được ban hành rất rộng, thuộc tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương gắn với những nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003. Quy định này đã bảo đảm tối đa quyền tự quản, tự chủ trong việc tự quyết định các vấn đề của địa phương mà không bị giới hạn bởi bất kỳ văn bản pháp luật nào ngoài Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Tuy nhiên, với độ “mở” quá lớn như vậy thực tế đã dẫn đến tình trạng HĐND cấp huyện ban hành nghị quyết quy phạm pháp luật tràn lan, chất lượng không cao, khó kiểm soát và đã tạo ra một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thiếu thống nhất giữa các địa phương, trong đó có cả những nghị quyết mang tính chủ trương, đường lối như quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội mà không chứa các quy phạm pháp luật (quy tắc xử sự chung) - là thuộc tính của văn bản quy phạm pháp luật.

Để khắc phục hạn chế nêu trên, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã thu hẹp một cách đáng kể phạm vi nội dung ban hành nghị quyết của HĐND cấp huyện. Theo quy định tại Điều 30 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, HĐND cấp huyện chỉ được ban hành nghị quyết để quy định những vấn đề được luật giao. Thực tế trong những năm qua thấy rằng, các luật và văn bản dưới luật chủ yếu giao thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho HĐND cấp tỉnh mà hầu như không có văn bản luật nào giao cho HĐND cấp huyện ban hành. Do đó, thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND cấp huyện trên thực tế là không phát sinh. Tính tự quản của chính quyền cấp huyện bị thu hẹp gần như tuyệt đối. Điều này đã dẫn đến hệ quả là HĐND cấp huyện khó có thể thực hiện có hiệu quả tất cả các nhiệm vụ, quyền hạn được giao trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, nhất là trong việc quy định các các biện pháp mang tính đặc thù để phát huy tiềm năng, lợi thế và định hướng phát triển riêng của mỗi địa phương.

Theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn mà HĐND cấp huyện cần ban hành các nghị quyết cá biệt để thực hiện (như việc thành lập, bãi bỏ cơ quan chuyên môn; xác nhận kết quả bầu cử các chức danh, kết quả lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm, bãi nhiệm, cho thôi làm nhiệm vụ đại biểu; thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quyết định dự toán ngân sách, phê chuẩn quyết toán ngân sách…) thì HĐND cấp huyện cần phải ban hành những nghị quyết quy phạm pháp luật để thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, quyền hạn mà Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định. Chẳng hạn như: Biện pháp thực hiện nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác; bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân trên địa bàn; biện pháp quản lý và sử dụng đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác; biện pháp bảo vệ và cải thiện môi trường, phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bão, lụt ở địa phương theo quy định của pháp luật; biện pháp phát triển hệ thống giáo dục mầm non, tiểu học và trung học cơ sở; biện pháp phát triển sự nghiệp văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao; biện pháp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, phòng, chống dịch bệnh; biện pháp phát triển việc làm, chính sách xóa đói, giảm nghèo; quyết định các cơ chế, chính sách thu hút đầu tư phát triển đô thị, chương trình, kế hoạch xây dựng công trình hạ tầng đô thị, giao thông; biện pháp quản lý dân cư và tổ chức đời sống dân cư, bảo đảm trật tự công cộng, cảnh quan đô thị trên địa bàn.

Thực tế ở tỉnh Quảng Bình đã vấp phải những vướng mắc nêu trên. Chẳng hạn như, để đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và nâng chao chất lượng giáo dục, HĐND thị xã Ba Đồn đã ban hành Nghị quyết số 71/NQ-HĐND ngày 28/12/2021 về việc ban hành quy định định mức hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2022 - 2025 và Nghị quyết số 06/NQ-HĐND ngày 28/7/2022 quy định việc hỗ trợ khuyến khích học sinh, giáo viên ngành giáo dục thị xã Ba Đồn đạt thành tích cao trong các kỳ thi giai đoạn 2022 - 2026. Hoặc, để phát triển thiết chế văn hóa, khuyến khích đẩy mạnh phát triển sản xuất, HĐND thành phố Đồng Hới đã ban hành Nghị quyết số 58/NQ-HĐND ngày 22/7/2021 về việc thông qua chính sách hỗ trợ xây dựng và mua sắm trang thiết bị, cơ sở vật chất nhà văn hóa thôn, tổ dân phố đạt chuẩn giai đoạn 2021 - 2025 và Nghị quyết số 03/NQ-HĐND ngày 02/4/2021 về chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất của thành phố Đồng Hới giai đoạn 2021 - 2025. Mặc dù các nghị quyết nêu trên đều ban hành theo hình thức nghị quyết cá biệt nhưng nội dung nghị quyết lại chứa các quy phạm pháp luật và theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì HĐND cấp huyện không được ban hành nghị quyết quy phạm pháp luật khi không được luật giao. Do đó, HĐND thị xã Ba Đồn và HĐND thành phố Đồng Hới đã phải ban hành nghị quyết để bãi bỏ các nghị quyết nêu trên. Như vậy có thể thấy rằng, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 thì “mở” còn Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì “đóng” về phạm vi thẩm quyền ban hành nghị quyết quy phạm pháp luật của HĐND cấp huyện.

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật là luật hình thức để bảo đảm cho việc triển khai thực hiện những quy định của các văn bản pháp luật nội dung, do đó luật hình thức phải bảo đảm tương thích với luật nội dung. Từ quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 thấy rằng, bên cạnh việc quy định phân quyền cho chính quyền địa phương phải được quy định trong Luật, Luật này đã bổ sung quy định về việc phân cấp cho chính quyền địa phương. Tại Điều 13 quy định: “Căn cứ vào yêu cầu công tác, khả năng thực hiện và điều kiện, tình hình cụ thể của địa phương, cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương được quyền phân cấp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện một cách liên tục, thường xuyên một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của mình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Tại khoản 1 Điều 19 và khoản 1 Điều 40 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp tỉnh trong tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật, đó là: “Quyết định biện pháp để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp; quyết định việc phân cấp cho chính quyền địa phương cấp huyện, cấp xã, cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở tỉnh”. Tương tự, tại khoản 1 Điều 26 và khoản 1 Điều 54 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp huyện trong tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật đó là: “Quyết định biện pháp để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp; quyết định việc phân cấp cho chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương cấp huyện”. Để đảm bảo thực hiện quy định này, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2020 đã bổ sung quy định về thẩm quyền ban hành nghị quyết quy phạm pháp luật của HĐND cấp huyện theo hướng mở rộng hơn để phù hợp với quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015. Cụ thể đó là: HĐND cấp huyện ban hành nghị quyết để quy định những vấn đề được luật, nghị quyết của Quốc hội giao hoặc để thực hiện việc phân cấp cho chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước cấp dưới theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương (khoản 7 Điều 1). Mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng “mở”, nhưng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật vẫn chưa giải quyết triệt để vướng mắc trong thực tiễn và chưa tương thích hoàn toàn với Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.

Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã “mở” cho HĐND cấp huyện “hai cánh cửa” về thẩm quyền: Một là, “quyết định biện pháp để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp”; Hai là, “quyết định việc phân cấp cho chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương cấp huyện”. Tức là vừa ban hành nghị quyết để thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên (trong đó có HĐND cấp tỉnh) phân cấp (giao cho), vừa ban hành nghị quyết để phân cấp (giao lại) những nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp huyện cho cấp dưới (cấp xã). Điều này thể hiện sự kết nối liên thông giữa cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. Trong khi đó Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2020 thì chỉ “mở” cho HĐND cấp huyện “một cánh cửa” về thẩm quyền ban hành nghị quyết quy phạm pháp luật, đó là chỉ được ban hành nghị quyết để thực hiện việc phân cấp cho chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước cấp dưới mà không được ban hành nghị quyết quyết định biện pháp để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp. “Khiếm khuyết” này đã làm vô hiệu hóa quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp tỉnh trong việc quyết định việc phân cấp cho chính quyền địa phương cấp huyện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở tỉnh quy định tại khoản 1 Điều 19 và khoản 1 Điều 40 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015. Trong khi không được luật, nghị quyết của Quốc hội giao thì việc HĐND cấp huyện ban hành nghị quyết để “thực hiện việc phân cấp cho chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước cấp dưới (cấp xã) theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương” cũng không thể phát sinh trong thực tế.

Với những bất cập trong quy định về thẩm quyền ban hành nghị quyết quy phạm pháp luật của HĐND cấp huyện như đã nêu trên, cơ quan có thẩm quyền cần sớm nghiên cứu tham mưu để Chính phủ trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật bảo đảm sự tương thích với quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương và nhu cầu thực tiễn đặt ra của chính quyền cấp huyện trong việc quyết định các vấn đề mang tính tự quản của địa phương./.

ThS. Phạm Thái Quý

Phó Trưởng ban Pháp chế Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Bình

Ảnh: Internet

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: