Thứ tư 27/05/2026 23:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Ủy thác về nơi có trụ sở: Đúng hay sai?

Trong bài viết này, từ một tình huống trên thực tế về việc ủy thác thi hành án dân sự về nơi có trụ sở của doanh nghiệp, tác giả nêu lên quan điểm cá nhân và phân tích để làm rõ nhận định của mình.


Khoản 1 Điều 55 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ dung năm 2014) quy định: Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ủy thác thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở. Như vậy, cơ quan thi hành án dân sự nơi nhận ủy thác là cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có một trong các điều kiện: Nơi có tài sản, nơi làm việc, nơi cư trú hoặc nơi có trụ sở. Nơi cư trú là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú của công dân được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền theo Luật Cư trú. Nơi có trụ sở (đối với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp): Trụ sở doanh nghiệp là nơi đặt cơ quan điều hành của doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở của doanh nghiệp phải được đăng ký chính thức với cơ quan đăng ký kinh doanh. Nếu có nhu cầu thay đổi địa chỉ trụ sở, doanh nghiệp phải đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh trước khi thực hiện việc thay đổi, trụ sở của doanh nghiệp không nhất thiết là nơi doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc nơi có hộ khẩu thường trú của chủ doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể có nhiều cơ sở kinh doanh ở những nơi khác nhau nhưng chỉ có một trụ sở giao dịch. Để tránh nhầm lẫn, trụ sở này thường được gọi là trụ sở chính của doanh nghiệp. Trụ sở doanh nghiệp mang tính pháp lý nhiều hơn là tính không gian.

Điều 43 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: Địa chỉ công ty hay chính xác là trụ sở chính của doanh nghiệp là địa điểm liên lạc của doanh nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam, có địa chỉ được xác định gồm số nhà, ngách, hẻm, ngõ phố, phố, đường, hoặc thôn, xóm, ấp, xã, phường, thị trấn, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, số điện thoại, số fax và thư điện tử (nếu có). Trụ sở chính được coi là tài sản hợp pháp của doanh nghiệp.

Đối với công dân, cũng có quy định tương tự như: Nơi thường trú của công dân là nơi sinh sống thường xuyên, ổn định không có thời hạn tại một nơi ở nhất định và đã đăng ký thường trú. Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú. Như vậy, nơi cư trú bao gồm cả nơi thường trú và nơi tạm trú. Đối với tổ chức, doanh nghiệp, cũng có quy định về nơi có trụ sở theo Luật Doanh nghiệp. Ngoài trụ sở chính được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền, tổ chức, doanh nghiệp có thể có nhiều cơ sở kinh doanh, chi nhánh, văn phòng đại diện ở những địa chỉ khác nhau và được đăng ký theo quy định của pháp luật.

Tác giả xin nêu một tình huống còn có những quan điểm khác nhau như sau:

Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 04/2018/QĐST-KDTM ngày 31/01/2018 của Tòa án nhân dân quận B, thành phố H có nội dung: Công ty TNHH đầu tư thương mại S, địa chỉ trụ sở tại số 52 MK, phường MK, quận B, thành phố H phải trả cho Ngân hàng V, địa chỉ trụ sở tại 72 ĐH, quận K, thành phố H tổng số tiền là 15,7 tỷ đồng, trong đó, gốc là 7,2 tỷ đồng, lãi phát sinh là 8,5 tỷ đồng và lãi phát sinh trên số nợ gốc từ ngày 26/01/2018, mức lãi suất là 15%/năm tương ứng với thời gian chậm trả. Nếu Công ty TNHH đầu tư thương mại S vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thu hồi, phát mãi toàn bộ tài sản bảo đảm gồm:

- Nhà và đất (diện tích 72m²) tại phường HV, thành phố G, tỉnh G, bảo đảm cho khoản gốc là 2 tỷ đồng và khoản lãi là 2,4 tỷ đồng;

- Quyền sử dụng đất (diện tích 759m²) tại xã ĐC, thị xã T, thành phố H bảo đảm cho khoản gốc là 1 tỷ đồng và lãi là 1,2 tỷ đồng;

- Quyền sử dụng đất (diện tích 111,9m²) tại phường QN, thị xã T, thành phố H bảo đảm cho khoản gốc là 3,4 tỷ đồng và khoản lãi là 4 tỷ đồng;

- Ba xe ô tô bảo đảm cho tổng khoản gốc là 0,8 tỷ đồng và tổng khoản lãi là 0,9 tỷ đồng.

Công ty TNHH đầu tư thương mại S đã thực hiện nghĩa vụ trả nợ với số tiền là 2,1 tỷ đồng và xử lý xong tài sản bảo đảm là nhà và đất (diện tích 72m²) tại tỉnh G. Số tiền còn lại là 13,6 tỷ đồng, trong đó, gốc là 5,1 tỷ đồng và lãi là 8,5 tỷ đồng. Công ty TNHH đầu tư thương mại S không trả được nợ và Ngân hàng V đã có đơn yêu cầu thi hành án ghi ngày 15/3/2018, Chi cục Thi hành án dân sự quận B đã nhận đơn và ra Quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu số 525/QĐ-CCTHADS ngày 21/3/2018 để thi hành khoản phải thanh toán trên. Nếu Công ty TNHH đầu tư thương mại S không trả nợ thì Ngân hàng V có quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là những tài sản nêu trên (trừ nhà và đất tại tỉnh G do đã được xử lý xong).

Chi cục Thi hành án dân sự quận B xác minh tài khoản tại các ngân hàng đều thể hiện Công ty TNHH đầu tư thương mại S không có khả năng trả nợ; xác minh tại các cơ quan đăng ký kinh doanh thì Công ty TNHH đầu tư thương mại S đều có địa chỉ đã được cơ quan có thẩm quyền đăng ký là tại số 52 MK, phường MK, quận B, thành phố H, Việt Nam; xác minh điều kiện thi hành án của Công ty TNHH đầu tư thương mại S tại địa chỉ này, kết quả khẳng định, không có Công ty TNHH đầu tư thương mại S, không có biển tên, không có tài sản của công ty, chính quyền cũng không biết Công ty TNHH đầu tư thương mại S ở đâu.

Từ đó, Chi cục Thi hành án dân sự quận B thu hồi quyết định thi hành án số 525/QĐ-CCTHADS ngày 21/3/2018 và ra quyết định ủy thác cho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T, thành phố H tiếp tục thi hành khoản trả nợ Ngân hàng V số tiền là 13,6 tỷ đồng, trong đó, gốc là 5,1 tỷ đồng và lãi là 8,5 đồng. Nếu Công ty TNHH đầu tư thương mại S không trả nợ thì Ngân hàng V có quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm nêu trên (trừ nhà và đất tại tỉnh G).

Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T đã ra quyết định thi hành án số 349/QĐ-CCTHADS ngày 22/3/2019 để thi hành khoản trên. Đến ngày 20/9/2019 đã xử lý xong các loại tài sản gồm 02 quyền sử dụng đất và 02 xe ô tô, còn một chiếc xe ô tô thì được xác định là không có ở địa bàn thị xã T, thành phố H. Tại Biên bản giải quyết việc thi hành án ngày 20/9/2019, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng V đã xác định: Ngay trước và sau khi Chi cục Thi hành án dân sự quận B ủy thác, chiếc xe này đã được xác định là không có ở địa bàn thị xã T và đề nghị Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T ủy thác về cho Chi cục Thi hành án dân sự quận B tiếp tục thi hành khoản còn lại và xử lý chiếc xe trên theo quy định.

Căn cứ quy định pháp luật và thực tế hồ sơ, Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T ra quyết định ủy thác cho Chi cục Thi hành án dân sự quận B là nơi có trụ sở của Công ty TNHH đầu tư thương mại S tiếp tục thi hành khoản phải trả với số tiền 9 tỷ đồng, trong đó, gốc là 0,7 tỷ đồng và lãi là 8,3 tỷ đồng. Nếu Công ty TNHH đầu tư thương mại S không trả nợ thì Ngân hàng V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản bảo đảm là chiếc xe ô tô nêu trên.

Chi cục Thi hành án dân sự quận B không nhận và ra công văn trả lại hồ sơ ủy thác thi hành án cho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T với lý do: Thực tế Công ty TNHH đầu tư thương mại S không còn hoạt động tại số 52 MK, phường MK, quận B, thành phố H. Với tài liệu chứng minh là Thông báo số 1589/TB-BKD-KT1 ngày 04/02/2016 của Chi cục thuế quận B về việc cơ sở kinh doanh bỏ địa chỉ đăng ký kinh doanh mang theo hóa đơn không kê khai với cơ quan thuế; tại Văn bản số 1170/CCTT-ĐKKD ngày 28/5/2018 của Phòng Đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố H cung cấp thông tin là ngày 26/12/2017 đã ban hành quyết định về việc thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đối với Công ty TNHH đầu tư thương mại S. Do vậy, không còn trụ sở của Công ty TNHH đầu tư thương mại S ở số 52 MK, phường MK, quận B, thành phố H và việc ủy thác của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T cho cơ quan thi hành án dân sự quận B là nơi có trụ sở của người phải thi hành án là chưa đúng quy định tại khoản 1 Điều 55 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) và khoản 5 Điều 16 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự (Nghị định số 62/2015/NĐ-CP).

Như vậy, vấn đề được đặt ra là, việc ủy thác của cơ quan thi hành án thị xã T là đúng hay sai? Cơ quan thi hành án dân sự quận B có được trả lại ủy thác hay không?

Theo Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP có hiệu lực kể từ ngày 01/5/2020, khoản 9 Điều 1 sửa đổi, bổ sung khoản 1, khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều Nghị định số 62/2015/NĐ-CP như sau:

“Căn cứ bản án, quyết định được thi hành án hoặc kết quả xác minh, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ủy thác thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở...”.

Với quy định này, quan điểm của tác giả cho rằng: Việc ủy thác của cơ quan thi hành án thị xã T là đúng vì trụ sở của Công ty TNHH đầu tư thương mại S được xác định rõ trong bản án, phù hợp với Điều 43 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định rất cụ thể về địa chỉ của doanh nghiệp. Mặc dù có thông báo về việc cơ sở kinh doanh bỏ địa chỉ đăng ký kinh doanh và văn bản cung cấp thông tin là đã ban hành quyết định về việc thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đối với Công ty TNHH đầu tư thương mại S như đã nêu trên, nhưng tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 04/2018/QĐST-KDTM ngày 31/01/2018 của Tòa án nhân dân quận B vẫn thể hiện rõ là Công ty TNHH đầu tư thương mại S có trụ sở tại số 52 MK, phường MK, quận B, thành phố H, Việt Nam.

Tác giả rất mong nhận được sự phân tích, trao đổi kinh nghiệm của các nhà khoa học, đồng nghiệp… để đưa ra quan điểm đúng đắn nhất cho tình huống nêu trên.

Văn Hồng Yên
Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, TP. Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: