Chủ nhật 15/03/2026 10:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vai trò của pháp luật trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta thời kỳ hội nhập

Tóm tắt: Qua bài viết này, tác giả phân tích những thành tựu, hạn chế của hệ thống pháp luật trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện.

Tóm tắt: Qua bài viết này, tác giả phân tích những thành tựu, hạn chế của hệ thống pháp luật trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện.

Abstract: This paper, the author analyzes achievements, shortcomings of the current legal system in social - economic development in our country and puts forward some improvement proposals.

1. Những thành tựu của hệ thống pháp luật trong phát triển kinh tế, xã hội ở nước ta hiện nay

Thứ nhất, hạn chế tối đa việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật có nội dung vượt phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, đáp ứng yêu cầu quản lý hành chính nhà nước theo hướng hiện đại

Trong thời gian qua, các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) để thi hành và chi tiết hóa các quy định của Hiến pháp, luật của Quốc hội, kịp thời thể chế hóa được nhiều đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Trong những năm qua, các VBQPPL mà đi đầu là những văn bản của cơ quan hành chính ban hành đã bám sát được yêu cầu chính trị, nhiệm vụ cách mạng mà Đảng đề ra trong từng thời kỳ. Trong giai đoạn hiện nay, để tạo khung pháp lý vững chắc cho sự phát triển của đất nước, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhiều VBQPPL, việc ban hành các văn bản này phải tuân đúng các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản có liên quan. Trên thực tế, từ khi Luật Ban hành VBQPPL ra đời, đã hạn chế được tình trạng văn bản quy phạm pháp luật được ban hành không đúng thẩm quyền, vượt quá chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

Thứ hai, hệ thống pháp luật đã thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân lao động

Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được ban hành với mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân. Lợi ích này chính là ý chí, nguyện vọng đích thực của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của VBQPPL khi có hiệu lực thi hành. Hệ thống VBQPPL của cơ quan hành chính đã bám sát quyền lợi thiết thực của nhân dân, ví dụ như việc đơn giản hóa các thủ tục thành lập doanh nghiệp khi hướng dẫn Luật Doanh nghiệp năm 2014; thủ tục đầu tư dự án khi hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư năm 2014. Chính phủ đã kịp thời ban hành nhiều nghị định hướng dẫn Luật Doanh nghiệp như ban hành nghị định về đăng ký kinh doanh, nghị định về quản trị công ty đại chúng... Các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động, mở rộng quyền của lao động nữ liên quan đến thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi, chế độ thai sản, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế. Khi Quốc hội ban hành Luật Đất đai với các quy định mở rộng quyền của người sử dụng đất, Chính phủ đã ban hành nghị định, các bộ đã ban hành thông tư để hướng dẫn thi hành.

Thứ ba, nội dung của hệ thống pháp luật ngày càng đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội

Trong xu thế hội nhập thế giới cùng với mục tiêu đẩy mạnh hoạt động công nhiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước, nhiều VBQPPL áp đặt ý chí đơn phương mang nặng tính chủ quan đã được thay thế bằng những VBQPPL thực sự bắt rễ từ cuộc sống, phản ánh đúng quy luật khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của đất nước ta. Các VBQPPL đã mang hơi thở của cuộc sống dựa trên những vấn đề bức xúc đang đặt ra trong đời sống xã hội như lĩnh vực đầu tư, ngân hàng, thị trường tiền tệ, xuất nhập khẩu, phát triển doanh nghiệp…

Thứ tư, hệ thống pháp luật đã có sự kế thừa và phát triển các giá trị tiến bộ của nhân loại về quan điểm phát triển kinh tế - xã hội, phù hợp với điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội của nước ta

Hệ thống VBQPPL được ban hành trong thời gian qua có nội dung đã phản ánh được những điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, tiếp cận và phản ánh những giá trị tiến bộ được thừa nhận chung của nhân loại, tuân thủ những quy luật khách quan trong việc phát triển kinh tế - xã hội. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi ban hành đã quan tâm tới việc học hỏi, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm lập quy của các nước trên thế giới, vận dụng vào điều kiện ở Việt Nam, tạo thuận lợi cho việc mở rộng giao lưu hợp tác giữa nước ta và thế giới. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ta đã thể hiện được tư tưởng này trong nội dung của văn bản, ví dụ như hạn chế độc quyền, khuyến khích đầu tư, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh, chống bán phá giá, hiến xác, hiến mô…

Các VBQPPL của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã từng bước đáp ứng yêu cầu hội nhập, các quy định của văn bản được thiết kế theo hướng đảm bảo sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế, bảo đảm phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và cam kết giữa Việt Nam với các nước.

Nhìn chung, hoạt động xây dựng và ban hành VBQPPL đã đáp ứng yêu cầu xây dựng pháp luật trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế, vai trò của công tác xây dựng pháp luật, coi đầu tư cho xây dựng pháp luật thực sự là cho hoạt động đầu tư cho phát triển, vì chất lượng của văn bản pháp luật có ảnh hưởng quyết định đến môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh của cả nền kinh tế, của từng doanh nghiệp và là điều kiện tiên quyết để phát huy có hiệu quả lợi thế quốc gia, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, người dân. Cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân cũng ngày càng nhận thức đầy đủ hơn về vai trò của pháp luật đối với sự phát triển chung của đất nước và của mỗi thành viên trong xã hội, do đó đã quan tâm và đòi hỏi cao hơn đối với hoạt động xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật của các cơ quan nhà nước.

Vai trò của hệ thống pháp luật trong lĩnh vực hội nhập quốc tế cũng có nhiều đóng góp quan trọng, hình thành được một khung pháp luật thống nhất theo các chuẩn mực quốc tế cho việc ký kết, gia nhập, thực hiện các điều ước quốc tế và hoạt động tương trợ tư pháp…

2. Một số hạn chế

Thứ nhất, số lượng văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương ban hành vẫn chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội

Mặc dù các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương đã ban hành nhiều VBQPPL để thực hiện chức năng quản lý nhà nước, theo số liệu thống kê năm 2018 của Bộ Tư pháp cho thấy, trong lĩnh vực đầu tư, với 134 trang văn bản luật, có đến 3.471 trang văn bản hướng dẫn thi hành; tính trung bình, cứ 01 trang luật đất đai, có 19,5 trang văn bản hướng dẫn thi hành; đối với Luật Xây dựng, tỉ lệ này là 12,5 trang… nhưng tiến độ ban hành văn bản vẫn chưa đáp ứng yêu cầu. Tình trạng nợ đọng văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh mặc dù đã giảm so với những năm trước đây, song chưa chấm dứt. Trung bình có khoảng 60% số văn bản được ban hành đúng hạn theo chương trình, kế hoạch. Nhiều nghị định, quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, đặc biệt là thông tư, thông tư liên tịch thường bị chậm 06 tháng, thậm chí chậm hàng năm (như nghị định về hoạt động của công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính ra đời sau 04 năm Luật Các tổ chức tín dụng được ban hành).

Thứ hai, hình thức văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa thực hiện nghiêm túc

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định về thẩm quyền hình thức VBQPPL tương ứng với mỗi cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương từ Chính phủ đến các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp. Tuy nhiên, vẫn có tình trạng cơ quan nhà nước ban hành văn bản không phải là VBQPPL nhưng thực tế áp dụng lại có hiệu lực như VBQPPL.

Khi triển khai thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, thẩm quyền nội dung và thẩm quyền hình thức chưa có sự phân biệt rõ ràng, nhiều trường hợp những vấn đề thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của Bộ trưởng nhưng vẫn ban hành VBQPPL dưới dạng nghị định của Chính phủ hoặc quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Thứ ba, tính thống nhất, tính đồng bộ, cân đối của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chưa cao

Số lượng VBQPPL được ban hành nhiều trong thời gian qua, với các hình thức văn bản, cấp độ hiệu lực khác nhau, nên hệ thống VBQPPL rất phức tạp, cồng kềnh. Hơn nữa, hệ thống pháp luật lại không được thường xuyên rà soát, hệ thống hóa toàn diện; công tác pháp điển, hệ thống hóa, hợp nhất VBQPPL mới bước đầu triển khai nên rất khó tiếp cận, khó hiểu, khó sử dụng… làm cho việc thực hiện VBQPPL trong một số trường hợp còn gặp khó khăn ngay cả đối với những cán bộ pháp chế có trình độ chuyên môn.

Một số nghị định của Chính phủ lại giao cho bộ, ngành, địa phương hướng dẫn thực hiện. Thực tế này đã dẫn đến tình trạng nảy sinh không ít mâu thuẫn giữa văn bản hướng dẫn và văn bản được hướng dẫn thi hành. Bên cạnh đó, tính ổn định của VBQPPL chưa cao, đặc biệt là những VBQPPL ở những lĩnh vực kinh tế, tài chính, ngân hàng, đất đai thường xuyên thay đổi. Ngược lại, một số lĩnh vực pháp luật cần có sự khái quát cao, cần có sự điều chỉnh linh hoạt để phù hợp với sự phát triển năng động của quan hệ kinh tế, xã hội thì các VBQPPL lại quy định quá chi tiết.

Trong quá trình nghiên cứu, theo tác giả những hạn chế trên xuất phát từ các nguyên nhân chính sau đây: (i) Về nguyên nhân khách quan, công tác xây dựng pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương ở nước ta mới được thực sự quan tâm thực hiện trong khoảng 20 - 30 năm trở lại đây, nên chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc triển khai thực hiện, có việc còn lúng túng. Đất nước ta đang trong quá trình chuyển đổi, nhiều quan hệ xã hội mới được định hình, tính ổn định chưa cao. Trong một số trường hợp, đòi hỏi pháp luật phải đi trước để hình thành, tạo hành lang pháp lý thúc đẩy sự phát triển của các quan hệ xã hội, nhưng công tác nghiên cứu khoa học pháp lý còn chưa theo kịp; điều kiện tổ chức thực hiện trên thực tế còn rất nhiều khó khăn. (ii) Về nguyên nhân chủ quan, tư duy về xây dựng pháp luật chưa chuyển đổi mạnh mẽ, chưa thực sự phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Trình độ, năng lực xây dựng pháp luật, tổ chức thi hành pháp luật của cán bộ còn nhiều hạn chế. Công tác nghiên cứu, xây dựng chính sách trong quá trình soạn thảo VBQPPL chưa được đầu tư nghiên cứu, phân tích nên tính dự báo trong xây dựng pháp luật còn thấp. Kỷ luật, kỷ cương trong việc xây dựng và tổ chức triển khai thi hành pháp luật chưa nghiêm. Cơ chế huy động trí tuệ của nhân dân, xã hội vào công tác xây dựng pháp luật, bảo đảm sự kiểm tra, giám sát của người dân, xã hội đối với công tác thi hành pháp luật chưa thực sự phát huy hiệu quả. Tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ tham gia vào công tác xây dựng pháp luật và theo dõi thi hành pháp luật còn nhiều hạn chế. Nguồn lực tài chính dành cho công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật chưa được bố trí đúng mức cần thiết.

3. Các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của pháp luật trong phát triển kinh tế, xã hội ở nước ta thời kỳ hội nhập

Thứ nhất, tăng cường kỷ cương theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 để văn bản quy phạm pháp luật đáp ứng yêu cầu nền hành chính trong sạch, hiệu lực, hiệu quả

Hiến pháp năm 2013 đã có nhiều quy định phù hợp với mô hình nhà nước đơn nhất, được tổ chức và vận hành theo nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tạo khuôn khổ Hiến định rộng lớn cho việc xác định rõ sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; trong đó, có quy định về thẩm quyền và hình thức văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành; cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu phải chú trọng công tác hoạch định chính sách, tổ chức thi hành và theo dõi việc thi hành pháp luật, xử lý các văn bản trái pháp luật... Đây là căn cứ rất quan trọng cho việc xây dựng thể chế nhà nước theo quan điểm mới về xây dựng pháp luật với những quy định mang tính đột phá vì mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền và nền hành chính trong sạch, hiệu lực, hiệu quả.

Muốn làm được điều này, cần có quan điểm đột phá về hoàn thiện thể chế hành chính (trong mối quan hệ thể chế chung của Nhà nước). Cần có quan điểm, chủ trương lớn là tập trung thực hiện tốt khâu thi hành pháp luật, gắn quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật với tổ chức thi hành pháp luật nhằm xây dựng và vận hành hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, minh bạch, khả thi, dễ tiếp cận, hiệu lực và hiệu quả.

Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong giai đoạn hiện nay phải bám vào yêu cầu đổi mới hệ thống chính quyền

Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải có sự đổi mới căn bản với định hướng và mục tiêu pháp lý rõ ràng, đầy đủ, đồng bộ, thống nhất và có tính khả thi cao, đáp ứng yêu cầu ổn định và phát triển của địa phương, gắn liền phân cấp, phân quyền, mở rộng dân chủ. Trong đó, phân định rõ ràng thẩm quyền, vị trí, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan hành chính cấp trung ương với cơ quan hành chính cấp địa phương và cơ quan hành chính thuộc đơn vị hành chính đặc biệt. Chỉ khi đó, chúng ta mới xác định chính xác thẩm quyền về nội dung ban hành VBQPPL của cơ quan hành chính trong hệ thống chính trị. Cần xác định lại thẩm quyền ban hành VBQPPL của Ủy ban nhân dân các cấp, Chính phủ phải đổi mới linh hoạt trong việc ban hành VBQPPL và thẩm quyền ban hành VBQPPL chỉ nên quy định đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Còn cấp huyện, cấp xã chỉ là cấp tổ chức thực hiện nên không cần thiết phải ban hành VBQPPL mà chỉ cần ban hành các quyết định hành chính cá biệt hoặc văn bản hành chính thông thường để thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương.

Các chủ thể có trách nhiệm bảo vệ chính sách do mình đề xuất trong suốt quá trình thảo luận, thông qua dự án; chịu trách nhiệm chủ trì trong việc chỉnh lý, hoàn thiện đề nghị xây dựng VBQPPL cũng như trong quá trình soạn thảo, trình các VBQPPL. Quy định rành mạch trách nhiệm của cơ quan soạn thảo theo hướng yêu cầu cơ quan chủ trì phải bảo đảm chất lượng dự thảo VBQPPL; phải trình dự án đúng thời hạn. Bên cạnh đó, để nâng cao trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương trong công tác xây dựng VBQPPL cần quy định trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, chính quyền cấp tỉnh trong việc bồi thường thiệt hại do việc chậm ban hành VBQPPL hoặc ban hành VBQPPL trái Hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị định...

Thứ ba, cần chú trọng xây dựng chính sách trong quá trình trước khi tiến hành soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật

Cơ quan xây dựng VBQPPL cần nghiên cứu xây dựng, phân tích chính sách, đánh giá tác động chi tiết từng chính sách, đặc biệt là tác động đến kinh tế và xã hội trong điều kiện hội nhập quốc tế; lấy ý kiến cơ quan tổ chức, cá nhân, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp VBQPPL. Bởi lẽ, một trong những khâu yếu nhất của quy trình ban hành VBQPPL của cơ quan nhà nước hiện nay là khâu xây dựng nội dung chính sách, đánh giá tác động của chính sách. Nghĩa là trên thực tế có rất nhiều VBQPPL ra đời nhưng chính sách lại không thực tế, thiếu khả thi, thiếu thống nhất. Điều này xuất phát từ hoạt động phân tích, hoạch định chính sách còn hạn chế, chưa được coi trọng và chưa được đầu tư nghiêm túc khi ban hành VBQPPL, mới chỉ chú trọng đến thủ tục, thẩm quyền và sự cần thiết ban hành văn bản mà chưa tập trung vào việc lập và phân tích chính sách ngay trong giai đoạn này.

ThS. Cao Phan Long

Đại học Thủ đô Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: