Thứ sáu 23/10/2026 10:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vướng mắc, bất cập khi thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 và một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện

Từ khi Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 có hiệu lực đến nay, Việt Nam đã thể hiện quyết tâm chính trị cao trong phòng, chống tham nhũng, đã tích cực tham gia thực hiện các cam kết quốc tế về phòng, chống tham nhũng của Liên hợp quốc, cũng như hợp tác song phương và đa phương để học tập trao đổi kinh nghiệm về phòng, chống tham nhũng với các quốc gia trên thế giới.

Tuy nhiên, tình hình tham nhũng hiện nay vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, xảy ra ở nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành. Qua phát hiện, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng cho thấy tính chất tham nhũng ngày càng tinh vi, thủ đoạn xảo quyệt hơn, phạm vi, lĩnh vực tham nhũng ngày càng rộng, thậm chí có tổ chức đối với một số vụ việc, vụ án tham nhũng lớn, mức độ thiệt hại ngày càng lớn, một số vụ án tham nhũng gây hậu quả rất nghiêm trọng, làm thất thoát một lượng lớn tài sản của Nhà nước. Đặc biệt hơn nhiều vụ tham nhũng đã có yếu tố nước ngoài phức tạp có chiều hướng gia tăng, thậm chí đã xuất hiện tình trạng tham nhũng có tính lợi ích nhóm trong một số lĩnh vực[1].


Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng phòng, chống tham nhũng còn chưa hiệu quả, trong đó có nguyên nhân xuất phát từ những bất cập trong quá trình thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005: Quy định của pháp luật liên quan tới việc phát hiện, xử lý tham nhũng, thu hồi tài sản tham nhũng, khen thưởng và bảo vệ người tố cáo tham nhũng chưa đầy đủ; còn có khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng và việc răn đe đối với hành vi tham nhũng chưa thực sự mạnh mẽ…

1. Một số vướng mắc, bất cập khi thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2012)

Thứ nhất, khoản 2, Điều 1, Luật Phòng chống tham nhũng quy định chủ thể của tham nhũng là “người có chức vụ, quyền hạn” bao gồm cả “người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó”. Nhưng trên thực tế, có những người mặc dù không có chức vụ, quyền hạn nhưng họ vẫn là đối tượng cần được nghiên cứu có phải là chủ thể của tham nhũng hay không, chẳng hạn như: Người lợi dụng sự ảnh hưởng của người có chức vụ, quyền hạn để thu lợi cá nhân; người tiếp tay, giúp sức người có chức vụ, quyền hạn thực hiện các hành vi tham nhũng. Bên cạnh đó, việc quy định chủ thể tham nhũng là người được giao thực hiện nhiệm vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó còn có nhiều cách hiểu khác nhau, bởi theo quy định này thì không rõ nhiệm vụ được nêu là nhiệm vụ ở trong khu vực công hay ở khu vực tư. Nếu bao gồm cả khu vực tư thì người được giao nhiệm vụ quản lý, kiểm soát nguồn vốn, tài sản, điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, tập thể đã lợi dụng nhiệm vụ của mình để vụ lợi cũng được coi là chủ thể của tham nhũng.

Thứ hai, khoản 1, Điều 2 quy định: “Tài sản tham nhũng là tài sản có được từ hành vi tham những, tài sản có nguồn gốc từ hành vi tham nhũng”. Theo quy định này, để kết luận tài sản của một người nào đó có được do tham nhũng thì phải chứng minh được rằng người đó đã có hành vi tham nhũng. Hay nói cách khác, pháp luật hiện tại định nghĩa tài sản của người đã bị kết án về hành vi tham nhũng. Nhưng từ khi phát hiện đến tiến hành các hoạt động điều tra vụ án tham nhũng là một quá trình dài và trong thời gian đó, nghi can cũng như người thân của họ đã kịp tẩu tán tài sản. Việc tẩu tán lại vô cùng dễ dàng khi mà Nhà nước chưa thể kiểm soát được tài sản, thu nhập của toàn xã hội. Chính từ quy định bấp cập này nên muốn thu hồi tài sản thì trước hết phải xác định được người đó có hành vi tham nhũng không?

Thứ ba, Điều 29 Luật Phòng chống tham nhũng về công khai hoạt động của các cơ quan tư pháp: “Việc thụ lý, điều tra, truy tố, kiểm sát, xét xử, thi hành án phải được công khai theo quy định của pháp luật về tố tụng và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Thực tế, việc thực hiện công khai hoạt động của các cơ quan tư pháp còn lúng túng, bị động.

Thứ tư, Điều 44 về đối tượng phải kê khai tài sản. Luật mới chỉ quy định là người có chức vụ, quyền hạn. Theo đó, hàng năm tất cả các đối tượng phải nghiêm túc tiến hành kê khai tài sản theo quy định tại Điều 44 Luật Phòng chống tham nhũng, đây là cơ sở để cơ quan, tổ chức và người dân giám sát tài sản của đối tượng thuộc diện phải kê khai tài sản, thu nhập theo quy định của Luật Phòng chống tham nhũng. Nghĩa là, Nhà nước thực hiện quyền kiểm soát, nhằm minh bạch hóa tài sản, thu nhập của đối tượng bằng hình thức kê khai. Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện quy định này không hiệu quả, nhất là trong việc ngăn chặn, phát hiện tham nhũng và thu hồi tài sản tham nhũng.

Hiệu quả thực tế của việc kê khai tài sản của các đối tượng có nghĩa vụ phải kê khai là không cao, mang tính hình thức, thậm chí là thiếu trung thực. Người có nghĩa vụ kê khai có thể để cho người thân, bản thân thậm chí là cấp dưới đứng tên sơ hữu. Đặc biệt ở Việt Nam, khi thói quen sử dụng, giao dịch thanh toán bằng tiền mặt, vàng thường trực và khó kiểm soát thì việc trung thực trong kê khai tài sản là khó.

Thứ năm, nếu chỉ quy định 4 khoản về các tài sản phải kê khai như Điều 45 là vừa thừa lại vừa thiếu. Thừa là vì liệt kê quá nhiều, thiếu là không bao quát, không thực sự phù hợp quy định tại Điều 163 Bộ luật Dân sự (Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản).

Thứ sáu, thực tế việc công khai bản kê khai tại đơn vị nơi công tác theo quy định tại khoản 1 Điều 46a cũng chỉ mang tính hình thức, thông tin nội bộ, nên vẫn còn nhiều sự bao che, cả nể hoặc không dám đấu tranh. Việc công khai bản kê khai tài sản theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 46a cũng không hợp lý vì chỉ khi nào có các sự kiện đó mới kê khai công khai sẽ thiếu tính thời sự. Hơn nữa, việc khê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức hiện nay chưa được quy định theo hướng công khai kết quả kê khai, dẫn đến việc Nhà nước chưa kiểm soát được tài sản trong xã hội, việc kiểm tra, xác minh để đảm bảo tính trung thực của kê khai còn ít.

2. Một số kiến nghị, giải pháp

Một là, cần phải nghiên cứu, quy định thêm chủ thể của hành vi tham nhũng theo hướng: “Tham nhũng là hành vi trái phải luật của người có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao thực thi công vụ, nhiệm vụ nhưng đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc công vụ, nhiệm vụ đó để vụ lợi cá nhân, làm thiệt hại của Nhà nước, quyền và lợi ích của các tổ chức, cá nhân”. Theo đó, Luật cần mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật, bao gồm cả các chủ thể ở khu vực nhà nước và khu vực ngoài nhà nước.

Hai là, sửa đổi, bổ sung các quy định về công khai, minh bạch của Luật theo hướng: Quy định rõ về nguyên tắc công khai, minh bạch trong các hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc khu vực nhà nước trừ những nội dung thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật; bổ sung các yêu cầu về nội dung thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật; bổ sung các yêu cầu về nội dung, hình thức, thời kỳ và thời gian thực hiện công khai, minh bạch theo từng hình thức cụ thể nhằm tăng cường khả năng tiếp cận thông tin của người dân; trách nhiệm thực hiện công khai, minh bạch của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị; công khai, minh bạch trong hoạt động kinh doanh (nếu mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật).

Luật cần mở rộng đối tượng thuộc diện phải kê khai tài sản nhằm góp phần hạn chế và ngăn chặn tình trạng đối tượng tham nhũng tẩu tán tài sản cho người thân, như: Bố, mẹ, con cái thành niên, vợ, chồng của người có chức vụ quyền hạn cũng phải kê khai tài sản. Thậm chí cả những người có liên quan (anh, chị em ruột; em rể, em dâu) của một số người giữ vị trí, chức vụ dễ có cơ hội hoặc dễ bị tham nhũng.

Liên quan đến việc kê khai tài sản của cán bộ, công chức, cần sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng:

- Bổ sung quy định trách nhiệm giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm của người có nghĩa vụ kê khai tài sản so với những lần kê khai trước và nguyên tắc xử lý đối với trường hợp không giải trình được một cách minh bạch, hợp lý;

- Bổ sung quy định cơ quan có thẩm quyền quản lý cán bộ chủ động xác minh bản kê khai tài sản đối với một số đối tượng nhất định, trước mắt tập trung vào những cán bộ thuộc diện cấp ủy quản lý, người đứng đầu cơ quan và cáp phó của người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Bản kê khai tài sản, thu nhập phải được công khai tại nơi cư trú;

- Bổ sung quy định cán bộ, công chức phải thanh toán qua tài khoản khi mua sắm những tài sản có giá trị lớn (50 triệu đồng hoặc 50 lần mức lương tối thiểu trở lên);

- Bổ sung các biện pháp ngừa tham nhũng như: Xử lý đơn tố cáo nặc danh, áp dụng kỹ thuật điều tra đặc biệt…

Ngoài ra cần sửa đổi Điều 46a theo hướng một số cá nhân có vị trí, chức vụ dễ có cơ hội tham nhũng sẽ phải kê khai và công khai thường xuyên theo định kỳ, bao gồm cả việc cung cấp thông tin cho cơ quan thông tin, báo chí.

Ba là, mở rộng chế định này theo hướng quy định về trách nhiệm giải trình của cơ quan, tổ chức, đơn vị theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức, cơ quan khác khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật xảy ra trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao; gắn giữa kết quả thực hiện giải trình với việc đánh giá tín nhiệm của các chức danh quản lý và đánh giá hiệu quả thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức qua đó tăng cường tính trách nhiệm và minh bạch hóa hoạt động của bộ máy công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức qua đó tăng cường tính trách nhiệm và minh bạch hóa hoạt động của bộ máy công vụ.

Bốn là, sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật theo hướng: Mở rộng khái niệm quà tặng bao gồm cả lợi ích vật chất và các lợp ích khác; quy định rõ về định mức quà tặng tối đa; trách nhiệm kê khai, thông báo về việc nhận quà tặng; việc tiếp nhận, xử lý thông tin về việc tăng quà và nhận quà tặng; xử lý trách nhiệm đối với các trường hợp vi phạm quy định về việc tặng quà và nhận quà tặng; xử lý trách nhiệm đối với các trường hợp vi phạm quy định về việc tặng quà và nhận quà tặng.

Năm là, quy định về xử lý trách nhiệm người đứng đầu cần được sửa đổi căn bản theo hướng: Làm rõ khái niệm người đứng đầu và trách nhiệm người đứng đầu nhằm cá thể hóa trách nhiệm theo từng cấp độ quản lý khi để xảy ra vụ việc tham nhũng; quy định về việc loại trừ trách nhiệm của người đứng đầu khi đã áp dụng tất cả cá biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn theo quy định của pháp luật hoặc trong trường hợp không bắt buộc phải biết.

Sáu là, bổ sung quy định về thẩm quyền khởi tố và điều tra ban đầu cho thanh tra và kiểm toán giống như kiểm lâm và hải quan đối với các vụ việc qua thanh tra, kiểm toán phát hiện có dấu hiệu tham nhũng nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm toán.

Bảy là, hoàn thiện quy định về việc bảo vệ người tố cáo, người cung cấp thông tin về vụ việc tham nhũng (hiện tại pháp luật chưa quy định về các biện pháp bảo vệ người cung cấp thông tin) nhằm tạo điều kiện để người dân, cán bộ, công chức, viên chức mạnh dạn tố cáo tham nhũng, đặc biệt là nâng cao hiệu quả chủ động phát hiện tham nhũng trong nội bộ của cơ quan, tổ chức, đơn vị; quy định việc miễn giảm trách nhiệm đối với người có hành vi vi phạm bị phát hiện nhưng đã chủ động khai báo, hợp tác với cơ quan có thẩm quyền để tiếp tục làm rõ vụ việc, hạn chế hậu quả (quy định hiện tại chưa đầy đủ).

Tám là, quy định rõ hơn về các hình thức xử lý và thẩm quyền xử lý các hành vi tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật khác có liên quan nhưng chưa đủ các yếu tố cấu thành tội phạm như không thực hiện việc công khai, minh bạch; không trả lại quà tặng; hoặc các hành vi có dấu hiệu tham nhũng được thực hiện bởi người không có chức vụ, quyền hạn.

Chín là, quy định rõ hơn về phương thức tham gia của các tổ chức xã hội, bổ sung các biện pháp bảo đảm sự tham gia của các tổ chức xã hội như quy định việc đề xuất các sáng kiến phòng, chống tham nhũng của các tổ chức xã hội; việc huy động các tổ chức xã hội trong xây dựng thể chế và đánh giá hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng (hợp tác công - tư) nhằm tiếp tục kế thừa và phát huy những kết quả đạt được thời gian qua từ một số chương trình như VACI (Sáng kiến chống tham nhũng Việt Nam) và ACD (Đối thoại về phòng chống tham nhũng).

Mười là, quy định về các nguyên tắc hợp tác, nội dung hợp tác và phương thức thực hiện giữa các quốc gia, tổ chức quốc tế, cơ quan chức năng (trong phòng ngừa, phát hiện và xử lý; chia sẻ kinh nghiệm…); quy định về cơ quan đầu mối và trách nhiệm của các cơ quan có liên quan trong hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng, bao gồm: Thanh tra Chính phủ là đầu mối trong thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng; Bộ Tư pháp là đầu mối trong thu hồi tài sản tham nhũng và tương trợ tư pháp dân sự; Viện Kiểm soát là đầu mối tương trợ tư pháp hình sự; Bộ Công an là đầu mối dẫn độ tội phạm và chuyển giao người bị kết án phạt tù.

Các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng được quy định ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Do vậy, đồng thời với quá trình sửa đổi, bổ sung Luật phòng, chống tham nhũng hiện hành thì cần tiến hành rà soát để kịp thời kiến nghị ban hành mới, sửa đổi, bổ sung quy định của các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến phòng ngừa tham nhũng; phát hiện tham nhũng và xử lý hành vi, tài sản tham nhũng.

Như Quỳnh (tổng hợp)

(Bài viết được tổng hợp từ tài liệu Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng do Bộ Tư pháp tổ chức ngày 04/3/2016)


[1] TS. Nguyễn Quốc Hiệp, Một số định hướng chiến lược về sửa đổi Luật Phòng, chống tham nhũng của Việt Nam, đăng tải trên trang web http://http://giri.ac.vn/mot-so-dinh-huong-chien-luoc-ve-sua-doi-luat-phong-chong-tham-nhung-cua-viet-nam_t104c2716n2033tn.aspx

In bài viết Gửi phản hồi

Các tin khác

Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành án dân sự và xác minh điều kiện thi hành án của thừa phát lại Vướng mắc trong thụ lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật và thụ lý ly hôn Biện pháp bảo đảm thi hành án và thực tiễn áp dụng Tạm dừng việc cưỡng chế thi hành án dân sự được áp dụng trong trường hợp nào? Mối quan hệ giữa Toà án và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự Bồi thường thiệt hại trong các vụ án hình sự liên quan đến giao dịch dân sự vô hiệu Hủy giấy chứng nhận kết hôn có coi là hủy hôn nhân trái pháp luật không? Xác định mục đích của nhà ở theo Luật Nhà ở năm 2005

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: