Thứ năm 16/04/2026 05:39
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vai trò bảo vệ quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong giai đoạn điều tra

Tóm tắt: Bài viết phân tích các quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến vai trò bảo vệ quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam của cơ quan điều tra.

Tóm tắt: Bài viết phân tích các quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến vai trò bảo vệ quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam của cơ quan điều tra.

Abstract: The paper analyzes existing legal provisions with regard to the protection of human rights of people's procuracy in applying measures of temporary custody, temporary detention in the investigation phase.

1. Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân đối với việc bảo vệ quyền con người trong hoạt động áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam ở giai đoạn điều tra

Việc áp dụng các biện pháp tạm giữ, tạm giam trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, một mặt, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra xử lý tội phạm, ngăn chặn nhanh chóng, làm rõ tội phạm, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, mặt khác, tạo ra những cơ sở, nền tảng vững chắc bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Lý giải cho vấn đề này bởi vì khi cơ quan điều tra ra quyết định áp dụng các biện pháp tạm giữ, tạm giam, có nghĩa là hạn chế rất nhiều quyền con người của bị can, bị cáo. Ví dụ, đối tượng là người chưa thành niên phạm tội, vốn dĩ là đối tượng dễ bị tổn thương trong hoạt động tố tụng, đồng thời, là nhóm đối tượng nguy cơ cao bị bức cung, mớm cung. Việc áp dụng các biện pháp tạm giữ, tạm giam, không chỉ gây ra cho nhóm đối tượng này những chấn động về tâm lý, xáo trộn trạng thái thần kinh mà còn hạn chế rất nhiều quyền con người, quyền công dân cơ bản của người chưa thành niên phạm tội, như quyền được tôn trọng đời sống riêng tư, quyền được bảo vệ khỏi vũ lực và các hình thức lạm dụng của các cơ quan công quyền trong quá trình điều tra, quyền không bị ép buộc phải khai báo chống lại bản thân - quyền được im lặng... Hệ lụy này liên quan trực tiếp đến tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm cũng như xáo trộn cuộc sống, tâm lý của nhóm đối tượng này. Do đó, các hoạt động của Viện kiểm sát như kiểm sát chặt chẽ trường hợp, căn cứ, điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục hủy bỏ, thay thế biện pháp tạm giữ, tạm giam theo quy định tại Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra hủy bỏ, thay thế các biện pháp tạm giữ, tạm giam bằng biện pháp ngăn chặn khác; trực tiếp hủy bỏ, thay thế các biện pháp tạm giữ, tạm giam... có ý nghĩa quan trọng nhằm đảm bảo pháp chế pháp chế xã hội chủ nghĩa, cũng như thể hiện rõ vai trò bảo vệ quyền con người của Viện kiểm sát.

Mặt khác, có thể thấy rằng, quyền lực nhà nước ở một khía cạnh nào đó tạo ra một trật tự xã hội, quyền con người được đảm bảo. Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác, quyền lực trong nhiều trường hợp sẽ bị biến tướng, là cơ hội cho sự lạm quyền, tùy tiện, quan liêu. Đặc biệt trong lĩnh vực tư pháp, việc tồn tại sự lạm quyền, tùy tiện hay sự quan liêu trong việc áp dụng các biện pháp tố tụng, hoạt động tố tụng, hoạt động kiểm sát sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền con người của chủ thể bị áp dụng. Cụ thể, rất nhiều quyền của người bị tạm giữ, tạm giam, bị bắt, bị can, bị cáo bị ảnh hưởng như quyền sống; quyền không bị tra tấn hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay hạ thấp nhân phẩm; quyền được đối xử nhân đạo với sự tôn trọng phẩm giá vốn có của con người; quyền không bị ép buộc phải đưa ra lời khai chống lại mình - quyền được im lặng; quyền không bị trì hoãn và tuân thủ thời hạn; quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện và một số quyền khác của người bị hại như quyền được xét xử công bằng, quyền bồi thường thiệt hại...

Pháp luật hiện hành quy định rõ về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động này tại Điều 22 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và Quy chế công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự (ban hành kèm theo Quyết định số 501/QĐ-VKSTC ngày 12/12/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao). Cụ thể, trong quá trình kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, Viện kiểm sát nhân dân thông qua chức năng, nhiệm vụ sau đây để bảo vệ các quyền và lợi ích của người bị tạm giữ, tạm giam:

Một là, quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp tạm giữ, tạm giam; phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của cơ quan điều tra theo quy định của pháp luật liên quan đến biện pháp tạm giữ, tạm giam. Những nội dung này được quy định rất rõ tại Điều 116, Điều 117, Điều 118 và Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Hai là, trực tiếp kiểm sát tại nhà tạm giữ, trại tạm giam; hỏi người bị tạm giữ, tạm giam về việc tạm giữ, tạm giam. Quy định này đã khắc phục tính thụ động trong hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân (khi nào cơ quan điều tra chuyển hồ sơ tạm giữ, tạm giam, thì lúc đó Viện kiểm sát mới kiểm sát hồ sơ và có quan điểm về việc giải quyết đó). Trên cơ sở đó, Viện kiểm sát chủ động phối hợp, yêu cầu cơ quan điều tra, trưởng nhà tạm giữ, giám thị trại giam cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc tạm giữ, tạm giam; chủ động yêu cầu trưởng nhà tạm giữ, giám thị trại giam thông báo tình hình tạm giữ, tạm giam; chủ động tiến gặp người bị tạm giữ, tạm giam để xác minh, làm rõ chứng cứ của vụ án, tính xác thực của hồ sơ tạm giữ, tạm giam... Đây là hoạt động vừa trực tiếp bảo vệ quyền và lơi ích của người tạm giữ, tạm giam, đồng thời, là hoạt động mang tính gián tiếp làm hạn chế án oan sai.

Ba là, kiểm tra hồ sơ tạm giữ, tạm giam. Trong hoạt động này, kiểm sát viên có nhiệm vụ kiểm sát số người bị bắt, bị tạm giữ, bị tạm giam, gia hạn tạm giữ, số người chuyển tạm giam, số người được trả tự do, số người không phê chuẩn lệnh bắt bằng văn bản, kiểm sát hồ sơ tạm giữ, tạm giam, quyết định trả tự do cho người bị tạm giữ, tạm giam không có căn cứ và trái pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến vấn đề tạm giam, tạm giữ... nhằm mục đích phát hiện vi phạm của cơ quan tiến hành tố tụng, đồng thời, bảo vệ lợi ích chính đáng cho người bị tạm giữ, tạm giam.

Bốn là, yêu cầu trưởng nhà tạm giữ, giám thị trại tạm giam tự kiểm tra việc tạm giữ, tạm giam và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát nhân dân; cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc tạm giữ, tạm giam; thông báo tình hình tạm giữ, tạm giam; trả lời về quyết định, biện pháp hoặc việc làm vi phạm pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam. Hoạt động này tạo ra cơ chế kiểm sát chặt chẽ giữa Viện kiểm sát, cơ quan điều tra, trưởng nhà tạm giữ, giám thị trại giam với người bị tạm giữ, tạm giam. Thông qua cơ chế này, tạo ra tính nghiêm minh của pháp luật, tính răn đe đối với hành vi vi phạm của trưởng nhà tạm giữ, giám thị trại tạm giam. Đồng thời, hoạt động này có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong bảo vệ quyền và lợi ích của người bị tạm giữ, tạm giam. Bởi vì, nếu hoạt động của Viện kiểm sát không tạo ra tính nghiêm minh của pháp luật, quyền lực bị tha hóa trên thực tế dù nhỏ nhưng cũng rất dễ ảnh hưởng nghiêm trọng đến các quyền và lợi ích cơ bản của nhóm đối tượng này.

Năm là, gặp, hỏi người bị tạm giữ, người bị tạm giam và người chấp hành án về việc giam, giữ, thi hành án hình sự; xác minh, thu thập tài liệu để làm rõ vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự.

Sáu là, quyết định trả tự do cho người bị tạm giữ, tạm giam khi không có căn cứ và trái pháp luật. Trong trường hợp, Viện kiểm sát kiểm sát hồ sơ tạm giữ, tạm giam hoặc gặp, hỏi người bị tạm giữ, tạm giam để thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh rằng quyết định tạm giữ, tạm giam của cơ quan tiến hành tố tụng không có căn cứ pháp luật thì Viện kiểm sát có quyền ra quyết định trả tự do cho nhóm đối tượng này. Trên cơ sở đó, các nguyên tắc tố tụng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được bảo đảm trên thực tế, quyền con người và các quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, người bị tạm giam được tôn trọng và bảo vệ, mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh.

Bảy là, kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền trong việc tạm giữ, tạm giam đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định có vi phạm pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật và yêu cầu xử lý người vi phạm pháp luật. Thực tế đó chứng minh rằng, việc phát hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật trong giai đoạn điều tra nhằm đưa ra các kháng nghị, kiến nghị hoặc bãi bỏ quyết định vi phạm pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam của Viện kiểm sát có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động ngăn chặn sự lạm quyền, sai sót mang tính khách quan và chủ quan, giúp cho hoạt động xét xử đi đúng hướng, tránh được tình trạng án oan, gây tổn thương đối với bị can, bị cáo, đặc biệt là bị can, bị cáo là phụ nữ có thai, người chưa thành niên phạm tội.

Tám là, khởi tố hoặc yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm trong tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật.

Chín là, giải quyết khiếu nại, tố cáo và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật.

2. Thực tiễn vai trò của Viện kiểm sát nhân dân đối với việc bảo vệ quyền con người trong hoạt động áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam ở giai đoạn điều tra

Về thành tựu, Viện kiểm sát các cấp đã chủ động kiểm sát chặt chẽ hơn việc áp dụng các biện pháp tạm giữ, tạm giam của cơ quan điều tra, hoạt động tạm giữ, tạm giam của các trại giam, tiến hành các hoạt động điều tra, như: Trực tiếp lấy lời khai người bị bắt, tạm giữ tăng 171%; kiểm sát 100% vụ án hình sự trong suốt quá trình khởi tố, điều tra; số lượng yêu cầu điều tra tăng 3,5%; số vụ án trực tiếp điều tra tăng 35,6%, trực tiếp hỏi cung tăng 152,4%, tham gia hỏi cung tăng 45,1%... Kết quả, các trường hợp bắt, tạm giữ, đã xử lý hình sự đạt 97,3%; tỷ lệ truy tố đúng thời hạn đạt 99,9%, vượt 9,9% chỉ tiêu của Quốc hội; tỷ lệ truy tố đúng tội danh đạt 99,9%, vượt 4,9% chỉ tiêu của Quốc hội; đặc biệt, số bị can phải đình chỉ do không phạm tội giảm 55,3%[1]. Về vấn đề đảm bảo tiêu chuẩn ăn cho phạm nhân, nhìn chung đã đủ định lượng, tiêu chuẩn và đảm bảo vệ sinh, đồng thời, cũng bảo đảm chế độ y tế, thăm gặp, liên lạc điện thoại với thân nhân, cũng như công tác giáo dục pháp luật, tổ chức xếp loại thi đua chấp hành án phạt tù để tạo ra các điều kiện, tiêu chuẩn giảm thời hạn chấp hành án phạt tù. Trên cơ sở đó, Viện kiểm sát phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật, kịp thời can thiệp giải quyết nhằm đảm bảo tính khách quan, công bằng trong quá trình thực thi pháp luật.

Về hạn chế, có thể nói, bất cứ hoạt động nào liên quan đến áp dụng các biện pháp tạm giữ, tạm giam là liên quan chặt chẽ đến các quyền và lợi ích cơ bản của con người. Nhưng nhiều địa phương vẫn còn tồn tại một số những sai sót về vi phạm tố tụng như tạm giam, tạm giữ quá thời hạn, vẫn còn tình trạng xem việc tạm giữ là một hình thức áp dụng thường xuyên để dễ dàng giải quyết vụ án, còn xảy ra một số trường hợp tạm giữ theo thủ tục hình sự nhưng sau đó lại xử lý hành chính.

Trại tạm giam hiện nay trong tình trạng quá tải, hư hỏng nặng, đặc biệt, rất nhiều nơi bị xuống cấp, không đủ điều kiện giam giữ, ví dụ: Tại Bắc Giang, các nhà tạm giữ, tạm giam bị xuống cấp nghiêm trọng. Chế độ sinh hoạt trong nhà tạm giữ, tạm giam còn nhiều hạn chế như: Có 06 trường hợp bị chết trong nhà tạm giữ, tạm giam; trong đó có 02 bị can tự sát, số còn lại do bị ốm đau, suy kiệt hoặc bị HIV dẫn tới chết. Việc để bị can chết trong nhà tạm giữ, tạm giam là do công tác quản lý của cán bộ chuyên trách còn yếu kém, quan liêu, không kịp phát hiện những trường hợp ốm yếu để có những biện pháp xử lý kịp thời[2] hoặc ở Vĩnh Phúc, “cơ sở vật chất buồng giam giữ xuống cấp chưa đảm bảo diện tích tối thiểu nơi giam, giữ đối với người bị tạm giữ, tạm giam là 2m2/người, tình trạng giam chung những đối tượng trong một vụ án cùng một buồng dẫn đến tình trạng xác định tình trạng bệnh lây truyền các bệnh nguy hiểm ảnh hưởng đến quyền con người, quyền công dân. Trước tình hình đó, trên thực tế vẫn chưa nhiều hoạt động kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát trong công tác tạm giữ, tạm giam; tính hiệu quả của hoạt động kiểm sát chưa cao thể hiện ở chỗ việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn còn tràn lan, chưa tuân thủ trình tự thủ tục, thiếu cán bộ y tế nên việc kiểm tra sức khỏe, chăm sóc người bị tạm giữ, tạm giam ốm đau còn gặp nhiều khó khăn, do đó chưa đáp ứng nhiệm vụ đề ra, tình hình quản lý giam giữ chưa bảo đảm, vẫn còn xảy ra hiện tượng trốn, chết trong quá trình giam giữ”[3]. Hệ quả này là minh chứng chứng minh rằng, công tác kiểm sát giam giữ còn nhiều sơ hở, lỏng lẻo, năng lực cán bộ còn hạn chế.

Bên cạnh đó, hoạt động trực tiếp hỏi người tạm giữ, phát hiện ra những vi phạm pháp luật của trưởng nhà tạm giữ, giám thị trại tạm giam, cơ quan điều tra còn rất hạn chế, chủ yếu là những vi phạm rất nhỏ như quá trình trích xuất người bị tạm giam không có thông báo bằng văn bản cho cơ quan thụ lý vụ án và Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền, không đúng quy định, hồ sơ quản lý người bị tạm giữ không đánh bút lục và lập danh chỉ bản…

Tiếp đến, chưa có cơ chế để bảo vệ quyền và lợi ích cho kiểm sát viên làm công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát trong công tác này. Cụ thể, khi kiểm sát viên kiểm sát tạm giữ, tạm giam luôn phải tiếp xúc trực tiếp với người bị tạm giữ, tạm giam, tức là tiếp xúc với những nguy cơ tiềm ẩn những nguy hiểm về sự chống đối quyết liệt của bị can, bị cáo, nguy cơ từ những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như HIV, bệnh lao, viêm gan B...

3. Giải pháp nâng cao vai trò của Viện kiểm sát nhân trong tố tụng hình sự gắn với hoạt động bảo vệ quyền con người

Thứ nhất, tăng cường các khóa học cho nhóm đối tượng tiến hành tố tụng, đồng thời, tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người cho nhóm người tham gia tố tụng

Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể phối hợp với Viện kiểm sát địa phương cùng với các bộ, ban, ngành tổ chức các khóa đào tạo sau đại học, các khóa bồi dưỡng các kiến thức, công tác tập huấn, hội thảo chuyên ngành về nâng cao trách nhiệm bảo vệ quyền con người trong tố tụng, gắn công tác tổng kết kinh nghiệm với vấn đề tôn trọng quyền của người tham gia tố tụng, tổ chức một số phiên tòa rút kinh nghiệm đề cao quyền con người, một mặt, nhằm nâng cao trình độ của kiểm sát viên, mặt khác, để cán bộ tư pháp nói chung và Viện kiểm sát nói riêng có nhận thức đúng đắn về bảo vệ quyền con người trong tố tụng. Song hành với hoạt động này, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng cần triển khai công tác tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người tham gia tố tụng để họ nhận thức và hiểu được quyền của mình, có những kiến thức pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích của họ khi tham gia tố tụng.

Thứ hai, xây dựng một nền văn hóa pháp lý tạo ra thế chủ động, linh hoạt, sắc bén trong vai trò bảo vệ quyền con người, quyền công dân của Viện kiểm sát một cách hiệu quả nhất

Có thể nói, mô tuýp truyền thống còn tồn tại đậm nét trong hoạt động của Viện kiểm sát, đó là tính bị động diễn ra ở hầu hết các giai đoạn tố tụng, năng lực kiểm sát chưa bám sát, nhạy bén, linh hoạt để thúc đẩy hiệu quả hoạt động xét xử. Vì thế, tính đột phá trong vai trò của Viện kiểm sát trong hoạt động bảo vệ quyền con người, quyền công dân của nhóm người tham gia tố tụng trên thực tiễn còn nhiều hạn chế.

Chính vì thế, cần thiết phải xây dựng một nền văn hóa pháp lý tạo ra thế chủ động, linh hoạt, sắc bén trong vai trò bảo vệ quyền con người, quyền công dân của Viện kiểm sát một cách hiệu quả nhất. Cụ thể, dần loại bỏ tính ỷ lại, bị động trong công tác kiểm sát, Viện kiểm sát không nắm rõ được tình tiết vụ án, Viện kiểm sát không đủ năng lực, trình độ để tìm ra những sai sót vi phạm pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng để có căn cứ kháng nghị... Do đó, để khắc phục những tình trạng trên, hoạt động của Viện kiểm sát cần có những bước đột phá, thay thế mô tuýp truyền thống với vai trò ở thế bị động sang vai trò ở thế chủ động, độc lập, trở thành công cụ sắc bén trong hoạt động công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.

Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về vai trò của Viện kiểm sát trong hoạt động bảo vệ quyền con người, quyền công dân

Đối với tiêu chuẩn của kiểm sát viên, pháp luật hiện hành cần sửa đổi, bổ sung thêm trong việc cấp bằng, chứng chỉ đối với kiểm sát viên trong quá trình tham gia vào thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra án liên quan đến người chưa thành niên phạm tội, song hành với nó là chế độ lương, thưởng phù hợp. Việc phân loại cấp độ, chuyên môn của kiểm sát viên thông qua chứng chỉ, cấp bằng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phân nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng Viện kiểm sát trong việc giải quyết các vụ án ở từng mức độ phức tạp. Từ đó, nâng cao chất lượng tranh tụng, hiểu biết tâm lý trong chất lượng của kiểm sát viên.

Thứ tư, tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm sát

Để làm tốt công tác này, Ngành Tư pháp cần quan tâm hơn nữa chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, đổi mới công tác tuyển dụng để chọn người tài có tâm và có tầm, có năng lực, trình độ, thường xuyên mở lớp tập huấn nghiệp vụ lồng ghép với hoạt động thúc đẩy bảo vệ quyền con người hoặc xây dựng một chủ trương, đường lối riêng chỉ đạo hoạt động của kiếm sát viên trong hoạt động bảo vệ những người tham gia tố tụng. Đồng thời, cần xử lý nghiêm khắc đối với những hành vi vi phạm pháp luật gây tổn hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của người dân, trong đó có hoạt động nêu gương người tốt, việc tốt nhưng cũng có hoạt động nêu ra những người có hành vi vi phạm đến quyền con người, quyền công dân của người tham gia tố tụng để tạo ra tính răn đe đối với các hành vi của người tiến hành tố tụng.

ThS. Nguyễn Phương Nhung

Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh







[1]. Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tại kỳ họp thứ IV, 2017 - 2018, Quốc hội khóa XIV.

[2]. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang, Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát năm 2017.

[3]. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát, 2017 - 2018.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: