Thứ năm 11/12/2025 13:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Truất quyền hưởng di sản - Những vướng mắc trong hoạt động công chứng

Truất quyền hưởng di sản - Những vướng mắc trong hoạt động công chứng

Tóm tắt: Bài viết bàn về những vướng mắc pháp luật liên quan đến truất quyền hưởng di sản trong thực tế hoạt động công chứng và đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật trong lĩnh vực này.

Abstract: The article discusses the legal problems related to the deprivation of the right to inherit in the practice of notarization and proposes to improve the legal regulations in this field.

Nghiên cứu các quy định về truất quyền thừa kế tại Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 và Bộ luật Dân sự các năm 1995, 2005 và 2015, nhóm tác giả thấy không có nhiều sự khác biệt, các nhà làm luật đều quy định truất quyền hưởng di sản là quyền của người lập di chúc và không quy định về khái niệm, hậu quả pháp lý của việc truất quyền hưởng di sản. Điều này là nguyên nhân dẫn đến những vướng mắc của các công chứng viên khi giải quyết các việc công chứng liên quan đến thừa kế.

1. Những vướng mắc khi áp dụng các quy định của pháp luật về truất quyền hưởng di sản thừa kế

Thứ nhất, không thống nhất trong cách thể hiện việc truất quyền hưởng di sản trong nội dung của di chúc.

Theo quy định tại Điều 609 Bộ luật Dân sự năm 2015, căn cứ để xác định người thừa kế là theo pháp luật hoặc theo di chúc. Thừa kế theo pháp luật có ba hàng thừa kế, việc xác định ba hàng thừa kế theo pháp luật dựa vào các mối quan hệ: Hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng. Hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế khi ở hàng trước không còn ai do đã chết, không có quyền hưởng di sản thừa kế, bị truất quyền hưởng di sản thừa kế hoặc từ chối nhận di sản[1].

Người thừa kế theo di chúc sẽ là người được người lập di chúc chỉ định trong di chúc. Do vậy, những người thừa kế theo pháp luật hoàn toàn có thể không được công nhận là người thừa kế khi người lập di chúc không chỉ định họ là người thừa kế. Trong trường hợp này, những người pháp luật quy định là người thừa kế, nhưng người lập di chúc không chỉ định được hưởng di sản những người thừa kế này có phải là người bị truất quyền hưởng di sản hay không?

Ví dụ: Ông B có vợ là bà C (bà C đã chết). Hai vợ, chồng ông B, bà C có 05 người con đẻ, tất cả đều đã trưởng thành và có “công ăn việc làm” đầy đủ. Hiện tại, ông B là chủ sở hữu quyền sử dụng đất đối với thửa đất có diện tích 2.000 m2 tại tỉnh X. Nay, ông C lập di chúc với nguyện vọng: Sau khi ông chết, toàn bộ quyền sử dụng đất này ông để lại cho bạn là ông D và ông E; ông muốn truất quyền được hưởng di sản của 05 người con. Ông đến tổ chức hành nghề công chứng để lập di chúc. Khi thể hiện nội dung truất quyền hưởng di sản của 05 người con vào di chúc theo nguyện vọng của ông B, đã có các cách xử lý khác nhau của công chứng viên. Cụ thể:

(i) Cách thứ nhất: Trong nội dung của di chúc ngoài việc ghi nhận rõ ông D và ông E là người thừa kế thì sẽ ghi nhận cụ thể nội dung: Truất quyền hưởng di sản của 05 người con. Công chứng viên lựa chọn cách thể hiện này cho rằng khi người lập di chúc thực hiện quyền được truất quyền thừa kế đối với người thừa kế thì nội dung đó phải được thể hiện rõ ràng, cụ thể trong di chúc với nội dung “truất quyền hưởng di sản thừa kế của…”.

(ii) Cách thứ hai: Trong nội dung của di chúc chỉ cần chỉ định rõ việc ông D và ông E là người thừa kế mà không cần ghi nhận cụ thể nội dung truất quyền hưởng di sản đối với 05 người con là đã đủ cơ sở để xác định 05 người con bị truất quyền hưởng di sản. Những công chứng viên lựa chọn cách ghi nhận này cho rằng việc ông B không chỉ định 05 người con là người thừa kế theo nội dung của di chúc là ông B đã gián tiếp truất quyền hưởng di sản thừa kế của các con. Bởi vì, không phải cứ sử dụng thuật ngữ “truất quyền” thì mới coi là truất quyền hưởng thừa kế mà việc truất quyền thừa kế có thể thực hiện bằng việc người lập di chúc không chỉ định một người nào đó, thuộc diện thừa kế theo pháp luật, là người thừa kế thì người này đã thuộc diện bị người lập di chúc truất quyền hưởng di sản. Bên cạnh đó, Điều 631 Bộ luật Dân sự năm 2015 khi quy định những nội dung chủ yếu của di chúc cũng không quy định nội dung truất quyền hưởng di sản là một trong những nội dung chủ yếu của di chúc[2]. Vì vậy, theo quan điểm của các công chứng viên này, việc người thừa kế theo pháp luật không được người lập di chúc chỉ định là người thừa kế đã bao hàm việc truất quyền hưởng di sản.

Trên thực tế, các công chứng viên có cách làm khác nhau do khoản 1 Điều 626 Bộ luật Dân sự năm 2015 có đưa ra quy định truất quyền hưởng di sản là quyền của người lập di chúc, nhưng không đưa ra quy định cụ thể thế nào là truất quyền hưởng di sản. Việc truất quyền hưởng di sản phải được thể hiện như thế nào trong di chúc?

Theo quan điểm của nhóm tác giả, việc truất quyền hưởng di sản phải được người lập di chúc thể hiện rõ ràng, cụ thể trong nội dung của di chúc. Không thể coi việc người lập di chúc không chỉ định người thừa kế theo pháp luật là người thừa kế trong di chúc thì có nghĩa là đã truất quyền hưởng di sản thừa kế của người đó. Bởi, việc chỉ định người thừa kế là quyền của người lập di chúc. Khi chỉ định người thừa kế, người lập di chúc có thể chỉ định bất cứ cá nhân hoặc tổ chức nào mà không bắt buộc phải lựa chọn trong số những người thừa kế theo pháp luật. Quy định này là tôn trọng quyền định đoạt của chủ sở hữu tài sản. Bên cạnh đó, việc xác định người thừa kế theo pháp luật là chỉ được áp dụng đối với trường hợp không có di chúc, di chúc không hợp pháp, di chúc không có hiệu lực pháp luật[3]… Do vậy, nếu di chúc rơi vào một trong những trường hợp này, người thừa kế theo pháp luật sẽ được xác định là người được hưởng di sản thừa kế.

Vì thế, nếu xác định việc không chỉ định người thừa kế theo pháp luật là người thừa kế thuộc trường hợp bị truất quyền thừa kế là không phù hợp với quy định tại Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Thứ hai, người thừa kế không được hưởng di sản có phải là trường hợp bị truất quyền thừa kế.

Khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định người không được quyền hưởng di sản, theo nhóm tác giả, đây là những trường hợp mà những người thừa kế bị pháp luật tước đi quyền được hưởng di sản thừa kế. Tuy nhiên, pháp luật cũng cho phép người thừa kế khi thuộc một trong các trường hợp theo quy định tại Điều 621 Bộ Luật Dân sự năm 2015 vẫn được hưởng di sản nếu được người để lại di sản biết những hành vi trên nhưng vẫn chỉ định họ là người thừa kế theo di chúc[4]. Như vậy, việc pháp luật tước quyền hưởng di sản của người thừa kế sẽ không còn ý nghĩa khi người lập di chúc vẫn cho quyền được hưởng di sản thừa kế. Quy định này phù hợp với tinh thần tôn trọng ý chí của các chủ thể trong giao dịch dân sự được ghi nhận tại Điều 1 và Điều 3 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Vậy, việc pháp luật tước quyền được hưởng di sản của người thừa kế có thuộc trường hợp bị truất quyền hưởng di sản hay không? Về vấn đề này có các quan điểm khác nhau như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Những trường hợp không được hưởng di sản là một trong những trường hợp bị truất quyền thừa kế, bởi vì, truất quyền thừa kế là việc người lập di chúc hoặc pháp luật tước đi quyền được hưởng di sản của người thừa kế[5]. Như vậy, theo quan điểm này thì quyền truất quyền hưởng di sản thuộc về người lập di chúc hoặc theo pháp luật, quy định này phù hợp với hai chế định về thừa kế là thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc.

Quan điểm thứ hai cho rằng: Những trường hợp không được hưởng di sản thừa kế không phải là trường hợp truất quyền. Theo quan điểm này, truất quyền thừa kế là việc người để lại di sản thừa kế không muốn để lại phần tài sản của mình cho một người nào đó và ý chí này được ghi vào di chúc hợp pháp và đây là quyền của người để lại di chúc[6]. Quyền không cho người khác được hưởng di sản chỉ thuộc về chủ sở hữu tài sản, tức là chỉ thuộc về người lập di chúc. Việc pháp luật quy định những trường hợp không được hưởng di sản của người thừa kế bản chất là pháp luật tước đi quyền được hưởng di sản của họ chứ không phải là truất quyền hưởng di sản.

Có sự không thống nhất khi xác định người không được quyền hưởng di sản thừa kế, nguyên nhân là do quy định của pháp luật chưa rõ ràng về khái niệm truất quyền hưởng di sản. Đối chiếu với quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về hai vấn đề này, nhóm tác giả cho rằng, việc người lập di chúc truất quyền hưởng di sản của một người và pháp luật không cho phép một người được hưởng di sản có điểm chung đó là đều có một hậu quả pháp lý là không có quyền được hưởng di sản thừa kế mà người chết để lại. Điểm khác nhau cơ bản của hai trường hợp này là: Truất quyền hưởng di sản thì sẽ do người lập di chúc quyết định. Còn người không được quyền hưởng di sản do pháp luật quy định. Do vậy, nếu hiểu truất quyền hưởng di sản theo nghĩa hẹp, đó là quyền chỉ thuộc về người lập di chúc thì trường hợp người không được quyền hưởng di sản thừa kế được quy định tại Điều 621 Bộ luật Dân sự năm 2015 không phải là trường hợp truất quyền hưởng di sản thừa kế. Còn nếu hiểu truất quyền hưởng di sản theo nghĩa rộng, đó là: Truất quyền hưởng di sản là trường hợp người lập di chúc hoặc pháp luật tước đi quyền hưởng di sản của người thừa kế thì trường hợp người không được quyền hưởng di sản thừa kế được quy định tại Điều 621 Bộ luật Dân sự năm 2015 là trường hợp truất quyền hưởng di sản.

Thứ ba, pháp luật không quy định rõ ràng về hậu quả pháp lý của truất quyền hưởng di sản.

Một là, người bị truất quyền hưởng di sản là cha, mẹ, vợ, chồng, con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động. Theo quy định tại khoản 1 Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, vậy hiểu thế nào là “không cho hưởng di sản”? Người lập di chúc không cho một người nào đó hưởng di sản được hiểu là người lập di chúc không chỉ định người đó là người thừa kế. Như vậy, những người là con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên không có khả năng lao động không được người lập di chúc chỉ định là người thừa kế chính là việc người lập di chúc không cho họ được hưởng di sản.

Vậy, việc người lập di chúc ghi nhận rõ việc truất quyền hưởng di sản của những người là con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên không có khả năng lao động có được coi là trường hợp “không cho hưởng di sản”?. Liên quan đến vấn đề này, trong hoạt động công chứng hiện nay có hai quan điểm xử lý khác nhau.

Quan điểm xử lý thứ nhất cho rằng: Quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ áp dụng cho trường hợp mà người lập di chúc không chỉ định và không truất quyền hưởng di sản của những chủ thể là cha, mẹ, vợ, chồng, con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động. Do vậy, nếu người lập di chúc đã truất quyền thừa kế của những người này, thì những người này không thuộc trường hợp được quy định tại Điều 644, nên sẽ không được xác định là người thừa kế. Những công chứng viên theo quan điểm này, khi giải quyết những việc thừa kế có con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên không có khả năng lao động mà người lập di chúc truất quyền hưởng di sản thì các công chứng viên xác định những người bị truất quyền sẽ không được hưởng thừa kế.

Quan điểm thứ hai cho rằng: Những người là cha, mẹ, vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động của người lập di chúc dù bị người lập di chúc truất quyền hưởng di sản, thì họ vẫn được hưởng di sản với tư cách là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc theo quy định tại Điều 644. Khi giải quyết việc công chứng về thừa kế, các công chứng viên theo quan điểm này vẫn xác định con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên không có khả năng lao động trong trường hợp người lập di chúc truất quyền hưởng di sản thừa kế trong di chúc thì họ vẫn là người thừa kế và được hưởng phần di sản với phần được hưởng bằng 2/3 một suất mà theo quy định pháp luật họ được hưởng.

Hai cách hiểu khác nhau dẫn đến hai cách xử lý khác nhau trong thực tế, cho dù các công chứng viên xử lý theo cách nào thì cũng có những điểm chưa hợp lý. Nếu hiểu theo cách thứ nhất để xác định người thừa kế thì ý chí của người lập di chúc được bảo đảm thực hiện nhưng lại không phù hợp với quy định của Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015. Bởi, điều luật này quy định về điều kiện của những người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc là “không được người lập di chúc cho hưởng di sản”. Việc người lập di chúc truất quyền hưởng di sản của những người là cha, mẹ, vợ, chồng, con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động, chính là việc người lập di chúc không cho họ được hưởng di sản. Như vậy, nếu xác định những người này không phải là người được hưởng di sản thì không đúng với quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015. Ngược lại, nếu hiểu theo quan điểm thứ 2, thì bảo đảm được quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 được thực hiện nhưng ý chí của người lập di chúc lại không được bảo đảm thực hiện. Đây chính là một vướng mắc của các công chứng viên khi xác định chủ thể của giao dịch khai nhận di sản hoặc thỏa thuận phân chia di sản trong trường hợp có di chúc và nội dung của di chúc có thể hiện việc truất quyền hưởng di sản đối với một trong các đối tượng thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc là: Cha, mẹ, vợ, chồng, con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động của người lập di chúc. Lý do dẫn đến vướng mắc này là do pháp luật chưa quy định rõ về những trường hợp được truất quyền và hậu quả pháp lý của việc truất quyền hưởng di sản.

Hai là, di chúc không có hiệu lực do người được chỉ định thừa kế chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người thừa kế mà nội dung của di chúc có việc truất quyền được hưởng di sản. Quay trở lại ví dụ tại phần thứ nhất, với giả định cả hai người được chỉ định thừa kế là ông D và ông E chết trước ông B. Trong trường hợp này, di chúc sẽ áp dụng điểm a khoản 2 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định di chúc không có hiệu lực khi “người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc”. Trong trường hợp này, di chúc không còn người thừa kế. Vì vậy, di chúc không có hiệu lực. Vậy di chúc không có hiệu lực có đồng nghĩa với việc nội dung 05 người con của ông B bị truất quyền hưởng di sản thừa kế cũng không có hiệu lực hay không? Hiện nay, liên quan đến tình huống này, quan điểm của các công chứng viên khi thực hiện chứng nhận các giao dịch về thừa kế cũng có quan điểm khác nhau không thống nhất.

Quan điểm nhứ nhất cho rằng: Di chúc không có hiệu lực thì nội dung về truất quyền hưởng di sản cũng không có hiệu lực. Và như vậy, khi chia di sản của ông B theo pháp luật thì 05 người con của ông B sẽ là người thừa kế theo pháp luật của ông B.

Quan điểm thứ hai cho rằng: Di chúc chỉ không có hiệu lực đối với phần chia di sản và phần chỉ định người thừa kế, còn nội dung về truất quyền hưởng di sản vẫn có hiệu lực pháp luật. Do đó, những công chứng viên theo quan điểm này cho rằng, 05 người con của ông B vẫn không được công nhận là người thừa kế do đã bị ông B truất quyền.

Như vậy, hai cách hiểu và vận dụng quy định của pháp luật về truất quyền đã cho ra hai hướng xử lý hoàn toàn khác nhau, xung đột trong cách xử lý này là do pháp luật dân sự hiện hành chưa đưa ra quy định cụ thể về điều kiện của việc truất quyền có hiệu lực.

2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về truất quyền hưởng di sản

Thứ nhất, bên cạnh việc pháp luật quy định truất quyền hưởng di sản là quyền của người lập di chúc, pháp luật cần có quy định cụ thể thế nào là “truất quyền hưởng di sản”. Theo nhóm tác giả, truất quyền hưởng di sản được hiểu là: Việc người lập di chúc không cho phép một người nào đó được hưởng di sản của mình. Việc truất quyền hưởng di sản phải được thể hiện cụ thể trong nội dung của di chúc.

Thứ hai, để ý chí của người lập di chúc tuyên bố truất quyền hưởng thừa kế của ai đó trong bản di chúc được bảo đảm thực hiện trong thực tế, pháp luật cần đưa ra quy định cụ thể về phạm vi, điều kiện và hậu quả pháp lý của việc truất quyền hưởng di sản để những người áp dụng pháp luật có thể phân biệt truất quyền hưởng di sản khác với việc không được hưởng di sản thừa kế và khác với trường hợp không được chỉ định là người thừa kế trong di chúc.

Vì vậy, nhóm tác giả đề nghị cần bổ sung một số điều khoản riêng quy định về truất quyền thừa kế, phạm vi và điều kiện thực hiện truất quyền hưởng di sản và hậu quả pháp lý của truất quyền hưởng di sản vào nội dung của phần thừa kế của Bộ luật Dân sự.

ThS. Nguyễn Thị Lan Phương
Công chứng viên, Văn phòng Công chứng Nguyễn Hương, Thành phố Hà Nội
NCS.ThS. Lại Thị Bích Ngà
Phó Trưởng Khoa Đào tạo Công chứng viên và các chức danh khác, Học viện Tư pháp



[1]. Khoản 3 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2]. Khoản 1 Điều 631 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3]. Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4]. Khoản 2 Điều 621 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[5]. Đinh Thùy Dung, Truất quyền thừa kế là gì? Truất quyền hưởng di sản theo Bộ luật Dân sự năm 2015, https://luatduonggia.vn/truat-quyen-huong-di-san-cua-nguoi-thua-ke, truy cập ngày 17/12/2021.

[6]. Nguyễn Hương, Trường hợp nào người thừa kế bị truất quyền hưởng di sản, https://luatvietnam.vn/dan-su/khi-nao-bi-truat-quyen-thua-ke, truy cập ngày 17/12/1021.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Theo dõi chúng tôi trên: