Thứ năm 14/05/2026 23:23
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vấn đề thời hiệu đối với người chưa thành niên trong Bộ luật Hình sự một số nước và kinh nghiệm cho Việt Nam

Trong phạm vi bài viết, chúng tôi tập trung nghiên cứu những quy định đặc thù về thời hiệu trong BLHS một số nước có liên quan đến người chưa thành niên để từ đó rút ra kinh nghiệm hoàn thiện quy định của BLHS Việt Nam về vấn đề này.

Xuất phát từ đặc thù tâm lý lứa tuổi của mình, người chưa thành niên luôn là đối tượng cần được sự quan tâm và bảo vệ đặc biệt. Thể hiện điều này, Bộ luật Hình sự (BLHS) Việt Nam đã có những quy định để bảo đảm quyền của người chưa thành niên là người bị hại cũng như người chưa thành niên là người phạm tội[1]. Tuy nhiên, khi nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy BLHS chưa có những quy định riêng về “thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự” và “thời hiệu thi hành bản án” đối với người chưa thành niên. Trong khi đó, vấn đề này đã được quy định khá chi tiết trong luật hình sự của một số nước trên thế giới.

Trong phạm vi bài viết, chúng tôi tập trung nghiên cứu những quy định đặc thù về thời hiệu trong BLHS một số nước có liên quan đến người chưa thành niên để từ đó rút ra kinh nghiệm hoàn thiện quy định của BLHS Việt Nam về vấn đề này.

1. Quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam về thời hiệu đối với người chưa thành niên

Thứ nhất, đối với người chưa thành niên là người phạm tội

BLHS năm 1999 đã dành riêng Chương X để quy định về vấn đề trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội. Tuy nhiên, vấn đề thời hiệu không được quy định riêng đối với người chưa thành niên phạm tội. Do không có quy định riêng nên những quy định về thời hiệu đối với người chưa thành niên phạm tội được áp dụng như người đã thành niên[2].

Hiện nay, BLHS năm 1999 không đưa ra định nghĩa pháp lý về thời hiệu mà chỉ đưa ra định nghĩa của từng loại thời hiệu cụ thể[3]. Theo đó, thời hiệu trong BLHS năm 1999 gồm có thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 23, Điều 24 BLHS) và thời hiệu thi hành bản án (Điều 55, Điều 56 BLHS).

Về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự: Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do BLHS quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Để được miễn trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 23 BLHS, người phạm tội phải có đủ các điều kiện sau:

- Kể từ ngày thực hiện tội phạm đã trải qua một khoảng thời gian: 5 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng, 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện (khoản 3 Điều 23 BLHS).

- Trong thời hạn nói trên người phạm tội không được phạm tội mới mà BLHS quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên một năm tù.

- Trong thời hạn nói trên, người phạm tội không được cố tình trốn tránh và chưa có lệnh truy nã.

Về thời hiệu thi hành bản án: Thời hiệu thi hành bản án quy định tại Điều 55 và Điều 56 BLHS được hiểu là thời hiệu thi hành bản án hình sự về quyết định hình phạt[4]. Theo đó, người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt khi có đủ các điều kiện:

- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đã trôi qua khoảng thời gian: 5 năm đối với các trường hợp xử phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc xử phạt tù từ 3 năm trở xuống; 10 năm đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên 3 năm đến 15 năm; 15 năm đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên 15 năm đến 30 năm. Thời hiệu thi hành bản án hình sự tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (khoản 3 Điều 55 BLHS).

- Trong thời hạn nói trên, người bị kết án không được phạm tội mới.

- Trong thời hạn thi hành bản án, người phạm tội không được cố tình trốn tránh và không có lệnh truy nã.

Với quy định về thời hiệu trên cho thấy, các điều kiện không được phạm tội mới, không được cố tình trốn tránh và chưa có lệnh truy nã là những điều kiện cần thiết chung mà người phạm tội phải đáp ứng để chứng tỏ rằng dù người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không phải chấp hành hình phạt nhưng coi như mục đích của việc truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc mục đích của hình phạt đã đạt được nên các điều kiện này được áp dụng như nhau giữa người thành niên và người chưa thành niên phạm tội là hợp lý. Tuy nhiên, điều kiện về khoảng thời gian đã trôi qua để tính thời hiệu được quy định như nhau giữa người thành niên và chưa thành niên phạm tội là chưa hợp lý, chưa thể hiện được sự nhất quán trong đường lối xử lý người chưa thành niên phạm tội ở nước ta.

Thứ hai, đối với người chưa thành niên là người bị hại

BLHS Việt Nam chưa có quy định nào trong về thời hiệu để bảo vệ quyền của người chưa thành niên là người bị hại.

2. Quy định về thời hiệu đối với người chưa thành niên trong BLHS một số nước trên thế giới

2.1. Đối với người chưa thành niên là người phạm tội

- BLHS Liên Bang Nga: Điều 94 BLHS Liên Bang Nga quy định về thời hiệu áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội: “Thời hiệu đã được xem xét tại các Điều 78 và Điều 83 Bộ luật này, khi miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn chấp hành hình phạt cho người chưa thành niên phạm tội sẽ được giảm đi một nửa”. Theo đó, BLHS Liên Bang Nga quy định cả thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 78) và thời hiệu chấp hành hình phạt (Điều 83 BLHS)[5]. Tuy nhiên, đối với người chưa thành niên phạm tội từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi (khoản 1 Điều 87) thì thời hiệu đối với họ chỉ bằng một phần hai so với người đã thành niên.

- BLHS Cộng hòa Armenia: Điều 95 BLHS Armenia quy định: “Đối với người phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thi hành hình phạt được quy định tại Điều 75 và Điều 81 của Bộ luật này được giảm một nửa thời hạn tương ứng”. Quy định này cho thấy, BLHS Armenia cũng quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thi hành hình phạt[6]. Tuy nhiên, đối với người chưa thành niên khi chưa đủ 18 tuổi thì các thời hiệu này được giảm một nửa so với người đã thành niên.

- BLHS Indonesia: Vấn đề thời hiệu được BLHS Indonesia quy định trong Chương VIII của Bộ luật bao gồm quy định về thời hạn của thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 78) và thời hiệu thi hành hình phạt (Điều 84). Đối với người chưa thành niên phạm tội, BLHS Indonesia chỉ có quy định riêng về thời hạn của thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa đủ 18 tuổi tại khoản 2 Điều 78 mà không có quy định riêng về thời hạn của thời hiệu thi hành hình phạt. Cụ thể, khoản 2 Điều 78 BLHS Indonesia quy định: “Đối với người thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nêu trên sẽ được giảm nhẹ một phần ba thời hạn”.

Qua quy định của BLHS Liên Bang Nga, Armenia và Indonesia, chúng tôi có thể thấy, khi quy định về thời hiệu đối với người chưa thành niên phạm tội, thì người chưa thành niên phạm tội luôn được hưởng một thời hiệu ngắn hơn so với người đã thành niên. Đây là những quy định có lợi cho người chưa thành niên phạm tội.

2.2. Đối với người chưa thành niên là người bị hại

- BLHS Cộng hòa Liên bang Đức: BLHS Cộng hòa Liên bang Đức quy định về thời hiệu trong một chương riêng là Chương thứ năm của Bộ luật, bao gồm thời hiệu truy cứu và thời hiệu chấp hành án. Trong các quy định về thời hiệu truy cứu, BLHS Cộng hòa Liên bang Đức đã có những quy định để đảm bảo được quyền của người bị hại là người chưa thành niên thông qua quy định về thời điểm bắt đầu tính để được hưởng thời hiệu. Điều 78a BLHS Cộng hòa Liên Bang Đức quy định: “Thời hiệu truy cứu bắt đầu được tính ngay khi hành vi kết thúc. Nếu một hậu quả thuộc cấu thành tội phạm phát sinh sau đó thì thời hiệu bắt đầu từ thời điểm này”. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 78b lại có quy định về vấn đề ngưng lại của thời hiệu truy cứu khi nạn nhân của hành vi phạm tội là người chưa đủ 18 tuổi: “Thời hiệu ngưng lại đến khi nạn nhân đủ 18 tuổi ở các tội theo Điều 174 đến 174c, 176 đến 179 và 225 cũng như theo các Điều 224 và 226 nếu có ít nhất một người tham gia vi phạm Điều 225 qua cùng một hành vi”[7]. Như vậy, để bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên là người bị hại, BLHS Cộng hòa Liên bang Đức quy định về việc thời hiệu truy cứu bị ngưng lại. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội sẽ không được tính ngay khi hành vi phạm tội kết thúc hoặc khi có hậu quả thuộc cấu thành tội phạm phát sinh mà thời hiệu truy cứu chỉ bắt đầu được tính khi nạn nhân đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, thời hiệu truy cứu không phải ngưng lại đối với tất cả các hành vi phạm tội có người bị hại là người chưa đủ 18 tuổi mà thời hiệu chỉ ngưng lại đối với một số tội phạm nhất định liên quan đến quyền được bảo vệ thân thể và quyền tình dục của người chưa thành niên.

- BLHS Thụy Điển: Các quy định liên quan đến thời hiệu được BLHS Thụy Điển quy định tại Chương 35 (thời hiệu áp dụng chế tài), trong đó vừa có quy định về thời hiệu để người phạm tội không bị áp dụng chế tài, vừa có quy định về thời hiệu thi hành bản án. Với thời hiệu để người phạm tội không bị áp dụng chế tài được quy định tại Điều 1 Chương 35, BLHS Thụy Điển cũng đã có quy định để bảo đảm được quyền của người bị hại là người chưa đủ 15 tuổi. Điều 4 Chương 35 BLHS Thụy Điển quy định thời hạn để không bị áp dụng chế tài tại Điều 1 Chương 35 “được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu hậu quả của hành vi là điều kiện tiên quyết để quyết định chế tài thì thời hạn được tính từ ngày hậu quả đó xảy ra”. Tuy nhiên, đoạn 2 Điều 4 Chương 35 lại quy định: “Trường hợp tội phạm được quy định tại Chương 6, Điều 4-1 và Điều 6 hoặc một hành vi phạm tội chưa đạt đối với tội phạm đó được thực hiện đối với trẻ em dưới 15 tuổi, thời hạn đã nêu trong Điều 1 sẽ được tính từ ngày mà bên bị hại đủ 15 tuổi”[8]. Do đó, thực chất, đoạn 2 Điều 4 Chương 35 BLHS Thụy Điển đã quy định về việc thời hiệu để không bị áp dụng chế tài bị ngưng lại khi người bị hại là người chưa đủ 15 tuổi. Thời hiệu chỉ bắt đầu được tính kể khi người bị hại đã đủ 15 tuổi. Tuy nhiên, cũng tương tự như BLHS Cộng hòa Liên bang Đức, thời hiệu không áp dụng chế tài trong BLHS Thụy Điển không phải ngưng đối với tất cả các trường hợp phạm tội có người bị hại là người chưa đủ 15 tuổi mà thời hiệu chỉ ngưng đối với một số tội phạm nhất định liên quan đến quyền được bảo vệ về tình dục của người chưa đủ 15 tuổi.

- BLHS Na Uy: Vấn đề thời hiệu được BLHS Na uy quy định tại Chương 6 bao gồm thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự tại Điều 67 và thời hiệu thi hành bản án tại Điều 71. Trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, BLHS Na uy đã có quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của người bị hại là người chưa đủ 18 tuổi. Cụ thể, Điều 68 BLHS Na uy quy định: “Thời hạn của thời hiệu quy định tại Điều 67 được tính kể từ ngày hành vi phạm tội kết thúc. Tuy nhiên, đối với hành vi phạm tội quy định tại Điều 195, Điều 196, thời hiệu chỉ bắt đầu được tính kể từ ngày người bị hại đủ 18 tuổi”. Theo Điều 68 BLHS Na uy, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thông thường sẽ được tính kể từ ngày hành vi phạm tội kết thúc trên thực tế. Tuy nhiên, thời hiệu này sẽ bị ngưng lại trong trường hợp người bị hại là người chưa đủ 18 tuổi đối với một số tội phạm nhất định được quy định tại Điều 195 và Điều 196 BLHS Na uy - là các tội phạm xâm phạm tình dục đối với trẻ em[9].

Qua tham khảo quy định của BLHS Cộng hòa Liên Bang Đức, Thụy Điển và Na uy có thể thấy, để bảo vệ quyền của người chưa thành niên là người bị hại, BLHS của các nước đều có quy định về việc thời hiệu bị ngưng lại đối với một số tội phạm nhất định và thời hiệu chỉ bắt đầu được tính khi người bị hại đạt đến những độ tuổi luật định.

3. Kiến nghị hoàn thiện quy định của BLHS Việt Nam về thời hiệu đối với người chưa thành niên

3.1. Đối với người chưa thành niên là người phạm tội

Từ quy định của BLHS Liên Bang Nga, Armenia và BLHS Indonesia, có thể thấy, thời hiệu đối với người chưa thành niên phạm tội thường được BLHS quy định với thời hạn ngắn hơn so với người đã thành niên. Do đó, học hỏi kinh nghiệm của BLHS các nước này, chúng tôi kiến nghị cần bổ sung thêm một điều luật nằm sau Điều 76 BLHS và nằm trước Điều 77 BLHS để quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thi hành bản án áp dụng riêng cho người chưa thành niên phạm tội theo hướng rút ngắn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự tại Điều 23 BLHS và thời hiệu thi hành bản án tại Điều 55 BLHS xuống còn một phần hai so với người đã thành niên như sau:

Điều…Thời hiệu

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thi hành bản án đối với người chưa thành niên là một phần hai thời hạn quy định tại Điều 23 và Điều 55 của Bộ luật này.

Kiến nghị này của chúng tôi đưa ra là hoàn toàn phù hợp với quy định của luật quốc tế cũng như luật quốc gia trong đường lối xử lý người chưa thành niên phạm tội:

Thứ nhất, trong Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966 cũng như Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989, khi quy định vấn đề xử lý người chưa thành niên phạm tội thì luôn nhằm hướng đến việc đối xử nhân đạo, chủ yếu nhằm mục đích cải tạo, giáo dục người chưa thành niên trở thành những công dân có ích cho xã hội. Cụ thể, khoản 4 Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 quy định: “Tố tụng áp dụng đối với những người chưa thành niên phải xem xét tới độ tuổi của họ và mục đích thúc đẩy sự phục hồi nhân cách của họ”; điểm c Điều 37 Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 quy định: “Mọi trẻ em bị tước quyền tự do phải được đối xử nhân đạo với sự tôn trọng phẩm giá vốn có của con người, theo cách thức có tính đến các nhu cầu của những người ở lứa tuổi các em”; mục 2.3 Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp Quốc về hoạt động tư pháp đối với vị thành niên năm 1985 (Quy tắc Bắc Kinh) quy định: “2.3. Trong mỗi hệ thống pháp luật quốc gia, cần phải cố gắng xây dựng một hệ thống các văn bản pháp luật, những quy tắc, quy định áp dụng riêng đối với người chưa thành niên”.

Thứ hai, ở Việt Nam, khi nghiên cứu Hiến pháp năm 2013 và Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004, chúng tôi nhận thấy các văn bản này chỉ quy định những quyền của trẻ em nói chung mà không quy định về những quyền đặc thù của người chưa thành niên phạm tội. Những quyền đặc thù của người chưa thành niên phạm tội chỉ được ghi nhận trong các quy định của BLHS. Tuy nhiên, với quy định của BLHS năm 1999, chúng ta có thể thấy, phần lớn các quy định trong Phần Chung BLHS đối với người phạm tội nói chung mà có thời hạn đều được Chương X - chương dành riêng cho người chưa thành niên phạm tội ghi nhận sự giới hạn thời hạn đó nhưng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thi hành bản án không được Chương X quy định. Do đó, với yêu cầu hoàn thiện pháp luật hình sự, việc sửa đổi quy định về thời hiệu theo hướng quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thi hành bản án đối với người chưa thành niên phạm tội ngắn hơn thời hạn mà BLHS quy định đối với người thành niên là một yêu cầu tất yếu.

3.2. Về thời điểm bắt đầu tính để được hưởng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp người bị hại là người chưa thành niên

Học hỏi kinh nghiệm của BLHS Cộng hòa Liên bang Đức, Thụy Điển và Na uy, chúng tôi kiến nghị, khoản 3 Điều 23 BLHS cần bổ sung thêm quy định về vấn đề thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ bị ngưng lại trong một số trường hợp khi người bị hại là người chưa đủ 16 tuổi. Tức là trong một số trường hợp, khi người bị hại là người chưa đủ 16 tuổi thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự tại Điều 23 BLHS không được tính kể từ ngày tội phạm được thực hiện mà thời hiệu chỉ bắt đầu được tính kể từ khi người bị hại đủ 16 tuổi. Khoảng thời gian từ khi thực hiện tội phạm đến khi nạn nhân chưa đủ 16 tuổi sẽ bị ngưng lại, không được tính. Những trường hợp thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự bị ngưng lại không được tính khi người bị hại chưa đủ 16 tuổi là những trường hợp thực hiện hành vi xâm hại tình dục trẻ em với các tội: Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112 BLHS), Tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 114 BLHS), Tội giao cấu với trẻ em (Điều 115 BLHS), Tội dâm ô đối với trẻ em (Điều 116 BLHS), Tội mua dâm người chưa thành niên (điểm b khoản 2 Điều 256 BLHS). Cụ thể, cần bổ sung vào Điều 23 BLHS khoản 3 nội dung:

“3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Tuy nhiên, đối với hành vi phạm tội quy định tại Điều 112, Điều 114, Điều 115, Điều 116, điểm b khoản 2 Điều 256 thời hiệu chỉ bắt đầu được tính kể từ ngày người bị hại đủ 16 tuổi… Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này người phạm tội... ra tự thú hoặc bị bắt giữ”.

Bên cạnh việc học hỏi kinh nghiệm của BLHS Cộng hòa Liên bang Đức, BLHS Thụy Điển, BLHS Na uy, kiến nghị về việc ngưng lại thời hiệu trên đây của chúng tôi còn xuất phát từ những lý do sau đây:

Thứ nhất, xuất phát từ quy định tại Khoản 1 Điều 37 của Hiến pháp năm 2013: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em”, việc ngưng lại thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các vụ án hình sự mà trẻ em là nạn nhân theo quan điểm của các tác giả là cần thiết và phù hợp với quan điểm của Hiến pháp trong việc bảo vệ quyền của trẻ em.

Thứ hai, với quy định của BLHS Việt Nam hiện nay, nên quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự bị ngưng lại khi người bị hại chưa đủ 16 tuổi là hợp lý, bởi: (i) Theo quy định tại khoản 1 Điều 12 của BLHS Việt Nam thì “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm”. Với quy định này của BLHS có thể thấy, BLHS thừa nhận người từ đủ 16 tuổi là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Đối với người từ 16 tuổi trở lên thì họ đã có sự trưởng thành nhất định để nhận thức được tính nguy hiểm của hành vi phạm tội đối với mình và có thể tự bảo vệ quyền lợi cho mình. (ii) Với quy định của pháp luật Việt Nam nói chung và luật hình sự Việt Nam nói riêng thì trẻ em là người chưa đủ 16 tuổi, còn người chưa thành niên là người từ đủ 16 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi. Điều 37 Hiến pháp năm 2013 đặc biệt nêu lên vấn đề về bảo vệ quyền của trẻ em và nghiêm cấm các hành vi xâm phạm những quyền này. Tương ứng với quy định này thì BLHS Việt Nam cũng có một số điều luật liên quan đến các tội có đối tượng tác động là trẻ em. Với đặc thù tâm lý lứa tuổi của mình, người chưa đủ 16 tuổi là lứa tuổi mà khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi còn rất hạn chế nên trẻ em cần có sự bảo vệ đặc biệt từ phía nhà nước hơn so với những đối tượng khác. Điều này thể hiện rõ trong BLHS năm 1999 thông qua quy định của Phần Chung cũng như Phần Các Tội phạm của BLHS, mà đặc biệt, trong Phần các Tội phạm của BLHS quy định rất nhiều tội phạm có đối tượng tác động là trẻ em - người chưa đủ 16 tuổi như Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112), Tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 114 BLHS), Tội giao cấu với trẻ em (Điều 115), Tội dâm ô đối với trẻ em (Điều 116)…

Thứ ba, chúng tôi kiến nghị thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ ngưng lại đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em bao gồm Điều 112 BLHS, Điều 114 BLHS, Điều 115 BLHS, Điều 116 BLHS, điểm b khoản 2 Điều 256 BLHS mà không kiến nghị ngưng lại đối với các tội phạm khác bởi tình trạng xâm hại tình dục trẻ em hiện nay xảy ra rất phổ biến và độ ẩn của nhóm tội xâm hại tình dục trẻ em tương đối cao. Điều này xuất phát từ những nguyên nhân liên quan đến đặc thù tâm lý lứa tuổi của trẻ em. Theo đó, người phạm tội đã lợi dụng sự non nớt, thiếu hiểu biết của các em để thực hiện tội phạm. Khi bị xâm hại tình dục, trong một số trường hợp, bản thân các em không đủ khả năng nhận thức để biết được mình đang bị xâm hại. Mặt khác, tâm lý của trẻ em bị tác động rất xấu sau khi bị xâm hại tình dục, trẻ em không dám tố cáo hành vi phạm tội cũng như lo sợ bị đánh đập, đe dọa. Vì vậy, khả năng chống lại người có hành vi xâm hại tình dục của trẻ em và khả năng người phạm tội bị đưa ra truy cứu trách nhiệm hình sự là hạn chế hơn so với những trường hợp khác.

Mai Thị Thủy & Hoàng Thị Kim Anh

Trường Đại học Luật TP.HCM


[1] Theo pháp luật hình sự Việt Nam, người chưa thành niên với tư cách là chủ thể của tội phạm được hiểu là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi; còn người chưa thành niên với tư cách là người bị hại là người dưới 18 tuổi, trong đó bao gồm cả khái niệm trẻ em - người dưới 16 tuổi.

[2] Xem Điều 68 BLHS.

[3] Khoản 1 Điều 23 BLHS và khoản 1 Điều 55 BLHS.

[4] Xem: Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt.

[5] Điều 78. Miễn TNHS do đã hết thời hiệu.

Điều 83. Miễn chấp hành hình phạt do hết thời hiệu của bản án.

[6] Điều 75 BLHS Armenia quy định về thời hiệu truy cứu TNHS.

Điều 81 BLHS Armenia quy định về thời hiệu thi hành hình phạt.

[7] Đây là các tội xâm phạm tình dục đối với trẻ em.

[8] Chương 6, Điều 4 -1 và 6 quy định các tội phạm về tình dục.

[9] Điều 195. Hành vi xâm hại tình dục đối với trẻ em là người dưới 14 tuổi.

Điều 196. Hành vi xâm hại tình dục đối với trẻ em là người dưới 16 tuổi.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: