Thứ bảy 14/03/2026 22:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tự do lựa chọn mô hình kinh doanh - Biểu hiện của quyền tự do kinh doanh

Bài viết này bàn luận về quyền tự do lựa chọn mô hình kinh doanh và những vấn đề có liên quan mà các chủ thể đầu tư cần phải quan tâm, cân nhắc khi lựa chọn loại hình doanh nghiệp.


1. Lựa chọn loại hình kinh doanh là quyền của chủ sở hữu doanh nghiệp

Nếu nhìn hoạt động sản xuất kinh doanh như là một chu trình của sự vận động không ngừng của con người, thì việc lựa chọn loại hình cho hoạt động kinh doanh là hành vi đầu tiên của người chủ đầu tư trong chuỗi các hành vi thực hiện quyền tự do kinh doanh của họ. Hiến pháp năm 2013 đã tái khẳng quyền tự do kinh doanh của Hiến pháp năm 1992 trước đây ở trình độ cao hơn, khẳng định rõ hơn quyền con người và quyền cơ bản của công dân là “tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”. Quy định này hàm chứa hai ý quan trọng: (i) Mọi người có quyền tự do kinh doanh; (ii) Giới hạn của quyền tự do này là những gì luật cấm. Mặc dù là quyền con người, nhưng tự do kinh doanh là hành vi có rất nhiều liên quan đến quyền và lợi ích của người khác, nên việc thực hiện nó có những giới hạn nhất định.

Trong năm đầu tiên thể chế hóa Hiến pháp, nổi bật trong số những đạo luật được thông qua năm 2014 là Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) và Luật Đầu tư (sửa đổi) - hai đạo luật mang tính định khung, tạo điều kiện mở ra bước tiến mạnh mẽ để cải thiện môi trường đầu tư và khởi nghiệp của đất nước. Ngay từ thời điểm xây dựng Luật Đầu tư (sửa đổi), Chính phủ đã yêu cầu các bộ, cơ quan quản lý nhà nước về ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện chủ động rà soát, đánh giá lại các yêu cầu quản lý, hoàn thiện danh mục này theo hướng mở rộng quyền tự do kinh doanh của người dân và doanh nghiệp. Đó là hướng chỉ đạo nhằm đảm bảo hệ thống pháp luật về đầu tư của nước ta phù hợp với yêu cầu hội nhập về kinh tế quốc tế và quán triệt tinh thần về quyền tự do kinh doanh của Hiến pháp năm 2013. Sửa hai Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp là lõi của phát triển, Việt Nam có hội nhập được hay không, doanh nghiệp có cạnh tranh được hay không cũng phụ thuộc vào việc sửa hai luật này.

Nội dung cơ bản nhất được thay đổi trong Luật Đầu tư (sửa đổi), Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) chính là phương pháp tiếp cận. Nếu như trước đây áp dụng biện pháp “chọn - cho”, tức là trong luật quy định những lĩnh vực được phép đầu tư kinh doanh, thì lần này, luật sửa đổi được thay bằng phương pháp minh bạch và rõ ràng hơn là “chọn - bỏ”. Đó là quy định cái gì cấm, cái gì hạn chế thì ghi vào trong luật. Điều này đã thể hiện đúng tinh thần Hiến pháp năm 2013 về quyền tự do kinh doanh. Những gì luật pháp không cấm thì người dân, doanh nghiệp được tự do đầu tư, kinh doanh[1]. Luật Đầu tư (sửa đổi) cũng đơn giản hóa mọi thủ tục hành chính theo hướng, tất cả các doanh nghiệp Việt Nam không cần được cấp giấy chứng nhận đầu tư. Họ được quyền tự do kinh doanh theo những lĩnh vực mà luật pháp đã quy định và cho phép. Luật Đầu tư (sửa đổi) cấm đầu tư kinh doanh trong 06 ngành nghề sau: Kinh doanh ma túy; hóa chất, khoáng vật cấm; động, thực vật hoang dã, nguy cấp, quý hiếm có nguồn gốc từ tự nhiên; mại dâm; mua, bán người, mô, bộ phận cơ thể người và các hoạt động kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên người. Trong 267 lĩnh vực kinh doanh có điều kiện, Chính phủ sẽ quy định những loại ngành nghề nào phải được cấp phép[2]. Việc cấp phép sẽ được hạn chế ở mức tối thiểu, còn lại là những ngành nghề người dân không cần xin phép mà tự các cơ quan có thẩm quyền phải có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát.

Khoản 25 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: “Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp là một trong những hình thức tổ chức lại doanh nghiệp. Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp chính là quyền tái cấu trúc loại hình doanh nghiệp, chuyển đổi từ loại hình doanh nghiệp này sang loại hình doanh nghiệp khác để thuận lợi phát triển kinh doanh, phù hợp với tình hình tài chính, nhân lực hiện tại của công ty. Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp này có một ý nghĩa cho phép nhà đầu tư có cơ hội lựa chọn loại hình doanh nghiệp phù hợp sau một thời gian hoạt động. Có thể do lúc đầu họ chọn chưa đúng hoặc do yêu cầu kinh doanh mà họ phải chuyển sang loại hình phù hợp không. Lợi ích vô cùng quan trọng là chuyển sang loại hình phù hợp nhưng vẫn đảm bảo tính liên tục của hoạt động kinh doanh. Do những ưu điểm đó mà việc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp cũng đang diễn ra ngày càng phổ biến trong các công ty hiện nay.

2. Lựa chọn loại hình doanh nghiệp không là quyền tuyệt đối mà là quyền có giới hạn

Mặc dù là quyền tự do, nhưng giống như nhiều quyền khác, quyền lựa chọn loại hình doanh nghiệp không phải là quyền tuyệt đối. Có nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến quyết định chọn lựa loại hình doanh nghiệp. Các tổ chức, cá nhân quyết định thành lập doanh nghiệp cần cân nhắc các yếu tố này để hiểu vì sao nên chọn loại hình doanh nghiệp này, mà không phải loại hình khác, từ đó, đưa ra quyết định loại hình kinh doanh phù hợp. Không có cơ sở để khẳng định rằng, việc chuyển đổi hình thức công ty hoàn toàn không ảnh hưởng đến bất kỳ cá nhân, tổ chức, cộng đồng. Ở mức độ nhất định, pháp luật đã quy định những yếu tố hạn chế đối với từng trường hợp chuyển đổi doanh nghiệp.

Khi thực hiện hiện quyền lựa chọn loại hình doanh nghiệp, các chủ sở hữu cần phải cân nhắc các yếu tố sau:

(i) Thủ tục và chi phí thành lập, vận hành doanh nghiệp

Tại thời điểm kinh doanh ban đầu, khi mô hình kinh doanh nhỏ, cần phải tiết kiệm chi phí thì chủ sở hữu có thể thành lập doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Khi doanh nghiệp phát triển và cần mở rộng hoạt động kinh doanh, chủ sở hữu có thể mời một số ít tổ chức hoặc cá nhân khác quen biết để góp thêm vốn vào công ty và tiếp thu kinh nghiệm kinh doanh từ các tổ chức hoặc cá nhân mới góp vốn. Trong trường hợp này, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là loại hình doanh nghiệp phù hợp. Khi công ty ngày càng phát triển và có nhu cầu huy động vốn thông qua việc phát hành chứng khoán thì công ty trách nhiệm hữu hạn có thể được chuyển đổi thành công ty cổ phần để đáp ứng nhu cầu trên. Công ty đại chúng kể cả công ty đại chúng mô hình quy mô lớn là bước phát triển cuối cùng của doanh nghiệp khi đã phát triển tới một quy mô nhất định.

Không tính đến yếu tố nguồn vốn, thì thủ tục thành lập các loại hình doanh nghiệp về cơ bản không có gì khác nhau. Chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân chỉ cần gửi hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp để xin giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Đối với công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần so với doanh nghiệp tư nhân có thêm dự thảo Điều lệ công ty. Thủ tục thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần phức tạp hơn so với doanh nghiệp trong nước, nên chi phí cũng tốn kém hơn và cơ chế vận hành cũng phức tạp. Doanh nghiệp tư nhân có cơ cấu tổ chức quản lý đơn giản nhất, chủ doanh nghiệp có thể quản lý doanh nghiệp, do vậy, chi phí quản lý doanh nghiệp tư nhân cũng ít tốn kém hơn và cơ chế vận hành cũng đơn giản hơn. Vì mọi vấn đề liên quan đều do cá nhân chủ sở hữu quyết định.

(ii) Sự chấp nhận của các thành viên chủ sở hữu công ty

Nếu là chuyển đổi loại hình kinh doanh phải có sự đồng thuận của các thành viên. Đối với trường hợp chuyển đổi tự nguyện, việc chuyển đổi hoàn toàn do chủ sở hữu công ty quyết định. Căn cứ chuyển đổi chính là quyết định của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng thành viên… tùy thuộc vào loại hình công ty. Đối với trường hợp chuyển đổi bắt buộc, căn cứ chuyển đổi chính là sự kiện pháp lý làm thay đổi kết cấu công ty dẫn đến công ty không đáp ứng được các điều kiện bắt buộc mà nhà lập pháp đã đề ra.

(iii) Tư cách pháp nhân và trách nhiệm của chủ sở hữu doanh nghiệp

Doanh nghiệp có nghĩa vụ rất lớn khi doanh nghiệp phát triển và huy động vốn dưới hình thức phát triển trái phiếu, các chứng khoán nợ khác và vay ngân hàng. Nợ vay dưới hình thức phát hành chứng khoán nợ và vay ngân hàng có thể lớn gấp nhiều lần vốn chủ sở hữu. Nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp cũng có thể phát sinh liên quan đến trách nhiệm đối với người tiêu dùng. Nhất là đối với doanh nghiệp sản xuất các đồ dùng như thức ăn, đồ uống và vật dụng gia đình[3]. Trong những trường hợp này, chủ sở hữu nên cân nhắc thành lập doanh nghiệp có tư cách pháp nhân để chủ doanh nghiệp chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn đã góp hoặc cam kết góp vào doanh nghiệp. Nói cách khác, nếu chủ sở hữu đã góp đủ vốn theo cam kết thì chủ sở hữu không còn bất kỳ trách nhiệm gì đối với các nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp đối với chủ nợ, người tiêu dùng hoặc bất kỳ bên thứ ba nào khác.

Từ giác độ trách nhiệm của chủ sở hữu đối với nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp với chủ nợ, người tiêu dùng hoặc bên thứ ba, hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần ưu việt hơn doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh. Doanh nghiệp tư nhân không được coi là không có pháp nhân và chủ doanh nghiệp không phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp bằng toàn bộ tài sản của mình. Mặc dù có tư cách pháp nhân, nhưng công ty hợp danh cũng có trách nhiệm vô hạn đối với nghĩa vụ của công ty. Hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có lợi hơn doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh, vì các thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn và cổ đông có trách nhiệm hữu hạn.

(iv) Số lượng chủ sở hữu doanh nghiệp

Số lượng chủ sở hữu là một yếu tố quan trọng trong các yếu tố cân nhắc khi lựa chọn loại hình kinh doanh. Nhiều chủ sở hữu chỉ muốn thành lập và quản lý một mình, không có sự tham gia các chủ sở hữu khác. Khi doanh nghiệp phát triển và cần nhiều chủ sở hữu góp vốn thì doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu là không thể tránh khỏi. Chủ sở hữu đôi khi cũng muốn tên doanh nghiệp phản ánh tên của mình. Nếu chủ sở hữu chỉ muốn tự mình quản lý doanh nghiệp và muốn giữ tên doanh nghiệp thì hình thức phù hợp nhất là doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có số lượng chủ sở hữu tối thiểu là 02 thành viên và tối đa là 50 thành viên. Công ty hợp danh có số lượng chủ sở hữu tối thiểu là 02 thành viên hợp danh và không hạn chế số lượng thành viên tối đa. Nếu chọn công ty cổ phần thì phải có ít nhất 03 cổ đông và không hạn chế số lượng thành viên tối đa. Công ty đại chúng và công ty đại chúng quy mô lớn thường có trên 100 cổ đông, không có giới hạn số cổ đông, nên có thể có tới hàng trăm, hàng nghìn, hàng triệu cổ đông. Nếu các chủ sở hữu doanh nghiệp muốn hạn chế số lượng hoặc giới hạn ở những cá nhân hoặc tổ chức mà họ biết để dễ dàng kiểm soát, thì hình thức công ty cổ phần, đặc biệt là công ty đại chúng, đại chúng quy mô lớn không là lựa chọn phù hợp.

(v) Việc sửa đổi tên doanh nghiệp

Khi chuyển đổi loại hình doanh nghiệp thường gắn liền với việc chuyển đổi tên của doanh nghiệp. Trên thực tế, việc đặt tên doanh nghiệp theo tên chủ sở hữu doanh nghiệp cho doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh thông dụng hơn công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và công ty đại chúng. Hầu như không có công ty đại chúng nào có tên doanh nghiệp đặt theo tên cổ đông sáng lập hoặc kiểm soát công ty. Trong một doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, thông thường, tên doanh nghiệp có tính đại diện hoặc biểu trưng cho ngành nghề, sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp. Vì vậy, nếu chủ sở hữu muốn giữ tên doanh nghiệp giống tên mình thì hình thức phù hợp nhất là doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Theo quy định của Điều 42 Luật Doanh nghiệp năm 2014, doanh nghiệp không được đặt tên trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp đã đăng ký…

(vi) Cơ cấu tổ chức quản lý doanh nghiệp

Loại hình doanh nghiệp quyết định việc quản lý doanh nghiệp và khả năng tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, thì cơ cấu quản lý phức tạp hơn, sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý doanh nghiệp càng rõ nét hơn. Trong trường hợp chủ sở hữu không muốn từ bỏ quyền quản lý doanh nghiệp, thì hình thức doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là các loại hình phù hợp nhất, chủ sở hữu có toàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến hoạt động doanh nghiệp, đồng thời là người quản lý doanh nghiệp.

Nếu những vấn đề trên không là quan trọng, thì các hình thức khác như công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên hoặc công ty cổ phần có thể được áp dụng. Công ty hợp danh và công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có thể có nhiều thành viên và phải có hội đồng thành viên. Cơ cấu quản lý của công ty hợp danh tương đối đơn giản và các thành viên hợp danh trực tiếp tham gia vào công việc quản lý công ty. Chưa có sự tách biệt rõ ràng giữa vai trò của thành viên hợp danh với tư cách là chủ sở hữu và với tư cách là người quản lý công ty. Công ty có từ 11 thành viên trở lên bắt buộc phải có ban kiểm soát. Công ty cổ phần[4] có cơ cấu quản lý phức tạp nhất trong các loại hình doanh nghiệp, bao gồm đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị, ban kiểm soát và người quản lý. Trong công ty cổ phần, có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý công ty. Đặc điểm này không có trong các loại hình doanh nghiệp khác như doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh và công ty trách nhiệm hữu hạn[5].

(vii) Khả năng chuyển nhượng và bán doanh nghiệp

Trong quá trình hoạt động, chủ sở hữu có thể chuyển nhượng phần vốn góp hoặc bán doanh nghiệp. Khả năng chuyển nhượng vốn là một yếu tố quan trọng cần phải cân nhắc khi thành lập và chuyển đổi loại hình doanh nghiệp. Ở giác độ này thì hình thức công ty cổ phần là hình thức phù hợp nhất, bởi vì, chủ sở hữu tự do chuyển nhượng phần vốn của mình mà không phải thông báo và xin sự chấp nhận của người khác không phải là người sáng lập công ty. Chủ doanh nghiệp tư nhân không được chuyển nhượng phần vốn của mình cho người khác, tuy nhiên, có thể bán cho người khác nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác mà doanh nghiệp chưa thực hiện, trừ trường hợp người mua và bán có thỏa thuận khác. Trong công ty hợp danh, các thành viên hợp danh chỉ được phép chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho bên thứ ba sau khi đã chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần góp của họ với cùng điều kiện. Đối với công ty cổ phần, kể cả công ty đại chúng, các cổ đông phổ thông được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình, tuy nhiên, các cổ đông sáng lập bị hạn chế chuyển nhượng cổ phẩn phổ thông đăng ký ban đầu cho bên thứ ba trong vòng 03 năm kể từ khi thành lập công ty, trừ khi có sự chấp thuận của đại hội đồng cổ đông. Việc chuyển nhượng một phần vốn góp và cổ phần trong công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần vẫn tiếp tục hoạt động bình thường sau khi chuyển nhượng. Việc bán doanh nghiệp tư nhân hoặc chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên hợp danh trong công ty hợp danh thường dẫn đến việc đổi tên doanh nghiệp.

(viii) Khả năng huy động vốn

Trong hoạt động kinh doanh, vốn là một trong những yếu tố quyết định cho việc mở rộng và phát triển doanh nghiệp. Doanh nghiệp không thể chỉ dựa duy nhất vào nguồn vốn góp của chủ sở hữu để hoạt động phát triển kinh doanh. Đến một giai đoạn phát triển nhất định doanh nghiệp cần huy động các nguồn vốn khác, chủ yếu thông qua việc phát hành cổ phiếu hoặc vay ngân hàng. Tuy nhiên, không phải loại hình nào của doanh nghiệp cũng có thể được phép phát hành chứng khoán. Doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh không được phép phát hành chứng khoán. Công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ được phép phát hành trái phiếu thường, không thể chuyển đổi trái phiếu thành phần góp vốn và không có cơ sở pháp lý rõ ràng cho phép công ty trách nhiệm hữu hạn phát hành trái phiếu chuyển đổi hoặc bất kỳ loại hình chứng khoán nào khác. So với công ty cổ phần, khả năng huy động vốn của các loại hình doanh nghiệp khác bị hạn chế hơn rất nhiều. Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp có lợi thế nhất trong huy động vốn, vì vậy, về lâu dài, để thuận lợi trong việc huy động vốn, các loại hình doanh nghiệp khác nên chuyển thành công ty cổ phần.

(ix) Nghĩa vụ công bố công khai thông tin liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp

Một vấn đề mà chủ sở hữu rất quan tâm là việc bảo vệ bí mật thông tin cá nhân và thông tin doanh nghiệp. Khi mà doanh nghiệp và chủ sở hữu không có nghĩa vụ công bố thông tin ra công chúng, thì tính bảo mật được duy trì. Khi doanh nghiệp và cổ đông có nghĩa vụ công bố thông tin ra công chúng, thì chủ sở hữu phải chấp nhận thực tế là công chúng có thể biết các thông tin liên quan đến doanh nghiệp và chủ sở hữu. Tuy nhiên, việc công khai hóa thông tin và minh bạch hóa có tính hai mặt. Mức độ minh bạch và công khai hóa thông tin giúp cho công ty gia tăng uy tín kinh doanh, tạo dựng được niềm tin với khách hàng và đối tác, giúp cho hoạt động kinh doanh tốt hơn.

(x) Quyền và lợi ích của bên thứ ba

Việc chuyển đổi hình thức công ty tác động đến người thứ ba, trong đó có người lao động. Thực tế cho thấy, việc chuyển đổi hình thức công ty thường gắn liền với việc thay đổi quy mô sản suất, ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh… và những thay đổi này luôn ảnh hưởng hoặc có nguy cơ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người lao động và lớn hơn là vấn đề anh sinh xã hội. Quyền lợi của chủ nợ cũng có thể bị ảnh hưởng hoặc nguy cơ bị ảnh hưởng khi công ty thay đổi hình thức, nhất là việc thay đổi hình thức từ công ty có chế độ trách nhiệm vô hạn sang công ty có chế độ trách nhiệm hữu hạn... Từ đó, đòi hỏi pháp luật phải có các biện pháp thích hợp để kiểm soát việc chuyển đổi hình thức công ty nhằm bảo đảm lợi ích cho người thứ ba. Các nhà lập pháp cần đặt ra các điều kiện để loại trừ hoặc hạn chế ảnh hưởng của việc chuyển đổi hình thức công ty đến trật tự công, lợi ích của người thứ ba.

Tóm lại, mặc dù là biểu hiện của quyền tự do kinh doanh, song lựa chọn loại hình doanh nghiệp không phải là quyền tuyệt đối. Vì vậy, khi thực hiện quyền lựa chọn mô hình kinh doanh, các chủ thể đầu tư cần cân nhắc lựa chọn đúng, hợp lý loại hình, để từ đó, giúp cho doanh nghiệp hoạt động thuận lợi và hiệu quả hơn.

ThS. Nguyễn Đăng Duy

Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội





[1]. Bùi Quang Vinh: Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư (sửa đổi) được “lột xác”, Hai quan online, 30/11/2014.

[2]. 267 ngành nghề kinh doanh có điều kiện trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp quốc gia. Danh mục này đã được sửa đổi năm 2016, rút xuống còn 243 ngành nghề kinh doanh có điều kiện.

[3]. Xem: Trương Nhật Quang, Pháp luật về doanh nghiệp - các vấn đề pháp lý cơ bản, Nxb. Dân trí 2016, tr. 82.

[4]. Chính phủ - Tờ trình Luật Danh nghiệp sửa đổi năm 2014, ngày 22/5/2014.

[5]. Xem: Trương Nhật Quang, Pháp luật về doanh nghiệp - các vấn đề pháp lý cơ bản, Nxb. Dân trí 2016, tr. 84.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: