Thứ bảy 20/06/2026 08:28
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tự do lựa chọn mô hình kinh doanh - Biểu hiện của quyền tự do kinh doanh

Bài viết này bàn luận về quyền tự do lựa chọn mô hình kinh doanh và những vấn đề có liên quan mà các chủ thể đầu tư cần phải quan tâm, cân nhắc khi lựa chọn loại hình doanh nghiệp.


1. Lựa chọn loại hình kinh doanh là quyền của chủ sở hữu doanh nghiệp

Nếu nhìn hoạt động sản xuất kinh doanh như là một chu trình của sự vận động không ngừng của con người, thì việc lựa chọn loại hình cho hoạt động kinh doanh là hành vi đầu tiên của người chủ đầu tư trong chuỗi các hành vi thực hiện quyền tự do kinh doanh của họ. Hiến pháp năm 2013 đã tái khẳng quyền tự do kinh doanh của Hiến pháp năm 1992 trước đây ở trình độ cao hơn, khẳng định rõ hơn quyền con người và quyền cơ bản của công dân là “tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”. Quy định này hàm chứa hai ý quan trọng: (i) Mọi người có quyền tự do kinh doanh; (ii) Giới hạn của quyền tự do này là những gì luật cấm. Mặc dù là quyền con người, nhưng tự do kinh doanh là hành vi có rất nhiều liên quan đến quyền và lợi ích của người khác, nên việc thực hiện nó có những giới hạn nhất định.

Trong năm đầu tiên thể chế hóa Hiến pháp, nổi bật trong số những đạo luật được thông qua năm 2014 là Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) và Luật Đầu tư (sửa đổi) - hai đạo luật mang tính định khung, tạo điều kiện mở ra bước tiến mạnh mẽ để cải thiện môi trường đầu tư và khởi nghiệp của đất nước. Ngay từ thời điểm xây dựng Luật Đầu tư (sửa đổi), Chính phủ đã yêu cầu các bộ, cơ quan quản lý nhà nước về ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện chủ động rà soát, đánh giá lại các yêu cầu quản lý, hoàn thiện danh mục này theo hướng mở rộng quyền tự do kinh doanh của người dân và doanh nghiệp. Đó là hướng chỉ đạo nhằm đảm bảo hệ thống pháp luật về đầu tư của nước ta phù hợp với yêu cầu hội nhập về kinh tế quốc tế và quán triệt tinh thần về quyền tự do kinh doanh của Hiến pháp năm 2013. Sửa hai Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp là lõi của phát triển, Việt Nam có hội nhập được hay không, doanh nghiệp có cạnh tranh được hay không cũng phụ thuộc vào việc sửa hai luật này.

Nội dung cơ bản nhất được thay đổi trong Luật Đầu tư (sửa đổi), Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) chính là phương pháp tiếp cận. Nếu như trước đây áp dụng biện pháp “chọn - cho”, tức là trong luật quy định những lĩnh vực được phép đầu tư kinh doanh, thì lần này, luật sửa đổi được thay bằng phương pháp minh bạch và rõ ràng hơn là “chọn - bỏ”. Đó là quy định cái gì cấm, cái gì hạn chế thì ghi vào trong luật. Điều này đã thể hiện đúng tinh thần Hiến pháp năm 2013 về quyền tự do kinh doanh. Những gì luật pháp không cấm thì người dân, doanh nghiệp được tự do đầu tư, kinh doanh[1]. Luật Đầu tư (sửa đổi) cũng đơn giản hóa mọi thủ tục hành chính theo hướng, tất cả các doanh nghiệp Việt Nam không cần được cấp giấy chứng nhận đầu tư. Họ được quyền tự do kinh doanh theo những lĩnh vực mà luật pháp đã quy định và cho phép. Luật Đầu tư (sửa đổi) cấm đầu tư kinh doanh trong 06 ngành nghề sau: Kinh doanh ma túy; hóa chất, khoáng vật cấm; động, thực vật hoang dã, nguy cấp, quý hiếm có nguồn gốc từ tự nhiên; mại dâm; mua, bán người, mô, bộ phận cơ thể người và các hoạt động kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên người. Trong 267 lĩnh vực kinh doanh có điều kiện, Chính phủ sẽ quy định những loại ngành nghề nào phải được cấp phép[2]. Việc cấp phép sẽ được hạn chế ở mức tối thiểu, còn lại là những ngành nghề người dân không cần xin phép mà tự các cơ quan có thẩm quyền phải có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát.

Khoản 25 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: “Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp là một trong những hình thức tổ chức lại doanh nghiệp. Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp chính là quyền tái cấu trúc loại hình doanh nghiệp, chuyển đổi từ loại hình doanh nghiệp này sang loại hình doanh nghiệp khác để thuận lợi phát triển kinh doanh, phù hợp với tình hình tài chính, nhân lực hiện tại của công ty. Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp này có một ý nghĩa cho phép nhà đầu tư có cơ hội lựa chọn loại hình doanh nghiệp phù hợp sau một thời gian hoạt động. Có thể do lúc đầu họ chọn chưa đúng hoặc do yêu cầu kinh doanh mà họ phải chuyển sang loại hình phù hợp không. Lợi ích vô cùng quan trọng là chuyển sang loại hình phù hợp nhưng vẫn đảm bảo tính liên tục của hoạt động kinh doanh. Do những ưu điểm đó mà việc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp cũng đang diễn ra ngày càng phổ biến trong các công ty hiện nay.

2. Lựa chọn loại hình doanh nghiệp không là quyền tuyệt đối mà là quyền có giới hạn

Mặc dù là quyền tự do, nhưng giống như nhiều quyền khác, quyền lựa chọn loại hình doanh nghiệp không phải là quyền tuyệt đối. Có nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến quyết định chọn lựa loại hình doanh nghiệp. Các tổ chức, cá nhân quyết định thành lập doanh nghiệp cần cân nhắc các yếu tố này để hiểu vì sao nên chọn loại hình doanh nghiệp này, mà không phải loại hình khác, từ đó, đưa ra quyết định loại hình kinh doanh phù hợp. Không có cơ sở để khẳng định rằng, việc chuyển đổi hình thức công ty hoàn toàn không ảnh hưởng đến bất kỳ cá nhân, tổ chức, cộng đồng. Ở mức độ nhất định, pháp luật đã quy định những yếu tố hạn chế đối với từng trường hợp chuyển đổi doanh nghiệp.

Khi thực hiện hiện quyền lựa chọn loại hình doanh nghiệp, các chủ sở hữu cần phải cân nhắc các yếu tố sau:

(i) Thủ tục và chi phí thành lập, vận hành doanh nghiệp

Tại thời điểm kinh doanh ban đầu, khi mô hình kinh doanh nhỏ, cần phải tiết kiệm chi phí thì chủ sở hữu có thể thành lập doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Khi doanh nghiệp phát triển và cần mở rộng hoạt động kinh doanh, chủ sở hữu có thể mời một số ít tổ chức hoặc cá nhân khác quen biết để góp thêm vốn vào công ty và tiếp thu kinh nghiệm kinh doanh từ các tổ chức hoặc cá nhân mới góp vốn. Trong trường hợp này, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là loại hình doanh nghiệp phù hợp. Khi công ty ngày càng phát triển và có nhu cầu huy động vốn thông qua việc phát hành chứng khoán thì công ty trách nhiệm hữu hạn có thể được chuyển đổi thành công ty cổ phần để đáp ứng nhu cầu trên. Công ty đại chúng kể cả công ty đại chúng mô hình quy mô lớn là bước phát triển cuối cùng của doanh nghiệp khi đã phát triển tới một quy mô nhất định.

Không tính đến yếu tố nguồn vốn, thì thủ tục thành lập các loại hình doanh nghiệp về cơ bản không có gì khác nhau. Chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân chỉ cần gửi hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp để xin giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Đối với công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần so với doanh nghiệp tư nhân có thêm dự thảo Điều lệ công ty. Thủ tục thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần phức tạp hơn so với doanh nghiệp trong nước, nên chi phí cũng tốn kém hơn và cơ chế vận hành cũng phức tạp. Doanh nghiệp tư nhân có cơ cấu tổ chức quản lý đơn giản nhất, chủ doanh nghiệp có thể quản lý doanh nghiệp, do vậy, chi phí quản lý doanh nghiệp tư nhân cũng ít tốn kém hơn và cơ chế vận hành cũng đơn giản hơn. Vì mọi vấn đề liên quan đều do cá nhân chủ sở hữu quyết định.

(ii) Sự chấp nhận của các thành viên chủ sở hữu công ty

Nếu là chuyển đổi loại hình kinh doanh phải có sự đồng thuận của các thành viên. Đối với trường hợp chuyển đổi tự nguyện, việc chuyển đổi hoàn toàn do chủ sở hữu công ty quyết định. Căn cứ chuyển đổi chính là quyết định của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng thành viên… tùy thuộc vào loại hình công ty. Đối với trường hợp chuyển đổi bắt buộc, căn cứ chuyển đổi chính là sự kiện pháp lý làm thay đổi kết cấu công ty dẫn đến công ty không đáp ứng được các điều kiện bắt buộc mà nhà lập pháp đã đề ra.

(iii) Tư cách pháp nhân và trách nhiệm của chủ sở hữu doanh nghiệp

Doanh nghiệp có nghĩa vụ rất lớn khi doanh nghiệp phát triển và huy động vốn dưới hình thức phát triển trái phiếu, các chứng khoán nợ khác và vay ngân hàng. Nợ vay dưới hình thức phát hành chứng khoán nợ và vay ngân hàng có thể lớn gấp nhiều lần vốn chủ sở hữu. Nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp cũng có thể phát sinh liên quan đến trách nhiệm đối với người tiêu dùng. Nhất là đối với doanh nghiệp sản xuất các đồ dùng như thức ăn, đồ uống và vật dụng gia đình[3]. Trong những trường hợp này, chủ sở hữu nên cân nhắc thành lập doanh nghiệp có tư cách pháp nhân để chủ doanh nghiệp chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn đã góp hoặc cam kết góp vào doanh nghiệp. Nói cách khác, nếu chủ sở hữu đã góp đủ vốn theo cam kết thì chủ sở hữu không còn bất kỳ trách nhiệm gì đối với các nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp đối với chủ nợ, người tiêu dùng hoặc bất kỳ bên thứ ba nào khác.

Từ giác độ trách nhiệm của chủ sở hữu đối với nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp với chủ nợ, người tiêu dùng hoặc bên thứ ba, hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần ưu việt hơn doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh. Doanh nghiệp tư nhân không được coi là không có pháp nhân và chủ doanh nghiệp không phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp bằng toàn bộ tài sản của mình. Mặc dù có tư cách pháp nhân, nhưng công ty hợp danh cũng có trách nhiệm vô hạn đối với nghĩa vụ của công ty. Hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có lợi hơn doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh, vì các thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn và cổ đông có trách nhiệm hữu hạn.

(iv) Số lượng chủ sở hữu doanh nghiệp

Số lượng chủ sở hữu là một yếu tố quan trọng trong các yếu tố cân nhắc khi lựa chọn loại hình kinh doanh. Nhiều chủ sở hữu chỉ muốn thành lập và quản lý một mình, không có sự tham gia các chủ sở hữu khác. Khi doanh nghiệp phát triển và cần nhiều chủ sở hữu góp vốn thì doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu là không thể tránh khỏi. Chủ sở hữu đôi khi cũng muốn tên doanh nghiệp phản ánh tên của mình. Nếu chủ sở hữu chỉ muốn tự mình quản lý doanh nghiệp và muốn giữ tên doanh nghiệp thì hình thức phù hợp nhất là doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có số lượng chủ sở hữu tối thiểu là 02 thành viên và tối đa là 50 thành viên. Công ty hợp danh có số lượng chủ sở hữu tối thiểu là 02 thành viên hợp danh và không hạn chế số lượng thành viên tối đa. Nếu chọn công ty cổ phần thì phải có ít nhất 03 cổ đông và không hạn chế số lượng thành viên tối đa. Công ty đại chúng và công ty đại chúng quy mô lớn thường có trên 100 cổ đông, không có giới hạn số cổ đông, nên có thể có tới hàng trăm, hàng nghìn, hàng triệu cổ đông. Nếu các chủ sở hữu doanh nghiệp muốn hạn chế số lượng hoặc giới hạn ở những cá nhân hoặc tổ chức mà họ biết để dễ dàng kiểm soát, thì hình thức công ty cổ phần, đặc biệt là công ty đại chúng, đại chúng quy mô lớn không là lựa chọn phù hợp.

(v) Việc sửa đổi tên doanh nghiệp

Khi chuyển đổi loại hình doanh nghiệp thường gắn liền với việc chuyển đổi tên của doanh nghiệp. Trên thực tế, việc đặt tên doanh nghiệp theo tên chủ sở hữu doanh nghiệp cho doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh thông dụng hơn công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và công ty đại chúng. Hầu như không có công ty đại chúng nào có tên doanh nghiệp đặt theo tên cổ đông sáng lập hoặc kiểm soát công ty. Trong một doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, thông thường, tên doanh nghiệp có tính đại diện hoặc biểu trưng cho ngành nghề, sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp. Vì vậy, nếu chủ sở hữu muốn giữ tên doanh nghiệp giống tên mình thì hình thức phù hợp nhất là doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Theo quy định của Điều 42 Luật Doanh nghiệp năm 2014, doanh nghiệp không được đặt tên trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp đã đăng ký…

(vi) Cơ cấu tổ chức quản lý doanh nghiệp

Loại hình doanh nghiệp quyết định việc quản lý doanh nghiệp và khả năng tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, thì cơ cấu quản lý phức tạp hơn, sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý doanh nghiệp càng rõ nét hơn. Trong trường hợp chủ sở hữu không muốn từ bỏ quyền quản lý doanh nghiệp, thì hình thức doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là các loại hình phù hợp nhất, chủ sở hữu có toàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến hoạt động doanh nghiệp, đồng thời là người quản lý doanh nghiệp.

Nếu những vấn đề trên không là quan trọng, thì các hình thức khác như công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên hoặc công ty cổ phần có thể được áp dụng. Công ty hợp danh và công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có thể có nhiều thành viên và phải có hội đồng thành viên. Cơ cấu quản lý của công ty hợp danh tương đối đơn giản và các thành viên hợp danh trực tiếp tham gia vào công việc quản lý công ty. Chưa có sự tách biệt rõ ràng giữa vai trò của thành viên hợp danh với tư cách là chủ sở hữu và với tư cách là người quản lý công ty. Công ty có từ 11 thành viên trở lên bắt buộc phải có ban kiểm soát. Công ty cổ phần[4] có cơ cấu quản lý phức tạp nhất trong các loại hình doanh nghiệp, bao gồm đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị, ban kiểm soát và người quản lý. Trong công ty cổ phần, có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý công ty. Đặc điểm này không có trong các loại hình doanh nghiệp khác như doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh và công ty trách nhiệm hữu hạn[5].

(vii) Khả năng chuyển nhượng và bán doanh nghiệp

Trong quá trình hoạt động, chủ sở hữu có thể chuyển nhượng phần vốn góp hoặc bán doanh nghiệp. Khả năng chuyển nhượng vốn là một yếu tố quan trọng cần phải cân nhắc khi thành lập và chuyển đổi loại hình doanh nghiệp. Ở giác độ này thì hình thức công ty cổ phần là hình thức phù hợp nhất, bởi vì, chủ sở hữu tự do chuyển nhượng phần vốn của mình mà không phải thông báo và xin sự chấp nhận của người khác không phải là người sáng lập công ty. Chủ doanh nghiệp tư nhân không được chuyển nhượng phần vốn của mình cho người khác, tuy nhiên, có thể bán cho người khác nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác mà doanh nghiệp chưa thực hiện, trừ trường hợp người mua và bán có thỏa thuận khác. Trong công ty hợp danh, các thành viên hợp danh chỉ được phép chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho bên thứ ba sau khi đã chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần góp của họ với cùng điều kiện. Đối với công ty cổ phần, kể cả công ty đại chúng, các cổ đông phổ thông được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình, tuy nhiên, các cổ đông sáng lập bị hạn chế chuyển nhượng cổ phẩn phổ thông đăng ký ban đầu cho bên thứ ba trong vòng 03 năm kể từ khi thành lập công ty, trừ khi có sự chấp thuận của đại hội đồng cổ đông. Việc chuyển nhượng một phần vốn góp và cổ phần trong công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần vẫn tiếp tục hoạt động bình thường sau khi chuyển nhượng. Việc bán doanh nghiệp tư nhân hoặc chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên hợp danh trong công ty hợp danh thường dẫn đến việc đổi tên doanh nghiệp.

(viii) Khả năng huy động vốn

Trong hoạt động kinh doanh, vốn là một trong những yếu tố quyết định cho việc mở rộng và phát triển doanh nghiệp. Doanh nghiệp không thể chỉ dựa duy nhất vào nguồn vốn góp của chủ sở hữu để hoạt động phát triển kinh doanh. Đến một giai đoạn phát triển nhất định doanh nghiệp cần huy động các nguồn vốn khác, chủ yếu thông qua việc phát hành cổ phiếu hoặc vay ngân hàng. Tuy nhiên, không phải loại hình nào của doanh nghiệp cũng có thể được phép phát hành chứng khoán. Doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh không được phép phát hành chứng khoán. Công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ được phép phát hành trái phiếu thường, không thể chuyển đổi trái phiếu thành phần góp vốn và không có cơ sở pháp lý rõ ràng cho phép công ty trách nhiệm hữu hạn phát hành trái phiếu chuyển đổi hoặc bất kỳ loại hình chứng khoán nào khác. So với công ty cổ phần, khả năng huy động vốn của các loại hình doanh nghiệp khác bị hạn chế hơn rất nhiều. Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp có lợi thế nhất trong huy động vốn, vì vậy, về lâu dài, để thuận lợi trong việc huy động vốn, các loại hình doanh nghiệp khác nên chuyển thành công ty cổ phần.

(ix) Nghĩa vụ công bố công khai thông tin liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp

Một vấn đề mà chủ sở hữu rất quan tâm là việc bảo vệ bí mật thông tin cá nhân và thông tin doanh nghiệp. Khi mà doanh nghiệp và chủ sở hữu không có nghĩa vụ công bố thông tin ra công chúng, thì tính bảo mật được duy trì. Khi doanh nghiệp và cổ đông có nghĩa vụ công bố thông tin ra công chúng, thì chủ sở hữu phải chấp nhận thực tế là công chúng có thể biết các thông tin liên quan đến doanh nghiệp và chủ sở hữu. Tuy nhiên, việc công khai hóa thông tin và minh bạch hóa có tính hai mặt. Mức độ minh bạch và công khai hóa thông tin giúp cho công ty gia tăng uy tín kinh doanh, tạo dựng được niềm tin với khách hàng và đối tác, giúp cho hoạt động kinh doanh tốt hơn.

(x) Quyền và lợi ích của bên thứ ba

Việc chuyển đổi hình thức công ty tác động đến người thứ ba, trong đó có người lao động. Thực tế cho thấy, việc chuyển đổi hình thức công ty thường gắn liền với việc thay đổi quy mô sản suất, ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh… và những thay đổi này luôn ảnh hưởng hoặc có nguy cơ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người lao động và lớn hơn là vấn đề anh sinh xã hội. Quyền lợi của chủ nợ cũng có thể bị ảnh hưởng hoặc nguy cơ bị ảnh hưởng khi công ty thay đổi hình thức, nhất là việc thay đổi hình thức từ công ty có chế độ trách nhiệm vô hạn sang công ty có chế độ trách nhiệm hữu hạn... Từ đó, đòi hỏi pháp luật phải có các biện pháp thích hợp để kiểm soát việc chuyển đổi hình thức công ty nhằm bảo đảm lợi ích cho người thứ ba. Các nhà lập pháp cần đặt ra các điều kiện để loại trừ hoặc hạn chế ảnh hưởng của việc chuyển đổi hình thức công ty đến trật tự công, lợi ích của người thứ ba.

Tóm lại, mặc dù là biểu hiện của quyền tự do kinh doanh, song lựa chọn loại hình doanh nghiệp không phải là quyền tuyệt đối. Vì vậy, khi thực hiện quyền lựa chọn mô hình kinh doanh, các chủ thể đầu tư cần cân nhắc lựa chọn đúng, hợp lý loại hình, để từ đó, giúp cho doanh nghiệp hoạt động thuận lợi và hiệu quả hơn.

ThS. Nguyễn Đăng Duy

Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội





[1]. Bùi Quang Vinh: Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư (sửa đổi) được “lột xác”, Hai quan online, 30/11/2014.

[2]. 267 ngành nghề kinh doanh có điều kiện trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp quốc gia. Danh mục này đã được sửa đổi năm 2016, rút xuống còn 243 ngành nghề kinh doanh có điều kiện.

[3]. Xem: Trương Nhật Quang, Pháp luật về doanh nghiệp - các vấn đề pháp lý cơ bản, Nxb. Dân trí 2016, tr. 82.

[4]. Chính phủ - Tờ trình Luật Danh nghiệp sửa đổi năm 2014, ngày 22/5/2014.

[5]. Xem: Trương Nhật Quang, Pháp luật về doanh nghiệp - các vấn đề pháp lý cơ bản, Nxb. Dân trí 2016, tr. 84.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: