Chủ nhật 31/05/2026 20:45
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Văn hóa công vụ - Các yếu tố tác động và giải pháp thực hiện ở nước ta hiện nay

Tóm tắt: Bài viết này phân tích các yếu tố tác động và đưa ra một số giải pháp để thực hiện văn hóa công vụ ở nước ta hiện nay.

Tóm tắt: Bài viết này phân tích các yếu tố tác động và đưa ra một số giải pháp để thực hiện văn hóa công vụ ở nước ta hiện nay.

Abstract: This article analyzes impact factors and puts forward some solutions for implementing public service culture in our country today.

Năm 2019, văn hóa công vụ (VHCV) là một cụm từ xuất hiện khá thường xuyên trên các tạp chí, báo, trang thông tin điện tử… bởi sự kiện Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định về việc phê duyệt Đề án Văn hóa công vụ (Quyết định số 1847/QĐ-TTg ngày 27/12/2018). Quyết định này được xem là cú hích quan trọng để nền công vụ Việt Nam nhanh chóng khắc phục những trì trệ nhằm đạt được mục tiêu như đã đề ra tại Đề án này.

Có nhiều ý kiến chưa hoàn toàn thống nhất, song cơ bản nhiều người đồng ý rằng: “Văn hóa công vụ là văn hóa tổ chức đặc thù, bao gồm hệ thống biểu tượng, chuẩn mực, giá trị, niềm tin hình thành trong nhận thức tạo nên tầm nhìn, tác động đến lối sống, hành vi và lề lối làm việc của người thực thi công vụ, tạo ra môi trường tổ chức, có khả năng lưu truyền và ảnh hưởng tới chất lượng công vụ”[1].

Trong thời gian qua, quá trình thực thi công vụ ở Việt Nam đã xác lập được những giá trị hết sức cơ bản về VHCV, giúp cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) góp phần đưa đất nước đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử cả trong giữ nước và dựng nước. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận không nhỏ trong đội ngũ CBCCVC coi thường kỷ cương, phép nước, “dĩ công vi tư” nhằm thỏa mãn tham vọng cá nhân về quyền lực, vật chất, hưởng lạc thú… Đến nay thì hậu quả của những biểu hiện đó là cực kỳ nghiêm trọng. Đặc biệt, bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện như hiện nay đòi hỏi phải phát triển nền công vụ chính quy, hiện đại, chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, sáng tạo, minh bạch, cởi mở, hiệu lực, hiệu quả mới đáp ứng được yêu cầu.

Để xây dựng văn hóa công vụ ở nước ta đáp ứng yêu cầu hiện nay, cần xác định rõ những yếu tố tác động, đó là cơ sở nhằm đề ra các giải pháp phù hợp và khả thi.

1. Những yếu tố tác động đến văn hóa công vụ ở Việt Nam hiện nay

1.1. Truyền thống dân tộc

Truyền thống dân tộc là những phong tục, tập quán, tư tưởng, lối sống, lối nghĩ, hành vi... đã được cộng đồng thừa nhận và duy trì, được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chính vì vậy, truyền thống luôn tác động và hiện diện trong cuộc sống hiện tại, dù bản thân chúng ta có ý thức về điều đó hay không. Truyền thống theo cách gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đó chính là “cái cũ”. Đội ngũ CBCCVC cũng là một nhóm người cụ thể trong xã hội, cũng chịu ảnh hưởng từ thuyền thống quốc gia, dân tộc. Vì vậy, truyền thống cũng tác động đến văn hóa công vụ theo cả hai chiều tích cực và tiêu cực. Bởi “cái cũ” thì có “cái tốt”, “cái xấu”, “cái không xấu nhưng phiền phức” như Bác đã nêu rõ.

(i) Một số tác động tích cực:

Trước hết, chúng ta cần phải hiểu rằng, nền văn hóa truyền thống của Việt Nam vốn không phân biệt rạch ròi từng lĩnh vực trong quản lý xã hội, đất nước. Vì vậy, giữa pháp luật và đạo đức có mối quan hệ ràng buộc, tác động qua lại, bổ sung và chuyển hóa cho nhau. Các triều đại phong kiến ở Việt Nam vẫn có hệ thống luật pháp với việc ban hành các bộ luật, điều đó có thể hiện tư tưởng “pháp trị”. Song về cơ bản, các triều đại ấy vẫn trú trọng và phát huy các quy chuẩn đạo đức để quản lý xã hội, vì vậy, tư tưởng “đức trị” được thể hiện rất rõ. Nền tảng đạo đức phong kiến như “trung quân, ái quốc”, “tôn sư trọng đạo”, “hiếu kính với cha”, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín… là những cơ sở quan trọng để quản lý xã hội.

Văn hóa truyền thống Việt Nam có nhiều giá trị đặc trưng, tiêu biểu của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp qua hàng ngàn năm lịch sử. Nổi bật nhất đó là lòng yêu nước nồng nàn, hoàn cảnh lịch sử Việt Nam đã hun đúc, tôi rèn người Việt tinh thần quyết tâm giữ nước và xây dựng nước một cách cao độ. Lòng tự cường dân tộc đó đã tiếp cho nhân dân sức mạnh để đưa đất nước hòa nhập với xu thế phát triển chung và khẳng định vị thế của Việt Nam.

Thứ đến, tinh thần tập thể, tính cộng đồng cao. Tập quán sinh sống trong các làng, xã giúp mọi người gần gũi, gắn bó và đoàn kết với nhau. Trong quản lý xã hội xưa thì không chỉ “phép vua”, mà “lệ làng”, “hương ước”, “luật tục”… cũng rất quan trọng. Điều đó khiến cho hành vi vi phạm pháp luật khi bị pháp luật trừng phạt không chỉ mang tính răn đe với từng cá nhân người phạm tội, mà họ còn phải chịu “búa rìu” dư luận xã hội từ gia đình, từ dòng họ, từ cộng đồng (có khi còn đáng sợ hơn cả án tử hình). Vì vậy, người Việt Nam (trong đó có đội ngũ CBCCVC) cơ bản đều có ý thức trách nhiệm gìn giữ uy tín, danh dự cho bản thân, gia đình, dòng họ trước cộng đồng. Bên cạnh đó, văn hóa Việt Nam còn có sự ảnh hưởng đậm nét của Nho giáo và Phật giáo, mà hai tôn giáo trên có những quy phạm đạo đức giúp cho xã hội ổn định hơn, ít tranh chấp, giảm xung đột… Vì vậy, việc quản lý xã hội cũng dễ dàng hơn. Các tư tưởng, nhiệm vụ, bổn phận được phát huy đúng cũng giúp người dân nói chung, đội ngũ CBCCVC nói riêng có ý thức hơn về trách nhiệm của mình với gia đình, xã hội và đất nước.

Một điểm hết sức quan trọng khác là tình thương yêu con người, đó là giá trị đạo đức đặc trưng đáng tự hào của dân tộc ta. Đây là cơ sở rất quan trọng khiến cho đội ngũ CBCCVC phải có cái tâm vì dân. Tinh thần “thương người như thể thương thân” làm cho đại đa số người Việt Nam luôn coi trọng chữ tình trong quan hệ ứng xử, bởi “vì tình vì nghĩa ai vì đĩa xôi đầy”, “người sống hơn đống vàng”. Và cao hơn đó là “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/Người trong một nước phải thương nhau cùng”… Vì vậy, nhiều bậc “minh quân”, “minh quan” ở Việt Nam có tư tưởng trọng dân, biết ơn dân, chăm lo cho dân. Điều này được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát rất rõ, rằng tư tưởng “thương nước, thương dân” phải là những giá trị đạo đức cơ bản của những người lãnh đạo đất nước, của đội ngũ CBCCVC nói chung. Những tư tưởng của Hồ Chủ tịch vẫn còn nguyên giá trị trong xây dựng VHCV hiện nay.

(ii) Một số tác động tiêu cực:

Dù truyền thống dân tộc có nhiều giá trị tích cực nhưng bên cạnh đó cũng có những tác động tiêu cực trong xây dựng VHCV của đội ngũ CBCCVC hiện nay. Cụ thể như:

- Trong xã hội phong kiến Việt Nam, quan lại, chức sắc thay mặt vua quản lý, điều hành công việc ở các tổng, huyện, xã, làng. Vì vậy, một bộ phận lợi dụng các đặc quyền, quyền lực để hạch sách, vòi vĩnh, áp bức nhân dân nhằm nhận đồ “biếu xén”, “trục lợi”… Đây là thói hư, tật xấu trong xã hội phong kiến có tác động đến vấn nạn vòi vĩnh, tham ô, hối lộ, cửa quyền, hách dịch… của một bộ phận CBCCVC hiện nay.

- Trong tuyển chọn, bố trí quan lại, chức sắc thời xưa, thì yếu tố thân quen hay gia đình trị thể hiện khá rõ. Ở cấp cao nhất, vua là “cha truyền con nối”. Ở trong làng, xã, tổng thì những dòng họ có người làm quan hay có thế lực thì dòng họ đó thường được cất nhắc, kế nhiệm bằng sự thân quen hay tiền bạc. Tâm lý “một người làm quan cả họ được nhờ”, mua quan bán tước đó hiện nay chưa hẳn đã hết. Những thói quen đó đến nay vẫn hiện hữu ở một bộ phận không nhỏ CBCCVC như tính gia trưởng, tôn ti, cất nhắc người thân, óc bè phái, cục bộ địa phương...

- Người Việt xưa quan niệm pháp luật là hình phạt của Nhà nước để cai trị xã hội. Nhưng nếu quan lại có vi phạm các quy định, kỷ cương thì được giảm nhẹ so với dân thường. Vậy nên nhân dân đã đúc kết rằng người dân mà kiện quan lại thì như “con kiến mà kiện củ khoai”. Người dân xưa nếu có bị quan lại chèn ép, áp bức, bị thiệt thòi thì đành “ngậm bồ hòn làm ngọt”, “một sự nhịn bằng chín sự lành”. Tâm lý “nhất đáo tụng đình”, sợ đến nơi pháp đình, “kiện sẽ gặp họa” trở nên khá phổ biến. Mặc dù xã hội hiện nay đã thay đổi nhưng những thói quen cũ đó vẫn bám rễ trong cách nghĩ, cách làm trong bộ phận không nhỏ CBCCVC.

- Thời xưa, làng - xã là đơn vị trung tâm, tương đối ổn định, có phong tục, tập quán riêng: “Trống làng nào làng đó đánh/Thánh làng nào làng đó thờ”. Điều đó tạo nên tính tự trị, mỗi làng có luật lệ riêng thường gọi là hương ước. Lâu dần thành quen, từ đó hình thành nên thói quen trọng lệ làng hơn pháp luật: “Phép vua thua lệ làng”. Bên cạnh đó, người Việt vốn đề cao lối sống trọng nghĩa tình, dẫn đến thái độ cảm tính, xem trọng tình cảm, xem nhẹ cái lý, thiếu tôn trọng các nguyên tắc.

1.2. Bối cảnh hội nhập quốc tế

Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình mở cửa hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi song cũng không ít thách thức đi kèm. Về những tác động tích cực, chúng ta thấy rõ là đời sống vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp dân cư trong xã hội được nâng lên. Ý thức về con người cá nhân, về tự do và dân chủ được nâng lên. Hoạt động của nền công vụ Việt Nam trên cơ sở đó cũng có tính dân chủ hơn, công khai và minh bạch hơn. Trong thời gian vừa qua, nền hành chính Việt Nam liên tục nỗ lực cải cách nhằm đáp ứng bối cảnh hội nhập quốc tế, đáp ứng tốt hơn nhu cầu phong phú và đa dạng của các tầng lớp dân cư. Mọi công dân trong xã hội có cơ hội tham gia, hiểu biết hơn về hoạt động quản lý nhà nước, thậm chí có điều kiện để giám sát, có môi trường để thể hiện ý kiến cá nhân… Điều đó đã và đang tác động ngày càng tốt trong xây dựng VHCV, đến hành vi ứng xử của đội ngũ CBCCVC. Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, dưới tác động của quá trình mở cửa hội nhập quốc tế và mặt trái của cơ chế thị trường đã dẫn đến những tác động tiêu cực. Đó là việc không ít người đề cao lối sống thực dụng, đặt mục tiêu lợi nhuận kinh tế lên trên hết, tuyệt đối hóa sức mạnh của đồng tiền, sùng bái vật chất… Không ít trường hợp vì danh lợi, địa vị, tiền tài mà xem nhẹ tình cảm, luật pháp, thậm chí còn “kèn cựa”, “hạ bệ”, đấu đá nhau làm mất tình cảm đồng chí, đồng nghiệp, làm xấu hình ảnh người đảng viên. Một số người giàu có tỏ ra khinh miệt người nghèo, lấy cuộc sống tiện nghi làm thước đo giá trị… Một bộ phận không nhỏ CBCCVC tập nhiễm lối sống thực dụng, phi đạo đức. Mục tiêu của họ là làm giàu lên một cách nhanh chóng để thỏa mãn những ham muốn về tiền tài, danh vọng, tiện nghi, hưởng lạc mà không phân biệt đúng - sai, tốt - xấu. Một bộ phận không nhỏ ấy đã sẵn sàng bòn rút của công, vòi vĩnh, tham ô, hối lộ, cửa quyền, hách dịch, lãng phí…

1.3. Điều kiện kinh tế - xã hội

Điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước tác động đến mọi lĩnh vực, trong đó có nền VHCV. Điều này được thể hiện ở nhiều khía cạnh như việc xây dựng chủ trương, chính sách, chuẩn mực của nền VHCV; việc đầu tư nguồn lực xây dựng cơ quan, công sở văn minh, hiện đại, trang bị phương tiện, điều kiện làm việc; việc trả lương, tạo điều kiện đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBCCVC…

Đất nước ta từ khi đổi mới (năm 1986) đến nay, điều kiện kinh tế - xã hội có sự phát triển ổn định, liên tục, đạt nhiều thành tựu quan trọng. Đó là cơ sở để có thêm điều kiện dành nhiều nguồn lực hơn cho việc xây dựng VHCV. Nhờ vậy, nền hành chính, công vụ ở Việt Nam theo định hướng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Thể chế này ngày càng thể hiện tính dân chủ, tiến bộ; chính quyền ngày càng liêm chính, công khai, minh bạch, đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân. Mối quan hệ giữa khu vực tư và khu vực công ngày càng gần gũi hơn cả trong nhận thức và hành động. Công dân được trao nhiều quyền hơn thông qua các hình thức ủy quyền, phân quyền, nhiều nhiệm vụ hơn và cũng có nhiều sự tự do hơn khi họ áp dụng những nguyên tắc, hệ thống các quy tắc linh hoạt hơn. Sự cầm quyền ngày càng khoa học, dân chủ, bằng Hiến pháp, pháp luật. Cơ sở vật chất, trang thiết bị ở công sở ngày càng đầy đủ, ngăn nắp, khoa học đã hỗ trợ đắc lực cho CBCCVC, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, góp phần hoàn thành công vụ được giao…

Tuy nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước dù phát triển nhanh nhưng vẫn chưa thực sự đáp ứng tốt yêu cầu. Điều đó được thể hiện khá rõ ở chính sách tiền lương cho đội ngũ CBCCVC vẫn còn thấp. Vì lương chưa đáp ứng tốt nhu cầu của cuộc sống nên họ vẫn chưa thật sự chuyên tâm, vẫn còn tình trạng “chân trong, chân ngoài”, dẫn đến một số hiện tượng vòi vĩnh, tham nhũng, hối lộ… Thể chế VHCV chưa được hoàn thiện: “Năng lực xây dựng và thực thi pháp luật, cơ chế chính sách chưa cao, một số văn bản pháp luật ban hành còn chậm, chưa phù hợp với thực tiễn; nhiều chính sách còn chồng chéo, chậm khắc phục... Cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước còn cồng kềnh; chức năng, nhiệm vụ nhiều cơ quan, đơn vị vẫn còn chồng chéo và chưa đủ cụ thể, chưa rõ thẩm quyền trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu”[2]. Cơ quan, công sở ở cấp cơ sở (cấp xã) còn nhiều khó khăn, thiếu thốn về trang thiết bị, phương tiện làm việc, nhất là ở các địa phương có kinh tế chậm phát triển…

1.4. Năng lực, đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức

Đội ngũ CBCCVC có vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước, trong nền công vụ, họ là người xây dựng đường lối, chính sách, pháp luật và là người thực hiện chính sách, pháp luật trong thực tế, đem chính sách, pháp luật vào cuộc sống, mang lại hiệu lực, hiệu quả của nền công vụ. Do đó, CBCCVC trực tiếp quản trị đất nước, là người thực hiện mối quan hệ Nhà nước với dân, phục vụ nhân dân.

Trong giai đoạn hiện nay, trình độ, năng lực của đội ngũ CBCCVC nhìn chung được nâng lên. Khả năng hoàn thành các chức trách, nhiệm vụ được giao trong bối cảnh hiện nay là khá phức tạp song ngày càng tốt hơn.

Tuy nhiên, “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước”[3]. Tác phong công vụ vẫn là điểm yếu trong bộ máy công quyền; quan hệ giữa cấp trên với cấp dưới, giữa cán bộ với nhân dân còn thiếu dân chủ; hiện tượng quan liêu, cửa quyền chậm được khắc phục đẩy lùi; tình trạng “nói không đi đôi với làm”, “cục bộ địa phương”, “lợi ích nhóm” vẫn còn diễn biến phức tạp…

2. Một số giải pháp thực hiện văn hóa công vụ ở nước ta hiện nay

Đề án Văn hóa công vụ được phê duyệt theo Quyết định số 1847/QĐ-TTg đã nêu ra ba nhóm giải pháp (khoản 5 Điều 1) rất chính xác, cụ thể, trực tiếp, để các cơ quan công quyền và đội ngũ CBCCVC phải thực hiện. Đề án cũng đã nêu rõ đối tượng và thời gian thực hiện. Tuy nhiên, theo tác giả, bên cạnh những giải pháp đó, cần phải kết hợp với một số giải pháp khác mang tính đồng bộ trên cơ sở các yếu tố tác động đến VHCV như sau:

Thứ nhất, song song với việc hoàn thiện quy định về VHCV, chúng ta cần nâng cao chất lượng công tác xây dựng luật và các văn bản dưới luật. Phải xây dựng hệ thống pháp luật của Nhà nước hoàn chỉnh, đồng bộ, công bằng và khả thi. Hệ thống pháp luật đó phải thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân, phù hợp với xu thế phát triển của nhân loại, đảm bảo các quyền thiêng liêng của con người, tôn trọng các giá trị xã hội… Có như vậy, mọi người mới tin tưởng mà làm theo luật pháp. Trong thời gian qua, công tác xây dựng luật của chúng ta còn nhiều hạn chế, vì vậy, thời gian từ khi ban hành văn bản luật đến khi phải sửa đổi, bổ sung khá ngắn và các luật còn nhiều kẽ hở nên CBCCVC, công dân dễ “lách luật”…

Thứ hai, khi đã hoàn thiện quy định về VHCV, xây dựng được hệ thống pháp luật hoàn chỉnh thì cần có cách thức tổ chức đưa luật vào cuộc sống. Để đưa luật vào cuộc sống, trước tiên phải tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong đội ngũ CBCCVC, trong mọi tầng lớp nhân dân; phải tiến hành đồng bộ nhiều cách thức, biện pháp nhằm đưa pháp luật vào cuộc sống, tạo thói quen và nếp sống tôn trọng pháp luật trong CBCCVC và mọi tầng lớp nhân dân. Đặc biệt, đối với đội ngũ CBCCVC thì cần có sự giám sát, kiểm tra chặt chẽ, khi phát hiện sai phạm phải xử lý nghiêm minh. Các cơ quan quản lý, giám sát, đánh giá cán bộ, nhất là người đứng đầu cơ quan, đơn vị cần thực hiện nghiêm minh.

Thứ ba, thực hiện hiệu quả công tác tinh giản biên chế, cải cách hành chính, cải cách tiền lương. Bởi “Đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị đông nhưng chưa mạnh, tình trạng vừa thừa, vừa thiếu cán bộ xảy ra ở nhiều nơi. Cơ cấu giữa các ngành, nghề, lĩnh vực chưa thật sự hợp lý, thiếu sự liên thông giữa các cấp, các ngành; thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành”[4]. Vì vậy, cần tinh giản bộ máy quản lý, sáp nhập những đơn vị gần chức năng, nhiệm vụ với nhau, đảm bảo một đơn vị có thể đảm nhận nhiều việc, nhưng một việc thì chỉ một đơn vị đảm nhận. Như vậy, vừa rõ về quyền hạn, trách nhiệm, vừa để tránh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm khi có sai phạm. Đẩy mạnh xã hội hóa việc cung ứng dịch vụ công và quản lý sản xuất, kinh doanh. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cắt giảm các thủ tục rườm rà, các khâu trung gian, chuẩn hóa các thủ tục. Tăng cường công khai, minh bạch các quy định về thủ tục hành chính, các thông tin trong công tác quản lý nhà nước không liên quan đến bí mật quốc gia. Đó cũng là cơ sở để tinh giản đội ngũ CBCCVC, để tăng tiền lương cho CBCCVC. Khi chính sách tiền lương cho đội ngũ CBCCVC đảm bảo cho bản thân và gia đình có mức sống khá trong xã hội, sẽ tạo động lực để họ rèn luyện nghiệp vụ, nâng cao trình độ chuyên môn, chuyên tâm cống hiến hết mình cho công việc.

Thứ tư, bên cạnh việc đẩy mạnh công tác quản lý bằng pháp luật, cần chú ý tới hệ thống các quy phạm văn hóa - xã hội ở nước ta hiện nay. Bởi cho dù hệ thống pháp luật có hoàn chỉnh đến đâu thì cũng khó đi vào tất cả mọi khía cạnh, ngõ ngách của đời sống, tâm tư, tình cảm con người. Thực tế, hệ thống các quy phạm đạo đức, phong tục, tập quán, hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư, của dòng họ, của gia đình, của các tổ chức xã hội, của tôn giáo… đã và đang góp phần điều chỉnh hành vi của con người. Các quy phạm văn hóa - xã hội điều chỉnh các mối quan hệ bằng dư luận xã hội, bằng phong tục, tập quán, bằng sự nhận thức, giác ngộ và sự thôi thúc từ bên trong, bằng tư tưởng, lương tâm, tình cảm… Các quy phạm văn hóa - xã hội sẽ tác động lớn đến ý thức của CBCCVC, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi cái xấu, cái ác và khuyến khích, nâng đỡ cái tốt, cái thiện trong mỗi con người.

Thứ năm, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, chúng ta cần tiếp thu và bổ sung các giá trị văn hóa tiến bộ của nhân loại về ý thức tôn trọng pháp luật, thói quen sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật; sự phân minh, rạch ròi giữa lý và tình; tính công khai, minh bạch; tính trách nhiệm và tính chuyên nghiệp của đội ngũ CBCCVC… Cần phát huy, học tập những tấm gương liêm chính, hết lòng vì dân, vì nước trong lịch sử dân tộc. Bên cạnh đó, phải kiên quyết loại bỏ những thói hư, tật xấu, tập quán lạc hậu cản trở đến quá trình thực thi pháp luật. Chúng ta có thể dùng các phương tiện thông tin đại chúng, dư luận xã hội để phê phán, lên án các hiện tượng tiêu cực.

Như vậy, để thực hiện được những giải pháp nêu trên, đòi hỏi sự tham gia vào cuộc của cả hệ thống chính trị, của các cấp, các ngành, nhất là tư pháp, văn hóa, thông tin, các cấp chính quyền… Mà quan trọng nhất là quyết tâm của lãnh đạo cấp cao, của những người đứng đầu các địa phương, các cấp, các ngành. Bởi phạm vi tác động, tầm ảnh hưởng và sức lan tỏa của lãnh đạo là rất lớn. Với mỗi CBCCVC phải gương mẫu trong việc thực thi VHCV. Có như vậy, chúng ta mới sớm hoàn thành các mục tiêu đã đề ra trong Đề án Văn hóa công vụ, sớm xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

ThS. Lưu Thị Tươi

Trường Chính trị thành phố Đà Nẵng





[1]. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Giáo trình Cao cấp lý luận chính trị: Văn hóa và phát triển, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, năm 2018, tr. 161.

[2]. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2016, tr. 259.

[3]. Trích trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII.

[4]. Nguyễn Phú Trọng, Toàn văn phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 7 của Tổng Bí thư, https://vov.vn/chinh-tri/dang/toan-van-phat-bieu-khai-mac-hoi-nghi-trung-uong-7-cua-tong-bi-thu-760158.vov.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: