Chủ nhật 31/05/2026 02:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Ứng dụng một số học thuyết quản trị nhân lực vào xây dựng pháp luật về chế độ công vụ theo vị trí việc làm ở Việt Nam hiện nay

Một số học thuyết quản trị nhân lực để xây dựng pháp luật về chế độ công vụ theo vị trí việc làm như: Trường phái cổ điển của F.W.Taylor, trường phái của Elton Mayo… đã có từ xa xưa khi con người biết lao động theo từng nhóm đòi hỏi có sự tổ chức và phối hợp làm việc.

Việt Nam đang trong xu thế hội nhập quốc tế, xu thế chuyển đổi từ nền hành chính công truyền thống sang nền hành chính công hiện đại và việc áp dụng mô hình quản lý khu vực tư vào khu vực công. Chính vì vậy, việc ứng dụng những ưu điểm các học thuyết quản trị nhân lực là nội dung rất quan trọng để xây dựng pháp luật về chế độ công vụ theo vị trí việc làm ở nước ta hiện nay.

1. Chế độ công vụ việc làm và xu hướng phát triển của chế độ công vụ việc làm của thế giới và Việt Nam

Chế độ công vụ là một chính thể bao gồm các quy định pháp luật và các biện pháp bảo đảm thực hiện có kết quả các quy định về công vụ, công chức. Cùng với sự phát triển của đất nước, chế độ công vụ Việt Nam được xây dựng, bổ sung và hoàn thiện dần đã góp phần vào việc xây dựng một nền công vụ theo vị trí việc làm ngày càng chuyên nghiệp, chính quy, hiện đại.

Chế độ công vụ của Việt Nam trong thời gian vừa qua nghiêng về chế độ chức nghiệp. Chế độ chức nghiệp mang nặng về văn bằng, chứng chỉ mà chưa chú trọng đến năng lực thực tế của công chức, từ đó dẫn đến tình trạng không có sự tương thích giữa đào tạo với việc do công chức đảm nhiệm, không ra sự cạnh tranh giữa các công chức, giữa công chức với những người ngoài nền công vụ.

Luật Cán bộ, công chức năm 2008 có hiệu lực, chế độ công vụ của nước ta đã chuyển dần từ “chế độ chức nghiệp” sang “chế độ việc làm”. Đây thực sự là một điểm mới với hy vọng sẽ tạo bước đột phá trong công tác quản lý công chức. Chế độ công vụ việc làm thực chất là hệ thống tiền lương được thiết lập dựa trên cơ sở đánh giá công việc. Một hệ thống thứ bậc công việc được thiết lập dựa trên việc phân tích một cách hệ thống nội dung các công việc đó. Các vị trí công việc khác nhau được xếp vào các mức khác nhau căn cứ vào mức độ phức tạp của công việc. Chế độ công vụ việc làm được áp dụng ở Anh, Úc, Niu-di-lân, Ca-na-đa, Mỹ... Việc xác định chế độ công chức theo vị trí việc làm có tác dụng xóa bỏ “cơ chế xin - cho”, cải cách chế độ tiền lương, góp phần đổi mới biên chế…

Vị trí việc làm là khái niệm không phải mới trong cách tiếp cận đối với tư nhân cũng như đối với các quốc gia phát triển, nhưng trong nền công vụ Việt Nam hiện nay đó lại là một vấn đề mới. Khu vực tư bao gồm tất cả các nhà cung cấp, các công ty, dịch vụ đã tồn tại bên ngoài khu vực công. Khu vực công là tổng thể các tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng… thuộc sở hữu nhà nước, do Nhà nước đầu tư, cấp phát tài chính hay bộ phận quan trọng nhất, do Nhà nước trực tiếp quản lý, tổ chức nhằm tạo ra những sản phẩm về vật chất và tinh thần, những dịch vụ công phục vụ đời sống nhân dân và lợi ích toàn xã hội. Trong xu thế ngày nay, khu vực tư nhân ngày càng trở nên lớn mạnh thì khu vực công vẫn tồn tại và chiếm một vị trí rất quan trọng trong đời sống xã hội.

Xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Sự chuyển đổi từ nền hành chính truyền thống sang nền hành chính phát triển đòi hỏi Việt Nam cũng như các nước trên thế giới phải nghiên cứu nghiêm túc để có nhận thức đúng đắn và khai thác những khía cạnh khoa học, hợp lý, tiến bộ của các học thuyết quản trị nhân lực, đặc biệt là các học thuyết quản trị nhân lực có liên quan đến chế độ công vụ theo vị trí việc làm.

2. Các học thuyết quản trị nhân lực và việc ứng dụng vào pháp luật theo chế độ công vụ việc làm ở Việt Nam

2.1. Trường phái cổ điển của F.W.Taylor

Frederick Winslow Taylor (1856 - 1916) là người sáng lập ra khoa học quản lý và được gọi là “cha đẻ của quản lý khoa học”. Ông đã từng làm các công việc như công nhân cơ khí ở Mỹ, và từng giữ chức vụ đốc công, kỹ sư trưởng, tổng công trình sư. Các công trình nghiên cứu: “Quản lý ở nhà máy”, “Những nguyên lý quản lý theo khoa học”…

Cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, lao động đã có bước tiến từ công trường thủ công sang sản xuất máy móc, người công nhân phụ thuộc vào sự vận hành của máy móc, làm theo nhịp điệu và chức năng của máy. Sự phân công lao động và chuyên môn hóa trong lao động đã xuất hiện, tách dần lao động sản xuất và quản lý. Vào cuối thế kỷ XIX, khi các nhà tư bản ở các nước như Mỹ, Đức, Anh… đã có bước tiến trong quản lý lao động theo kinh nghiệm chuyển sang quản lý theo khoa học, đã tạo tiền đề cho sự ra đời của Trường phái cổ điển của F.W.Taylor.

Các nguyên tắc cơ bản của trường phái đó là xác định khối lượng công việc hàng ngày của công nhân một cách khoa học với các thao tác và thời gian cần thiết để bố trí quy trình công nghệ phù hợp và xây dựng định mức cho từng phần việc - là tiền đề quan trọng cho việc xác định vị trí việc làm và mô tả công việc; thực hiện trả lương theo số lượng sản phẩm và chế độ thưởng vượt định mức; phân chia công việc quản lý, phân biệt từng cấp quản lý; lựa chọn công nhân thành thạo từng việc, thay cho công nhân “vạn năng”; mỗi công nhân được gắn chặt với một vị trí làm với nguyên tắc chuyên môn hóa cao; thực hiện chế độ trả lương theo số lượng sản phẩm và chế độ thưởng vượt định mức nhằm khuyến khích nỗ lực của công nhân; phân chia công việc quản lý, phân biệt từng cấp quản lý; thực hiện sơ đồ tổ chức theo chức năng và theo trực tuyến; tổ chức sản xuất theo dây chuyền liên tục.

Với các nội dung nói trên, năng suất lao động tăng vượt bậc, giá thành thấp; kết quả cuối cùng là lợi nhuận cao để cả chủ và thợ đều có thu nhập cao. Học thuyết này đã có ứng dụng rất lớn vào khu vực tư nhân đó là sự phân công lao động một cách tỷ mỉ, chia nhỏ công việc thành từng bộ phận, mỗi bộ phận giao cho một người đảm nhận, thực hiện trên cơ sở chuyên môn hóa. Mỗi chức năng đều được huấn luyện, đào tạo theo hướng chuyên môn hóa. Đó là sự phân tích hợp lý, khoa học mọi công việc, lợi ích bộ phận phụ thuộc vào lợi ích chung. Thêm vào đó, học thuyết cũng đã chỉ ra sự phân chia công việc trong tổ chức thành hai bộ phận đó là một bộ phận làm công việc thiết kế tổ chức, còn một bộ phận là những người công nhân. Học thuyết đưa ra cách trả công tương xứng với kết quả làm việc, tạo ra sự nghiêm ngặt trong kỷ luật lao động.

Học thuyết này có điểm hạn chế là người công nhân bị vắt kiệt sức lao động, làm việc với cường độ cao, liên tục. Tuy nhiên, học thuyết này đã có những thành quả to lớn là đặt nền móng vững chắc cho phương pháp phân tích công việc, xác định vị trí việc làm. Ngoài Taylor còn có một số người khác như H.Fayol, Gant… là những người đại diện cho trường phái cổ điển trong tổ chức lao động khoa học.

2.2. Trường phái của Elton Mayo

Geaege Elton Mayo (1880 - 1949) là giảng viên về logic học, đạo đức học và triết học ở trường tổng hợp Queensland, Australia, là giáo sư về nghiên cứu nông nghiệp. Tác phẩm có giá trị như “Các vấn đề xã hội của một nền văn minh công nghiệp”; “Sự lắp sai của công nhân công nghiệp”…

Trong những năm 1920 - 1940, nền công nghiệp nằm trong tay các tập đoàn lớn tại Mỹ, Tây Âu… áp dụng phổ biến phương pháp sản xuất theo dây chuyền, từ đó làm cho năng suất lao động được tăng cao, tuy nhiên có thêm sự phức tạp của quan hệ lao động giữa người lao động và chủ sử dụng lao động. Chính vì vậy, các nhà sản xuất đã thu hút các nhà tâm lý, nhà xã hội học tham gia. Năm 1927, Elton Mayo là giáo sư giảng dạy và nghiên cứu kỹ nghệ của trường Đại học Harvard, đã khởi công nghiên cứu tại nhà máy Western Electric Hawthorne Work để tìm hiểu động cơ nào đã thúc đẩy công nhân nhà máy đạt kết quả lao động tốt. Ông cho rằng, sự thỏa mãn nhu cầu con người không phải là nhu cầu vật chất mà là nhu cầu tâm lý của họ trong một tổ chức. Ông đề xướng việc cần tạo ra bầu không khí tốt, dân chủ, thông tin đa chiều và lắng nghe nhiều hơn ý kiến của người lao động.

Học thuyết này đã có những ứng dụng đối với khu vực tư nhân đó là sự phân quyền cho cấp dưới, khuyến khích sự tham gia của cấp dưới vào công việc chung. Các mối quan hệ được xác lập dựa trên lòng tin cậy lẫn nhau hơn là dựa trên quyền lực. Dư luận xã hội, các tin tức trao đổi giữa những con người trong cơ quan phải được xử lý một cách khách quan, có lợi cho việc chung.

Tuy nhiên, điểm hạn chế của thuyết này là việc phân chia công việc thành các công đoạn quá nhỏ và cứng nhắc. Ông cho rằng, xác định vị trí việc làm không chỉ tính đến yếu tố chuyên môn, kỹ thuật mà phải tính đến các yếu tố khác thể hiện tâm lý của người lao động như độ tuổi, giới tính… để theo đó hình thành yêu cầu quan trọng đối với người đảm nhiệm vị trí việc làm. Ngoài Mayo còn có một số người khác như Rogers, Maslow… là những người đại diện cho trường phái tâm lý xã hội.

2.3. Trường phái coi trọng tiềm năng con người

Chandler, Woodwward, Bennis… là những người đại diện cho trường phái coi trọng tiềm năng con người. Học thuyết cho rằng, không phải là con người không muốn làm việc, không muốn độc lập, sáng tạo mà là vì không có điều kiện, cơ hội để thực hiện việc đó, nguyên tắc “Win - Win” giữa nhà quản lý và người lao động xuất hiện. Người quản lý phải biết động viên, khuyến khích nhân viên để nhân viên tham gia giải quyết công việc.

Thực tế đã cho thấy, các học thuyết quản trị nhân lực đã được ứng dụng vào khu vực sản xuất, kinh doanh và khu vực công. Khu vực tư nhân đã có nhiều ứng dụng đối với ba học thuyết này như tôn trọng người lao động, tạo điều kiện cho người lao động làm việc, quan tâm đến nhu cầu vật chất và tinh thần cho người lao động; quản lý con người văn minh, nhân đạo, tạo nên cuộc sống hạnh phúc cho người lao động. Đặc biệt, các học thuyết đã có cách tiếp cận hệ thống coi doanh nghiệp như là một hệ thống, cần thích ứng với môi trường như: thị trường, công nghệ, luật pháp của Chính phủ…

Trong khu vực công, học thuyết quản trị nhân lực đã được ứng dụng có hiệu quả trong việc xây dựng chế độ công vụ theo vị trí việc làm ở các nước như Hoa Kỳ, Anh… Chế độ công vụ theo vị trí việc làm đã được áp dụng tại Mỹ trong Luật Công vụ của Liên bang của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, tại Anh được ghi nhận tại Quy chế công chức và Thái Lan... Như vậy, không chỉ có nước phát triển mà cả nước đang phát triển cũng đang áp dụng đưa ra các học thuyết quản trị nhân sự trong quản lý kinh tế áp dụng cho quản lý hành chính.

Đó là những học thuyết quản trị nhân lực cơ bản, tuy nhiên, không có một công thức nào, học thuyết nào chung áp dụng cho mọi lúc, mọi nơi. Kinh nghiệm của các nước phát triển ngày nay đã sử dụng kết hợp các mô hình học thuyết dựa vào quản lý con người một cách khoa học.

3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Qua các học thuyết quản trị nhân lực của các học giả trên thế giới, chúng ta có thể rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như sau:

Thứ nhất, ứng dụng học thuyết quản trị nguồn nhân lực Trường phái cổ điển của F.W.Taylo

Sử dụng phương thức quản lý theo vị trí việc làm trên cơ sở tiêu chuẩn và bản mô tả công việc để từ đó làm cơ sở tuyển dụng công chức, đánh giá công chức, đào tạo công chức… Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã luật hóa và đổi mới hoạt động quản lý công chức theo h­ướng kết hợp giữa hệ thống chức danh tiêu chuẩn với hệ thống vị trí việc làm. Tiếp tục đổi mới chế độ công vụ phù hợp với thể chế chính trị ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế. Nghị định số 36/2013/NĐ-CP ngày 22/4/2013 của Chính phủ về vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức và Thông tư số 05/2013/TT-BNV ngày 25/6/2013 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định số 36/2013/NĐ-CP là những văn bản có tính quy định chung về nguyên tắc, phương pháp, trình tự, thủ tục xác định vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức.

Điều 35 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Việc tuyển dụng công chức phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế”.

Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và các văn bản hướng dẫn như Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 về đào tạo, bồi dưỡng công chức, chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ được thực hiện tối đa trong 2 tuần, trong đó có đào tạo, bồi dưỡng công chức theo vị trí việc làm. Quyết định số 1374/2011/QĐ-TTg ngày 12/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2011 - 2015 cũng đã nhấn mạnh việc đào tạo, bồi dưỡng công chức theo vị trí việc làm.

Mục 5 Chương IV (từ Điều 50 đến Điều 54) Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định về việc mô tả, quy định vị trí việc làm và cơ cấu công chức để xác định số lượng biên chế, làm cơ sở tuyển dụng, thi nâng ngạch, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức.

Thứ hai, ứng dụng học thuyết quản trị nguồn nhân lực Trường phái của Elton Mayo

Trường phái này coi trọng tiềm năng con người. Cải cách tiền lương công chức theo vị trí việc làm, chú trọng các biện pháp khen thưởng, kỷ luật.

Mỗi thuyết đều có những hạt nhân hợp lý gắn với vấn đề vị trí việc làm nhưng chưa được hoàn chỉnh. Do vậy, việc nghiên cứu, ứng dụng những điểm tích cực của ba học thuyết trên chính là cơ sở để xác định vị trí việc làm trong tiến trình cải cách chế độ công vụ theo vị trí việc làm trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Việt Nam hiện nay.

Trần Thị Hải Yến

Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: