Thứ hai 16/03/2026 09:40
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Ủy thác về nơi có trụ sở: Đúng hay sai?

Trong bài viết này, từ một tình huống trên thực tế về việc ủy thác thi hành án dân sự về nơi có trụ sở của doanh nghiệp, tác giả nêu lên quan điểm cá nhân và phân tích để làm rõ nhận định của mình.


Khoản 1 Điều 55 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ dung năm 2014) quy định: Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ủy thác thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở. Như vậy, cơ quan thi hành án dân sự nơi nhận ủy thác là cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có một trong các điều kiện: Nơi có tài sản, nơi làm việc, nơi cư trú hoặc nơi có trụ sở. Nơi cư trú là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú của công dân được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền theo Luật Cư trú. Nơi có trụ sở (đối với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp): Trụ sở doanh nghiệp là nơi đặt cơ quan điều hành của doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở của doanh nghiệp phải được đăng ký chính thức với cơ quan đăng ký kinh doanh. Nếu có nhu cầu thay đổi địa chỉ trụ sở, doanh nghiệp phải đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh trước khi thực hiện việc thay đổi, trụ sở của doanh nghiệp không nhất thiết là nơi doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc nơi có hộ khẩu thường trú của chủ doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể có nhiều cơ sở kinh doanh ở những nơi khác nhau nhưng chỉ có một trụ sở giao dịch. Để tránh nhầm lẫn, trụ sở này thường được gọi là trụ sở chính của doanh nghiệp. Trụ sở doanh nghiệp mang tính pháp lý nhiều hơn là tính không gian.

Điều 43 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: Địa chỉ công ty hay chính xác là trụ sở chính của doanh nghiệp là địa điểm liên lạc của doanh nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam, có địa chỉ được xác định gồm số nhà, ngách, hẻm, ngõ phố, phố, đường, hoặc thôn, xóm, ấp, xã, phường, thị trấn, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, số điện thoại, số fax và thư điện tử (nếu có). Trụ sở chính được coi là tài sản hợp pháp của doanh nghiệp.

Đối với công dân, cũng có quy định tương tự như: Nơi thường trú của công dân là nơi sinh sống thường xuyên, ổn định không có thời hạn tại một nơi ở nhất định và đã đăng ký thường trú. Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú. Như vậy, nơi cư trú bao gồm cả nơi thường trú và nơi tạm trú. Đối với tổ chức, doanh nghiệp, cũng có quy định về nơi có trụ sở theo Luật Doanh nghiệp. Ngoài trụ sở chính được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền, tổ chức, doanh nghiệp có thể có nhiều cơ sở kinh doanh, chi nhánh, văn phòng đại diện ở những địa chỉ khác nhau và được đăng ký theo quy định của pháp luật.

Tác giả xin nêu một tình huống còn có những quan điểm khác nhau như sau:

Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 04/2018/QĐST-KDTM ngày 31/01/2018 của Tòa án nhân dân quận B, thành phố H có nội dung: Công ty TNHH đầu tư thương mại S, địa chỉ trụ sở tại số 52 MK, phường MK, quận B, thành phố H phải trả cho Ngân hàng V, địa chỉ trụ sở tại 72 ĐH, quận K, thành phố H tổng số tiền là 15,7 tỷ đồng, trong đó, gốc là 7,2 tỷ đồng, lãi phát sinh là 8,5 tỷ đồng và lãi phát sinh trên số nợ gốc từ ngày 26/01/2018, mức lãi suất là 15%/năm tương ứng với thời gian chậm trả. Nếu Công ty TNHH đầu tư thương mại S vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thu hồi, phát mãi toàn bộ tài sản bảo đảm gồm:

- Nhà và đất (diện tích 72m²) tại phường HV, thành phố G, tỉnh G, bảo đảm cho khoản gốc là 2 tỷ đồng và khoản lãi là 2,4 tỷ đồng;

- Quyền sử dụng đất (diện tích 759m²) tại xã ĐC, thị xã T, thành phố H bảo đảm cho khoản gốc là 1 tỷ đồng và lãi là 1,2 tỷ đồng;

- Quyền sử dụng đất (diện tích 111,9m²) tại phường QN, thị xã T, thành phố H bảo đảm cho khoản gốc là 3,4 tỷ đồng và khoản lãi là 4 tỷ đồng;

- Ba xe ô tô bảo đảm cho tổng khoản gốc là 0,8 tỷ đồng và tổng khoản lãi là 0,9 tỷ đồng.

Công ty TNHH đầu tư thương mại S đã thực hiện nghĩa vụ trả nợ với số tiền là 2,1 tỷ đồng và xử lý xong tài sản bảo đảm là nhà và đất (diện tích 72m²) tại tỉnh G. Số tiền còn lại là 13,6 tỷ đồng, trong đó, gốc là 5,1 tỷ đồng và lãi là 8,5 tỷ đồng. Công ty TNHH đầu tư thương mại S không trả được nợ và Ngân hàng V đã có đơn yêu cầu thi hành án ghi ngày 15/3/2018, Chi cục Thi hành án dân sự quận B đã nhận đơn và ra Quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu số 525/QĐ-CCTHADS ngày 21/3/2018 để thi hành khoản phải thanh toán trên. Nếu Công ty TNHH đầu tư thương mại S không trả nợ thì Ngân hàng V có quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là những tài sản nêu trên (trừ nhà và đất tại tỉnh G do đã được xử lý xong).

Chi cục Thi hành án dân sự quận B xác minh tài khoản tại các ngân hàng đều thể hiện Công ty TNHH đầu tư thương mại S không có khả năng trả nợ; xác minh tại các cơ quan đăng ký kinh doanh thì Công ty TNHH đầu tư thương mại S đều có địa chỉ đã được cơ quan có thẩm quyền đăng ký là tại số 52 MK, phường MK, quận B, thành phố H, Việt Nam; xác minh điều kiện thi hành án của Công ty TNHH đầu tư thương mại S tại địa chỉ này, kết quả khẳng định, không có Công ty TNHH đầu tư thương mại S, không có biển tên, không có tài sản của công ty, chính quyền cũng không biết Công ty TNHH đầu tư thương mại S ở đâu.

Từ đó, Chi cục Thi hành án dân sự quận B thu hồi quyết định thi hành án số 525/QĐ-CCTHADS ngày 21/3/2018 và ra quyết định ủy thác cho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T, thành phố H tiếp tục thi hành khoản trả nợ Ngân hàng V số tiền là 13,6 tỷ đồng, trong đó, gốc là 5,1 tỷ đồng và lãi là 8,5 đồng. Nếu Công ty TNHH đầu tư thương mại S không trả nợ thì Ngân hàng V có quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm nêu trên (trừ nhà và đất tại tỉnh G).

Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T đã ra quyết định thi hành án số 349/QĐ-CCTHADS ngày 22/3/2019 để thi hành khoản trên. Đến ngày 20/9/2019 đã xử lý xong các loại tài sản gồm 02 quyền sử dụng đất và 02 xe ô tô, còn một chiếc xe ô tô thì được xác định là không có ở địa bàn thị xã T, thành phố H. Tại Biên bản giải quyết việc thi hành án ngày 20/9/2019, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng V đã xác định: Ngay trước và sau khi Chi cục Thi hành án dân sự quận B ủy thác, chiếc xe này đã được xác định là không có ở địa bàn thị xã T và đề nghị Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T ủy thác về cho Chi cục Thi hành án dân sự quận B tiếp tục thi hành khoản còn lại và xử lý chiếc xe trên theo quy định.

Căn cứ quy định pháp luật và thực tế hồ sơ, Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T ra quyết định ủy thác cho Chi cục Thi hành án dân sự quận B là nơi có trụ sở của Công ty TNHH đầu tư thương mại S tiếp tục thi hành khoản phải trả với số tiền 9 tỷ đồng, trong đó, gốc là 0,7 tỷ đồng và lãi là 8,3 tỷ đồng. Nếu Công ty TNHH đầu tư thương mại S không trả nợ thì Ngân hàng V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản bảo đảm là chiếc xe ô tô nêu trên.

Chi cục Thi hành án dân sự quận B không nhận và ra công văn trả lại hồ sơ ủy thác thi hành án cho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T với lý do: Thực tế Công ty TNHH đầu tư thương mại S không còn hoạt động tại số 52 MK, phường MK, quận B, thành phố H. Với tài liệu chứng minh là Thông báo số 1589/TB-BKD-KT1 ngày 04/02/2016 của Chi cục thuế quận B về việc cơ sở kinh doanh bỏ địa chỉ đăng ký kinh doanh mang theo hóa đơn không kê khai với cơ quan thuế; tại Văn bản số 1170/CCTT-ĐKKD ngày 28/5/2018 của Phòng Đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố H cung cấp thông tin là ngày 26/12/2017 đã ban hành quyết định về việc thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đối với Công ty TNHH đầu tư thương mại S. Do vậy, không còn trụ sở của Công ty TNHH đầu tư thương mại S ở số 52 MK, phường MK, quận B, thành phố H và việc ủy thác của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T cho cơ quan thi hành án dân sự quận B là nơi có trụ sở của người phải thi hành án là chưa đúng quy định tại khoản 1 Điều 55 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) và khoản 5 Điều 16 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự (Nghị định số 62/2015/NĐ-CP).

Như vậy, vấn đề được đặt ra là, việc ủy thác của cơ quan thi hành án thị xã T là đúng hay sai? Cơ quan thi hành án dân sự quận B có được trả lại ủy thác hay không?

Theo Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP có hiệu lực kể từ ngày 01/5/2020, khoản 9 Điều 1 sửa đổi, bổ sung khoản 1, khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều Nghị định số 62/2015/NĐ-CP như sau:

“Căn cứ bản án, quyết định được thi hành án hoặc kết quả xác minh, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ủy thác thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở...”.

Với quy định này, quan điểm của tác giả cho rằng: Việc ủy thác của cơ quan thi hành án thị xã T là đúng vì trụ sở của Công ty TNHH đầu tư thương mại S được xác định rõ trong bản án, phù hợp với Điều 43 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định rất cụ thể về địa chỉ của doanh nghiệp. Mặc dù có thông báo về việc cơ sở kinh doanh bỏ địa chỉ đăng ký kinh doanh và văn bản cung cấp thông tin là đã ban hành quyết định về việc thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đối với Công ty TNHH đầu tư thương mại S như đã nêu trên, nhưng tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 04/2018/QĐST-KDTM ngày 31/01/2018 của Tòa án nhân dân quận B vẫn thể hiện rõ là Công ty TNHH đầu tư thương mại S có trụ sở tại số 52 MK, phường MK, quận B, thành phố H, Việt Nam.

Tác giả rất mong nhận được sự phân tích, trao đổi kinh nghiệm của các nhà khoa học, đồng nghiệp… để đưa ra quan điểm đúng đắn nhất cho tình huống nêu trên.

Văn Hồng Yên
Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, TP. Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.

Theo dõi chúng tôi trên: