Chủ nhật 15/03/2026 09:34
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với dân chủ ở cơ sở

Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với dân chủ ở cơ sở

Tóm tắt: Bài viết phân tích và làm rõ khái niệm bảo đảm dân chủ ở cơ sở, các quy định pháp luật về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục và nâng cao hiệu quả bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Abstract: The article analyzes and clarifies the concept of ensuring democracy at the grassroots level, the legal regulations on the role of the Vietnam Fatherland Front in ensuring the implementation of democracy at the grassroots level, thereby proposing some solutions to overcome and improve the effectiveness of ensuring the implementation of democracy at the grassroots level.

1. Một số vấn đề lý luận và thực trạng quy định pháp luật về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với dân chủ ở cơ sở

Dân chủ được Từ điển tiếng Việt giải thích là: “tôn trọng và thực hiện quyền mọi người tham gia bàn bạc và quyết định các công việc chung”[1]. Trong lĩnh vực chính trị, thông thường dân chủ được hiểu là “một chế độ chính trị trong đó quyền lực nhà nước thuộc về người dân, ý chí của người dân là ý chí quyết định trong việc giành, giao và thực hiện quyền lực nhà nước”[2]. V.I.Lê-nin quan niệm “dân chủ là sự thống trị của đa số”, đó là sự quyết định của đa số mà thiểu số phải phục tùng các quyết định đó[3].

Ở nước ta, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tuân thủ nguyên tắc cơ bản: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”[4], Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước qua hai hình thức:

Thứ nhất, dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước. Nhân dân bầu ra những người đại diện là đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân các cấp. Những đại biểu này được Nhân dân “ủy quyền”, đại diện cho Nhân dân biểu quyết công việc của Nhà nước, thành lập các cơ quan nhà nước khác và chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định mà mình đưa ra.

Thứ hai, dân chủ trực tiếp là người dân trực tiếp thể hiện ý chí của mình để quyết định công việc của Nhà nước. Hình thức này được biểu hiện cụ thể bằng các hoạt động như: Bỏ phiếu lựa chọn đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; tiếp cận thông tin về hoạt động của Nhà nước; góp ý, bàn bạc về các công việc của Nhà nước và cộng đồng dân cư; kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước; trực tiếp biểu quyết bằng hình thức bỏ phiếu quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước.

Nhân dân thực hành dân chủ trực tiếp và gián tiếp trong Đảng, Nhà nước và toàn xã hội. Trong đó, dân chủ ở cơ sở là cấp độ thực hiện dân chủ rõ nhất phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trong thực tiễn đời sống xã hội. Thuật ngữ “cơ sở” được hiểu là “đơn vị ở cấp dưới cùng, nơi trực tiếp thực hiện các hoạt động như: Sản xuất, công tác của một hệ thống tổ chức, trong quan hệ với các bộ phận lãnh đạo cấp trên, ví dụ cơ sở y tế ở nông thôn, cán bộ cơ sở”[5].

Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/7/1998 của Ban Chấp hành Trung ương tại Hội nghị Trung ương 5 (khóa VIII) về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đề cập đến một trong những nhiệm vụ xây dựng môi trường văn hóa là: “Tạo ra ở các đơn vị cơ sở (gia đình, làng, bản, xã, phường, khu tập thể, cơ quan, xí nghiệp, nông trường, lâm trường, trường học, đơn vị bộ đội..., các vùng dân cư (đô thị, nông thôn, miền núi...) đời sống văn hóa lành mạnh, đáp ứng những nhu cầu văn hóa đa dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân”[6].

Điều 110 Hiến pháp năm 2013 quy định đơn vị hành chính nước ta được chia thành ba cấp[7]. Như vậy, theo nghĩa hẹp, cơ sở được hiểu là đơn vị hành chính cuối cùng trong hệ thống chính quyền nhà nước. Ngày 21/4/2022, Chính phủ có Tờ trình số 141/TTr-CP về dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, phạm vi “cơ sở” được xác định là xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) và cộng đồng dân cư trên địa bàn cấp xã; cơ quan, đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (gọi chung là cơ quan, đơn vị); doanh nghiệp, hợp tác xã và tổ chức khác có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động (gọi chung là doanh nghiệp). Như vậy, cơ sở theo dự thảo Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở là theo nghĩa rộng. Tác giả đồng quan điểm “cơ sở” phải hiểu theo nghĩa rộng. Bởi lẽ, bản chất của dân chủ là tập hợp được quần chúng Nhân dân và lôi cuốn họ tham gia sinh hoạt chính trị. Nếu chỉ xác định cơ sở là đơn vị hành chính nhỏ nhất thì Nhà nước sẽ không bảo đảm dân chủ ở những đơn vị, tổ chức nhỏ nhất trong xã hội mà công dân sinh sống và lao động. Chỉ khi xác định cơ sở không chỉ là xã, phường, thị trấn mà còn là cộng đồng dân cư trên địa bàn cấp xã, doanh nghiệp, tổ chức khác thì lúc đó Nhà nước mới bảo đảm dân chủ cho tất cả các tầng lớp Nhân dân.

Bảo đảm thực hiện dân chủ nói chung và dân chủ ở cơ sở nói riêng không thể thiếu vắng vai trò tham gia rộng rãi của các tổ chức chính trị - xã hội, bởi lẽ, xuất phát từ bản chất của dân chủ, dân là chủ và dân làm chủ. Khoản 1 Điều 9 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Ở nước ta, có nhiều tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, không phải tất cả các tổ chức đó đều có thể là thành viên của hệ thống chính trị, mà chỉ có những tổ chức chính trị - xã hội lớn, có ảnh hưởng sâu rộng như: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQ Việt Nam), Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Hội Cựu chiến binh Việt Nam mới là các bộ phận hợp thành hệ thống chính trị, trong đó, MTTQ Việt Nam được xem là cơ sở chính trị của chính quyền Nhân dân. Về quyền và trách nhiệm, Điều 3 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 quy định quyền và trách nhiệm của MTTQ Việt Nam[8]. Về thành phần, Nhân dân tham gia tổ chức và hoạt động của MTTQ Việt Nam thông qua các tổ chức thành viên đa dạng và phong phú bao gồm tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Về tổ chức, MTTQ Việt Nam được tổ chức ở trung ương và các đơn vị hành chính. Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp xã thành lập Ban công tác Mặt trận ở thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố và cộng đồng dân cư khác (sau đây gọi chung là khu dân cư)[9].

2. Thực tiễn phát huy dân chủ ở cơ sở của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Thứ nhất, người dân thực hiện quyền làm chủ, có quyền bày tỏ chính kiến, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của mình cho các cơ sở nơi mình sinh sống và làm việc. Các tâm tư, nguyện vọng đó được MTTQ Việt Nam bảo vệ, tôn trọng và bảo đảm điều kiện thuận lợi để phản ánh, kiến nghị và giúp Nhà nước đề ra những giải pháp, chính sách pháp luật cho công tác quản lý và phát triển đất nước được đúng đắn, hợp lòng dân.

Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp xã có trách nhiệm phối hợp với Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân để thông báo tại kỳ họp Hội đồng nhân dân cấp xã về những vấn đề của địa phương. Thành viên của MTTQ Việt Nam ở cơ sở theo quyền và trách nhiệm của mình tổng hợp ý kiến, kiến nghị của hội viên, đoàn viên và các tầng lớp Nhân dân gửi đến Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp xã. Công tác tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân để phán ánh, kiến nghị với Nhà nước của MTTQ Việt Nam là một trong những cách thức bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở. Thực tiễn, MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp cũng đã phát huy quyền làm chủ trực tiếp của Nhân dân ở cơ sở, tạo điều kiện để người dân trực tiếp tham gia đóng góp ý kiến, bàn bạc và quyết định thực hiện các chương trình, dự án ở địa bàn, khu dân cư. Năm 2021, Ủy ban MTTQ Việt Nam các địa phương đã xây dựng 7.138 báo cáo tình hình nhân dân, với 53.378 ý kiến, kiến nghị được phản ánh, trong đó có 44.622 ý kiến, kiến nghị đã được cơ quan chức năng xử lý[10]. Đẩy mạnh thực hiện dân chủ xã hội đã tạo nhiều điều kiện cho người dân được thể hiện quan điểm, tiếng nói của mình, nhưng qua khảo sát cho thấy nhiều người dân vẫn không biết đến vai trò của MTTQ Việt Nam trong việc tiếp nhận ý kiến của người dân (chiếm đến 37,4% số người được hỏi), đặc biệt ở đối tượng người kinh doanh, làm dịch vụ tự do (chiếm 51,2%) và đối tượng người trẻ, dưới 30 tuổi (62,5%)[11]. Điều đó cho thấy, người dân trực tiếp đóng góp ý kiến, nguyện vọng của mình cho công việc nhà nước nhằm thực hiện quyền dân chủ qua hệ thống các cơ quan MTTQ Việt Nam các cấp vẫn còn ở mức độ chưa cao, trong đó có cấp cơ sở. Bên cạnh đó, tâm lý sợ phức tạp, ngại va chạm, nể nang, thiếu bản lĩnh của người Việt Nam làm ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả thực hiện dân chủ ở cơ sở. Bên cạnh đó, hoạt động lấy ý kiến, huy động sự tham đóng góp ý kiến của Nhân dân còn đơn điệu, hình thức. Yêu cầu hiện nay là phải làm cho nhiều người dân biết đến chức năng của MTTQ Việt Nam trong thực hiện dân chủ ở cơ sở, cũng như chứng minh việc tham gia đóng góp ý kiến, giám sát tổ chức và hoạt động của Nhà nước chính là quyền làm chủ của Nhân dân, tạo động lực cho sự phát triển đất nước, thì khi đó việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế, cũng như các điều kiện bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở của MTTQ Việt Nam mới đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn.

Thứ hai, các quy định pháp luật về công tác của MTTQ Việt Nam hiện nay còn chưa thật rõ ràng, đầy đủ... để thúc đẩy người dân thực hiện dân chủ ở cơ sở. Mặc dù, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 quy định rõ quyền và trách nhiệm của MTTQ Việt Nam, song đến nay chỉ mới có Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định rõ về nhiệm vụ cụ thể của MTTQ Việt Nam trong hoạt động bầu cử. Chức năng tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân, thực hiện giám sát và phản biện xã hội chỉ được nêu ở cấp độ luật tại Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 với quy định có tính nguyên tắc khung. Các quy định đó chưa thể hiện vị trí, vai trò thúc đẩy người dân thực hiện dân chủ trực tiếp của MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên ở các khu dân cư, cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp.

Mặt khác, các quy định có liên quan đến tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân của MTTQ Việt Nam tồn tại tản mạn ở nhiều văn bản: Từ Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015, Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 cho đến các văn bản như: Nghị quyết liên tịch số 403/2017/NQLT-UBTVQH14-CP-ĐCTUBTWMTTQVN ngày 15/6/2017 giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam quy định chi tiết các hình thức giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam; Thông tri số 10/TT-MTTW-BTT ngày 22/9/2020 của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về hướng dẫn giám sát cán bộ, đảng viên và công tác cán bộ… Bên cạnh đó, nhiều nội dung trong các quy định cũng còn hạn chế, bất cập, chẳng hạn: Các quy định về hoạt động phản biện xã hội vẫn chỉ nhấn mạnh phương thức, nội dung phản biện theo yêu cầu của đối tượng chịu sự phản biện, chưa tạo khuôn khổ pháp lý khuyến khích vai trò phản biện độc lập, chủ động, tích cực của các pháp nhân và thể nhân, tổ chức và cá nhân nên kết quả còn hạn chế. Một số văn bản pháp luật hiện hành vẫn thiếu những quy định cụ thể về trách nhiệm, chế tài từ phía Nhà nước, như: Cung cấp thông tin, minh bạch hóa… để các chủ thể của quyền lực xã hội có điều kiện phản biện[12].

Thứ ba, cán bộ, công chức, viên chức và người làm công tác không chuyên trách của MTTQ Việt Nam còn hạn chế về số lượng, không có chuyên môn sâu về các lĩnh vực cho nên khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ, chẳng hạn: Yêu cầu đặt ra đối với cán bộ làm công tác giám sát là phải nắm chắc các quy định pháp luật, nếu cán bộ không nắm và hiểu các quy định pháp luật thì khi tiến hành quy trình giám sát gặp khó khăn nhất định.

Thứ tư, hiện tại chưa có cơ chế phát huy được một cách hiệu quả nhất sức mạnh của các tổ chức thành viên của MTTQ Việt Nam trong bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở. Nội dung, phương thức hoạt động của MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội tuy có sự đổi mới nhưng trên thực tế các phương thức này tỏ ra chưa tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ về chất. Nguyên nhân của hạn chế này xuất phát từ vướng mắc về kinh phí tổ chức và hoạt động ở các cơ sở, từ đó ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình tổ chức thực hiện dân chủ ở cơ sở của MTTQ Việt Nam.

3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Một là, MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến đến cán bộ, công chức, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp Nhân dân nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên trong việc thực hiện dân chủ ở cơ sở. Giám sát và phản biện xã hội không phải là chống đối, là đối lập mà là tham mưu tổ chức và huy động trí tuệ trong quá trình hoàn thiện và phát triển Nhà nước.

Hai là, MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên cần tích cực chuyển đổi số. MTTQ Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên tại cơ sở sử dụng có hiệu quả trang thông tin điện tử, xây dựng trang thông tin điện tử có nội dung phong phú, hình thức, bố cục đẹp, logic, thậm chí mở rộng cách thức sang các trang mạng xã hội như Facebook, Zalo, Tiktok, Intagram... Cần đa dạng hình thức tuyên truyền và hướng dẫn nội dung và cách thức để người dân thực hiện dân chủ ở cơ sở qua các tổ chức thành viên, khu dân cư, cơ quan, đơn vị công tác, doanh nghiệp và chính quyền cấp xã.

Ba là, Quốc hội cần nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến hoạt động tiếp nhận ý kiến của Nhân dân, giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam; ban hành các quy định phát huy vị trí, vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội tại các đơn vị, tổ chức ở cơ sở trong bảo đảm thực hiện dân chủ của người dân; giao Bộ Tư pháp thực hiện nhiệm vụ pháp điển quy phạm pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Bốn là, Bộ Tư pháp cần tham gia hỗ trợ chuyên môn và tập huấn cho đội ngũ cán bộ của MTTQ Việt Nam các văn bản pháp luật về quy chế dân chủ ở cơ sở và các quy định liên quan để nắm và giám sát các đơn vị thực hiện. MTTQ Việt Nam tăng cường công tác tập huấn, đào tạo cán bộ MTTQ Việt Nam cấp xã. Để tham gia giám sát, phản biện hiệu quả, cán bộ MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội vừa phải có năng lực, vừa phải có bản lĩnh, trình độ, kỹ năng, đặc biệt kỹ năng giám sát, kỹ năng thu thập xử lý, phân tích thông tin để kịp thời phản ánh, phối hợp xử lý những vấn đề bất cập, khó khăn ở cơ sở. Điều này, đòi hỏi MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên cần có cơ chế thu hút và sử dụng được những người thực sự có đức, có tài, có bản lĩnh, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong công việc, có chính sách quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng lãnh đạo có năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức.

Năm là, MTTQ Việt Nam cần tập hợp, phát huy tối đa tiềm năng to lớn của các tổ chức thành viên, đặc biệt là Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Hội Cựu chiến binh Việt Nam và các cá nhân tiêu biểu, nhân sĩ, trí thức, người có uy tín trong đồng bào dân tộc, tôn giáo đối với công tác phản biện xã hội.

Sáu là, tăng ngân sách nhà nước cho MTTQ Việt Nam cấp xã để phát huy sức mạnh trong bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở.

ThS. Lê Tiểu Vy

Phân hiệu Trường Đại học Luật Hà Nội tại tỉnh Đắk Lắk

[1]. Viện Ngôn ngữ học (2016), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr. 309 - 310.

[2]. Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 298.

[3]. Quan điểm của V.I.Lê-nin về chế độ dân chủ và nguyên tắc tập trung dân chủ, https://tuyengiao.vn/tuyen-truyen/quan-diem-cua-v-i-le-nin-ve-che-do-dan-chu-va-nguyen-tac-tap-trung-dan-chu-19286, ngày đăng Thứ Ba, ngày 13/4/2010.

[4]. Khoản 2 Điều 2 Hiến pháp năm 2013.

5. Viện Ngôn ngữ học (2016), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr. 271 - 272.

[6]. Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/7/1998 của Ban Chấp hành Trung ương tại Hội nghị Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-03-nqtw-ngay-1671998-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-tai-hoi-nghi-trung-uong-5-khoa-viii-ve-xay-dung-va-phat-1692, truy cập ngày 08/5/2023.

[7]. Xem: Điều 110 Hiến pháp năm 2013.

[8]. Xem: Điều 3 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015.

[9]. Xem: Điều 6 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015.

[10]. MTTQ Việt Nam phát huy vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân trong thời kỳ mới, http://mattran.org.vn/hoat-dong/mttq-viet-nam-phat-huy-vai-tro-dai-dien-bao-ve-quyen-va-loi-ich-hop-phap-chinh-dang-cua-nhan-dan-trong-thoi-ky-moi-44898.html, truy cập ngày 08/5/2023.

[11]. Nâng cao chất lượng công tác tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân phản ánh đến Đảng, Nhà nước của MTTQ Việt Nam, http://mattran.org.vn/hoat-dong/nang-cao-chat-luong-cong-tac-tap-hop-tong-hop-y-kien-kien-nghi-cua-cu-tri-va-nhan-dan-phan-anh-den-dang-nha-nuoc-cua-mttq-viet-nam-44939.html, truy cập ngày 19/8/2022.

[12]. Thực trạng, những vấn đề đặt ra hiện nay trong hoạt động phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam, http://tapchimattran.vn/nghien-cuu/thuc-trang-nhung-van-de-dat-ra-hien-nay-trong-hoat-dong-phan-bien-xa-hoi-cua-mttq-viet-nam-22241.html, truy cập ngày 08/5/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 380), tháng 5/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: