Thứ bảy 07/02/2026 20:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Trộm cắp tài sản hay cướp tài sản?

Tình trạng bắt trộm chó hiện đang gây nhức nhối ở nước ta, đặc biệt là ở nhiều vùng nông thôn. Tuy nhiên việc xử lý loại tội phạm này lại chưa thống nhất và chưa xử lý nghiêm để mang tính răng đe. Ngoài một số vụ án nghiêm trọng ảnh hưởng đến tính mạng của con người đã từng bị pháp luật trừng trị, thì hầu hết các vụ trộm bị bắt đều chỉ dừng lại ở mức phạt hành chính - đây là một trong những nguyên nhân khiến nạn trộm chó ngày càng gia tăng về số vụ lẫn mức độ nguy hiểm… Đó là chưa kể nếu bị đưa ra xét xử loại tội phạm này thì việc định tội danh cũng có khi chưa thỏa đáng.

Trước hết phải khẳng định rằng, hành vi chiếm đoạt chó của người khác là hành vi chiếm đoạt tài sản, tùy theo mức độ vi phạm để xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Vấn đề đặt ra ở đây là hành vi chiếm đoạt chó của người khác sẽ được xem là trộm cắp tài sản hay là cướp tài sản. Nếu xem đó là hành vi trộm cắp tài sản thì người phạm tội có thể bị xử phạt hành chính (tài sản dưới hai triệu đồng và chưa bị xử phạt hành chính lần nào về hành vi chiếm đoạt, chưa được xóa án tích...) hoặc cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản theo Điều 138 Bộ luật Hình sự (BLHS). Nếu xem đó là hành vi cướp tài sản thì sẽ không xử phạt hành chính nữa mà phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản theo Điều 133 BLHS bởi tội cướp tài sản là tội có cấu thành hình thức và ở điều luật không có quy định xử phạt hành chính như tội trộm cắp tài sản. Như vậy người có hành vi vi phạm chỉ có thể bị xử phạt hành chính đối với hành vi trộm cắp tài sản (trộm cắp chó) trong trường hợp giá trị tài sản chưa đến hai triệu đồng, chưa bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt...

Theo ý kiến bản thân thì trong một số trường hợp cụ thể thì hành vi chiếm đoạt chó của người khác không chỉ đơn thuần là hành vi trộm cắp tài sản mà còn là hành vi cướp tài sản. Do đặc điểm của tội trộm cắp tài sản, nên người phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạt bằng hình thức lén lút, với thủ đoạn lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của người quản lý tài sản, không trông giữ cẩn thận hoặc lợi dụng vào hoàn cảnh khách quan khác như: chen lấn, xô đẩy, nhằm tiếp cận tài sản để thực hiện hành vi chiếm đoạt mà người quản lý tài sản không biết để chiếm đoạt tài sản. Hành vi lén lút chiếm đoạt chó của người khác có thể là lợi dụng chủ sở hữu không trông giữ, không có nhà để bắt trộm hoặc cũng có thể là hành vi công khai nhưng công khai với những người không phải là chủ sở hữu. Ví dụ: Nguyễn Đình C có ý định vào nhà ông A để bắt trộm chó, lúc này phía ngoài nhà ông A có một số công nhân đang thi công đường giao thông. Tuy nhiên, C vẫn vào nhà ông A mở dây xích chó và dắt đi một cách bình thản giống như mình là chủ nhà, công nhân thi công đường ở đó tưởng rằng C là chủ nhà nên cũng không có phản ứng gì. Như vậy, đây là hành vi công khai với những người không phải là chủ tài sản bằng cách che giấu thân phận thật của mình nhưng là lén lút với chủ tài sản. Những hành vi đó nếu bị phát hiện thì sẽ bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 138 BLHS.

Thực tế đã cho thấy, hầu hết các đối tượng trộm cắp chó đều là những đối tượng hung dữ, manh động và sẵn sàng dùng vũ lực để chống trả chủ sở hữu hoặc người khác nếu họ phát hiện được hành vi của chúng. Đối với hình vi dùng vũ lực để chống trả này thì các cơ quan tiến hành tố tụng cần phải xem xét cẩn trọng để xử lý một cách chính xác. Có trường hợp thì truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản, nhưng có trường hợp cần truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản. Sau đây tôi xin đưa ra một số trường hợp cụ thể:

Trường hợp thứ nhất: C vào nhà ông A và bắt trộm một con chó (đã bỏ được vào rọ và trong rọ đã có 04 con chó) thì bị người dân phát hiện và truy đuổi. Thấy mọi người truy đuổi thì C đã có hành vi dùng cui đánh trả (làm cho một người dân bị thương nhẹ, tổn hại sức khỏe 3%), đồng thời vứt rọ nhốt chó lại để tẩu thoát nhưng vẫn bị mọi người bắt giữ. Trường hợp này thì C sẽ bị xem xét để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 138 BLHS với tình tiết định khung tăng nặng là hành hung để tẩu thoát.

Trường hợp thứ hai: Cũng ví dụ nêu trên, C có hành vi dùng cui chống trả gây thương tích cho một người dân mà tỷ lệ là 13%, đồng thời cũng vứt rọ nhốt chó lại để tẩu thoát nhưng vẫn bị mọi người bắt giữ. Trường hợp này thì C ngoài việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 138 BLHS thì còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự thêm về tội “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” theo Điều 104 BLHS.

Trường hợp thứ ba: Cũng với ví dụ nêu trên thì sau khi bị truy đuổi C đã dùng dao đâm một người dân một nhát vào tay và cố giữ bằng được rọ nhốt chó đã trộm được để bỏ chạy. Đây là trường hợp người phạm tội hành hung nhưng không nhằm mục đích tẩu thoát (tự giải thoát cho mình mà không cần tài sản nữa như trường hợp thứ nhất và trường hợp thứ hai) mà nhằm giữ bằng được tài sản. Nếu người phạm tội sau khi đã trộm được tài sản, bị đuổi bắt hoặc đã bị bắt nhưng cố tình giữ tài sản bằng cách hành hung người khác thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản. Trường hợp này, khoa học luật hình sự gọi là chuyển hoá từ tội trộm cắp tài sản sang tội cướp tài sản (đầu trộm đuôi cướp). Như vậy, trường hợp trên của C sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Cướp tài sản” theo Điều 133 BLHS (vì C đã có hành vi dùng vũ lực nhằm giữa bằng được số chó đã trộm được) chứ không phải là tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 138 BLHS. Theo như hiểu biết của bản thân thì trên thực tế những trường hợp như thế này rất nhiều, các đối tượng bắt trộm chó rất liều lĩnh và manh động, sẵn sàn chống trả, dùng vũ lực với những người truy đuổi nhằm giữ bằng được những chú chó mà họ bắt trộm được. Tuy nhiên chưa thấy đối tượng nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản mà các cơ quan tiến hành tố tụng mới chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản, thậm chí là đối tượng chỉ bị xử phạt hành chính.

Loại tội phạm này đã và đang diễn ra hết sức phức tạp gây phẫn uất trong quần chúng nhân dân. Nó không chỉ là hành vi chiếm đoạt tài sản mà rất nhiều trường hợp còn gây thương tích và có cả trường hợp đánh chết chủ sở hữu tài sản. Những hành vi đó là rất nguy hiểm và có tính chất nghiêm trọng, gây mất trật tự trị, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân nên cần phải được xử lý một cách nghiêm minh. Các cơ quan tiến hành tố tụng cần xem xét kỹ lưỡng về hành vi của các đối tượng để xử lý đúng với từng trường hợp cụ thể, có trường hợp thì truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 138 BLHS nhưng cũng có trường hợp phải truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Cướp tài sản” theo Điều 133 BLHS mới có tính răn đe, trừng trị, phòng ngừa đối với loại tội phạm này để bảo vệ cho tài sản của công dân và trả lại sự bình yên cho làng quê, khối phố.

Hoàng Minh Tiến

Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Bình

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: