Thứ năm 15/01/2026 06:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hoạt động nghề cá góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo

Thời gian gần đây, tình hình hoạt động trên biển của ngư dân, tàu cá Việt Nam diễn ra phức tạp với tình trạng tranh chấp ngư trường đánh bắt hải sản, xử phạt ngư dân tàu cá vi phạm tại vùng biển nước ngoài. Số vụ việc ngư dân, tàu thuyền Việt Nam bị các nước bắt giữ, xử lý ngày càng tăng, nhiều vụ việc nghiêm trọng, phức tạp do ngư dân, tàu cá hoạt động không có giấy phép khai thác, không tuân thủ đúng các quy định về đánh bắt thủy sản, sử dụng giấy phép giả mạo, khai thác đánh bắt thủy sản quý hiếm; sử dụng các biện pháp cấm khai thác…

Chính vì vậy mà việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho ngư dân ở các địa phương có biển là việc làm cấp thiết, thường xuyên, lâu dài, nhất là tuyên truyền pháp luật liên quan về hoạt động nghề cá và quyền đánh cá nhằm bảo hộ ngư dân vươn khơi bám biển an toàn, đúng pháp luật của Việt Nam và quốc tế, góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng.

Các nội dung pháp luật cần tuyên truyền, phổ biến cho ngư dân tập trung vào việc chỉ ra các sai phạm trong hoạt động nghề cá, những bất lợi cho ngư dân khi không thực hiện đúng các quy định của pháp luật, đồng thời phân tích nguyên nhân, hậu quả của những sai phạm đó để ngư dân đúc rút kinh nghiệm, chấp hành tốt các quy định. Ngoài ra còn tăng cường tuyên truyền, phổ biến các quy định về cơ sở pháp lý thiết lập quyền đánh cá của ngư dân; quy định pháp luật của Việt Nam và của các nước về xử phạt ngư dân, tàu cá vi phạm tại vùng biển nước ngoài và các vụ việc điển hình khi tiến hành bảo hộ ngư dân, tàu cá vi phạm… Một trong những vấn đề ngư dân thường quan tâm nhất là “họ có quyền đánh cá ở những ngư trường nào được coi là hợp pháp”. Theo quy định của Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (gọi tắt là UNCLOS) thì các vùng biển mà ngư dân ta được quyền đánh cá là vùng lãnh hải (tính từ đường cơ sở ra 12 hải lý), vùng đặc quyền kinh tế (tính từ đường cơ sở ra 200 hải lý), ở những khu vực chồng lấn, vùng biển cả (không thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền của quốc gia nào), thậm chí được đánh bắt ở vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia khác theo các thỏa thuận hợp tác nghề cá. Ngoài ra, tập quán quốc tế có quy định về quyền đánh cá truyền thống ở lãnh hải và quyền đánh cá truyền thống ở vùng nước quần đảo. Bên cạnh các quyền, ngư dân phải có nghĩa vụ tôn trọng các quy định về bảo tồn, bảo vệ môi trường biển.

Tuy nhiên, sau phán quyết của Trọng tài quốc tế về vụ kiện giữa Philippins và Trung Quốc (năm 2016) có nội dung “không thừa nhận quyền đánh cá truyền thống” (cũng là cơ sở để bác bỏ “đường lưỡi bò” của Trung Quốc), tại khu vực Scarborough (Philippins) và khu vực Natuna (Indonesia) - từng là khu vực đánh bắt cá truyền thống của ngư dân Việt Nam, thì các quốc gia này đã điều chỉnh yêu sách theo hướng mở rộng vùng đặc quyền kinh tế (EEZ), khi ngư dân đánh bắt tại vùng này bị xem là vi phạm EEZ. Thực tế là thời gian qua, Indonesia đã tăng cường bắt giữ, tịch thu tài sản, phạt tiền, phạt tù tùy mức độ và thậm chí là bắn cháy tàu trên biển của ngư dân các nước, trong đó có Việt Nam. Như vậy, trước đây có thể có “vùng đánh cá truyền thống” mà ngư dân Việt Nam đã từng thường xuyên khai thác ở đó. Nhưng hiện nay, các khu vực đó được xác định là vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của các nước láng giềng theo đúng quy định của UNCLOS. Do đó, nếu các ngư dân này muốn tiếp tục vào khai thác hải sản ở “vùng đánh cá truyền thống” đó thì nhất thiết phải được các nước chủ nhà đồng ý cấp phép và phải tuân thủ luật lệ của họ.

Một nội dung tuyên truyền khác mà ngư dân quan tâm không kém là “quy định của các nước về xử phạt ngư dân, tàu cá vi phạm tại vùng biển nước ngoài”. Hiện nay, một số quốc gia đề xuất đưa “hoạt động đánh cá bất hợp pháp, không báo cáo và không được quản lý” (IUUF) vào nội dung về tội phạm mới (tội phạm trên biển) và kêu gọi xác định là hành vi tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, cần được hình sự hóa. Quan điểm của Việt Nam là không phản đối và sẵn sàng cùng các nước thảo luận, xây dựng các văn kiện quốc tế để giải quyết IUUF, tuy nhiên, chưa cần thiết hình sự ngay lập tức vì sẽ có tác động xấu đến các nước nghèo đang phát triển (như Việt Nam). Một số quốc gia đã nội luật hóa IUUF là tội phạm hình sự với các chế tài nghiêm khắc. Ví dụ, Trung Quốc áp dụng chế tài xua đuổi, tịch thu tài sản, truy cứu trách nhiệm hình sự; Malaysia, Brunei, Philippins thì tịch thu tài sản, phạt tiền và phạt tù tùy mức độ; Campuchia thì có thêm chế tài tiêu hủy tàu thuyền; Indonesia có thêm chế tài “bắn cháy tàu trên biển”; Palau thì có thêm chế tài “lao động công ích có thời hạn”, Úc có thêm “trục xuất”… Các quốc gia ngày càng có phản ứng tiêu cực đối với IUUF của ngư dân Việt Nam như tăng cường các lực lượng bảo vệ bờ biển, nêu vấn đề ngư dân ta vi phạm trong các diễn đàn đa phương, thậm chí cho rằng Việt Nam đang bảo hộ cho việc đánh bắt trái phép của ngư dân, đe dọa khai trừ Việt Nam ra khỏi Ủy ban nghề cá Trung và Tây Thái Bình Dương, nguy cơ ảnh hưởng đến việc xuất khẩu mặt hàng thủy sản. Điều quan trọng hơn là ảnh hưởng đến uy tín của Việt Nam tại các diễn đàn quốc tế, chúng ta ngày càng ít đi sự đồng tình của các nước trong vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo nước nhà.

Phân tích, chỉ ra nguyên nhân dẫn đến ngư dân, tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài và nêu những vướng mắc, khó khăn trong công tác bảo hộ cho ngư dân là một nội dung thiết thực cần được tuyên truyền để từ đó nâng cao ý thức chấp hành quy định pháp luật cho ngư dân, giúp ngư dân đúc rút những kinh nghiệm khi vươn khơi bám biển, đặc biệt là phòng ngừa, hạn chế những vi phạm, rủi ro khi bị các quốc gia khác bắt giữ, xử lý. Những nguyên nhân vi phạm vùng biển nước ngoài là chủ tàu, thuyền chạy theo lợi nhuận kinh tế, bất chấp các quy định về xâm phạm chủ quyền, đánh bắt hải sản quý hiếm, thậm chí còn tranh chấp với ngư dân bản địa; thông qua môi giới, “đút lót” các cơ quan chức năng địa phương để hoạt động, đến khi nước sở tại tăng cường hoạt động tuần tra, giám sát thì bị lực lượng liên ngành bắt giữ; ngư dân đánh bắt gần vùng chồng lấn hoặc có tranh chấp, chạy theo luồng cá vô tình xâm phạm lãnh hải các nước…

Thực tế xảy ra nhiều vụ việc tại vùng giáp ranh, vùng biển chồng lấn chưa phân định hoặc đang tiến hành phân định mà bà con ngư dân cần lưu ý cảnh giác là đã có trường hợp ngư dân ta bị tàu nước ngoài bắt giữ trong vùng biển Việt Nam, sau đó bị kéo về vùng biển nước ngoài để lập biên bản vi phạm và xử phạt. Phía nước ngoài khẳng định tàu cá Việt Nam vi phạm vùng biển nước họ, đã ký biên bản nhận tội, chờ đưa ra xét xử. Do các tàu cá của ta thường tắt định vị, nên không có đủ bằng chứng, chứng cứ xác thực tọa độ tàu cá bị bắt giữ và các vi phạm khác, chỉ thông qua lời khai của ngư dân, thời gian xác minh vụ việc khá lâu, trong khi nước ngoài đã có chuẩn bị trước như quay phim, chụp ảnh, ép ngư dân ký biên bản... gây khó khăn trong đấu tranh, bảo hộ ngư dân. Việc tắt định vị còn dẫn đến khó xác minh trong các vụ việc tàu cá bị tàu lạ đâm chìm bỏ chạy, thường xảy ra vào ban đêm khi tàu đang neo đậu giữa biển. Qua những sự việc trên có thể đúc rút ra rằng: Các tàu cá nên hoạt động theo tổ, đội để có thể kịp thời hỗ trợ, giúp đỡ cho nhau. Khi một tàu bị nạn, các tàu còn lại có thể giúp đỡ hoặc ghi hình, chụp ảnh làm bằng chứng. Các ngư dân phải sử dụng thiết bị định vị. Khi gặp rủi ro, khó khăn trên biển (mưa bão lớn, áp thấp nhiệt đới cần xin trú tránh; ngư dân bị ốm, bị bệnh đột xuất; tàu bị đâm va, chết máy…) thông tin kịp thời để Chính phủ có biện pháp hỗ trợ thông qua con đường ngoại giao (thường chậm, thiếu cơ chế thông tin cho lực lượng hỗ trợ).

Đã có thời gian Nhà nước cho xóa nợ Quỹ bảo hộ công dân đối với một số trường hợp ngư dân vi phạm có hoàn cảnh khó khăn, không thể thanh toán nợ. Tuy nhiên, Công điện số 732/CĐ-TTg ngày 28/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc ngăn chặn, giảm thiểu và chấm dứt tàu cá, ngư dân Việt Nam khai thác trái phép ở vùng biển nước ngoài đã nêu rõ: “Bắt buộc chủ tàu cá vi phạm phải chi trả kinh phí để đưa ngư dân vi phạm về nước; nếu chủ tàu không chi trả thì địa phương có tàu vi phạm chịu trách nhiệm chi trả”. Các địa phương áp dụng Nghị định số 103/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trong hoạt động thủy sản quy định, ngư dân xâm phạm vùng biển các nước bị phạt tiền từ 50 đến 70 triệu đồng sau khi về nước. Ủy ban nhân dân tỉnh cũng sẽ thu hồi giấy phép khai thác có thời hạn; đồng thời, không thực hiện chính sách hỗ trợ (hỗ trợ dầu…) đối với những tàu xâm phạm vùng biển các nước theo Quyết định số 48/2010/QĐ-TTg ngày 13/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích, hỗ trợ khai thác, nuôi trồng hải sản và dịch vụ khai thác hải sản trên các vùng biển xa.

Có thể nói tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho ngư dân trong hoạt động nghề cá trong giai đoạn hiện nay là vấn đề cấp thiết đặt ra cho các ngành, địa phương có biển nhằm nâng cao ý thức pháp luật, hạn chế hành vi xâm phạm vùng biển nước ngoài của ngư dân ta, đồng thời góp phần bảo hộ, bảo đảm an toàn tốt hơn cho ngư dân an tâm để vươn khơi bám biển mưu sinh, “làm chủ” các vùng biển của Việt Nam.

Phạm Thị Thanh Ngọc

Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: