Thứ tư 23/09/2026 03:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vướng mắc trong thực hiện các quy định của pháp luật về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập

Việc thực hiện cơ chế tự chủ là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập. Mặc dù các quy định pháp luật về tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập đã từng bước được hoàn thiện, nhưng vẫn còn chưa đồng bộ và thiếu thống nhất nên quá trình triển khai còn gặp nhiều khó khăn.


1. Chủ trương đẩy mạnh tự chủ trong tổ chức và hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập

Hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập giữ vai trò chủ đạo, vị trí then chốt trong thực hiện chính sách an sinh xã hội, bảo đảm cung ứng dịch vụ công ở hầu hết các lĩnh vực như: Giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, thông tin… tại các địa bàn từ đô thị đến nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Đổi mới tổ chức và hoạt động của các đơn vị này là vấn đề mang tính cốt lõi trong cải cách dịch vụ sự nghiệp công.

Trong thời gian qua, nhiều chủ trương, chính sách về đổi mới tổ chức và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp đã được ban hành, nổi bật là Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập. Nghị quyết này đã đặt ra 08 nhóm nhiệm vụ và giải pháp, trong đó có giải pháp hoàn thiện pháp luật về cơ chế tự chủ trên cơ sở mức độ tự chủ về tài chính, tăng cường phân cấp và tăng tính chủ động cho các đơn vị sự nghiệp công lập.

Trong giai đoạn đầu, yếu tố tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập thể hiện thông qua tự chủ sử dụng nguồn thu như: Sự đóng góp của người dân; quỹ phúc lợi của nhà máy, công trường, nông trường, lâm trường và quỹ công ích của hợp tác xã để xây dựng cơ sở vật chất của trường học (Quyết định số 248-TTg ngày 22/11/1973); sử dụng học phí thu được để chi tăng cường cơ sở vật chất, hỗ trợ cho đời sống giáo viên (Quyết định số 241-TTg ngày 24/5/1993); sử dụng một phần viện phí để mua thêm thuốc, hóa chất, trang bị vật tư, sửa chữa tu bổ cơ sở bù đắp cho đối tượng miễn giảm, khen thưởng cho cán bộ, công nhân viên (Quyết định số 45-HĐBT ngày 24/4/1989).

Nghị định số 10/2002/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16/01/2002 về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu đã quy định cụ thể các trường hợp được chủ động quyết định đối với một số nguồn thu. Trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, các đơn vị được tự chủ cả về nhiệm vụ, tài chính và tài sản, tổ chức và biên chế theo Nghị định số 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 05/9/2005. Theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006, mức độ tự chủ trong thực hiện nhiệm vụ, tổ chức, biên chế và tài chính được áp dụng cho các đơn vị tùy theo mức độ tự chủ về tài chính.

Nhìn chung, việc thực hiện cơ chế tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập còn nhiều hạn chế, các đơn vị hoạt động thiếu hiệu quả, tính tự chủ chưa cao, kinh phí chủ yếu do ngân sách nhà nước cấp. Khi xem xét Đề án đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công, Bộ Chính trị đã xác định nhiệm vụ cần hoàn thiện thể chế về cơ chế tự chủ trong thực hiện nhiệm vụ và tổ chức bộ máy. Nhiệm vụ này tiếp tục được khẳng định tại các Kết luận số 63-KL/TW ngày 27/5/2013 và Kết luận số 64-KL/TW ngày 28/5/2013 của Hội nghị Trung ương 7 khóa XI.

Chính phủ ban hành nhiều văn bản để thể chế hóa chủ trương đẩy mạnh thực hiện cơ chế tự chủ như: Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 24/10/2014 về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập giai đoạn 2014 - 2017; Nghị quyết số 93/NQ-CP ngày 15/12/2014 về một số cơ chế, chính sách phát triển y tế; Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập và các nghị định quy định cơ chế tự chủ trong từng lĩnh vực cụ thể.

Có thể thấy rằng, thể chế về tự chủ trong tổ chức và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập đã từng bước được hoàn thiện. Nhưng do còn thiếu đồng bộ, thống nhất nên đã ảnh hưởng đến quá trình thực hiện tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập.

2. Tự chủ về thực hiện nhiệm vụ

Tự chủ về thực hiện nhiệm vụ là cơ sở của tự chủ về tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính. Căn cứ tính chất, khối lượng công việc, đơn vị tổ chức bộ máy, bố trí nhân lực và cơ sở vật chất hợp lý để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ.

Theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ, các đơn vị được tự chủ theo 02 nhóm nhiệm vụ: Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Trong xây dựng kế hoạch, đơn vị không sử dụng ngân sách nhà nước tự xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ, đơn vị còn lại sẽ xây dựng kế hoạch báo cáo cơ quan quản lý cấp trên để phê duyệt. Trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ, các đơn vị quyết định các biện pháp thực hiện nhiệm vụ; tham gia đấu thầu cung ứng các dịch vụ sự nghiệp công; liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân.

Thực hiện cơ chế tự chủ, các đơn vị đã chủ động hơn trong cân đối các nguồn lực để thực hiện nhiệm vụ được giao, đồng thời cung cấp các dịch vụ công nhằm tăng thêm nguồn thu để đầu tư cơ sở vật chất, bổ sung thu nhập cho người lao động như: Khám chữa bệnh theo yêu cầu, ký kết các hợp đồng chuyển giao công nghệ, đào tạo chất lượng cao theo yêu cầu… Ngoài ra, các đơn vị còn liên doanh, liên kết mở rộng hoạt động.

Thực tiễn triển khai các quy định về tự chủ thực hiện nhiệm vụ còn gặp nhiều vướng mắc, bất cập. Theo Luật Tổ chức Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quy định chức năng, nhiệm vụ của đơn vị sự nghiệp công lập. Luật Khoa học và công nghệ cũng quy định người có thẩm quyền thành lập sẽ là người quy định chức năng, nhiệm vụ của tổ chức khoa học và công nghệ. Như vậy, rất khó để đơn vị được tự quyết định nhiệm vụ của mình. Để tự chủ nhiệm vụ trở nên thực chất hơn, cơ quan quản lý chỉ quyết định những nhiệm vụ cốt yếu là cơ sở để thành lập đơn vị, các nhiệm vụ và hoạt động dịch vụ có liên quan nên giao đơn vị chủ động quyết định.

3. Tự chủ về tổ chức bộ máy

Mức độ tự chủ về tổ chức bộ máy phụ thuộc vào mức độ tự chủ về tài chính. Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư hoặc tự bảo đảm chi thường xuyên được quyết định thành lập, giải thể các đơn vị không thuộc cơ cấu tổ chức các đơn vị cấu thành theo quyết định của cấp có thẩm quyền. Các đơn vị tự bảo đảm một phần hoặc do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên xây dựng phương án sắp xếp, kiện toàn cơ cấu tổ chức của đơn vị trình cơ quan có thẩm quyền quyết định.

Tuy nhiên, theo Nghị định số 123/2016/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01/9/2016 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ và Nghị định số 55/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 28/6/2012 quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của đơn vị sự nghiệp trực thuộc.

Do vậy, mặc dù đã có quy định tự chủ về tổ chức nhưng trên thực tế quyền tự chủ này của đơn vị không được thực hiện. Mặt khác, để vận hành tổ chức mới cần được bảo đảm bởi công tác cán bộ như: Bổ nhiệm người đứng đầu, số lượng viên chức… mà vấn đề này hiện nay đang thuộc thẩm quyền của cơ quan quản lý. Để tháo gỡ được vướng mắc trong thực hiện tự chủ về tổ chức của các đơn vị thì cần có sự đồng thuận, tạo điều kiện từ cơ quan có thẩm quyền.

4. Tự chủ về quyết định số lượng viên chức và người lao động

Theo quy định thì đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, tự bảo đảm chi thường xuyên quyết định số lượng người làm việc; đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên hoặc do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên đề xuất số lượng người làm việc của đơn vị trình cơ quan có thẩm quyền quyết định. Các tổ chức khoa học và công nghệ công lập, các đơn vị sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, tự bảo đảm chi thường xuyên được quyết định vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc.

Về vấn đề này, Luật Viên chức đã quy định đơn vị được giao quyền tự chủ được thực hiện các nội dung quản lý viên chức như: Xây dựng vị trí việc làm; ký hợp đồng làm việc; bổ nhiệm, thay đổi chức danh nghề nghiệp; thay đổi vị trí việc làm, biệt phái, chấm dứt hợp đồng làm việc, giải quyết chế độ thôi việc; bổ nhiệm, miễn nhiệm viên chức quản lý; sắp xếp, bố trí và sử dụng viên chức theo nhu cầu công việc…

Tuy nhiên, Nghị định số 41/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 08/5/2012 về vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập lại quy định thẩm quyền của các cơ quan quản lý trong việc quyết định vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc. Cụ thể: Các bộ, cơ quan quản lý vị trí việc làm của đơn vị trực thuộc, quyết định phân bổ số lượng người làm việc đối với từng đơn vị chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp phê duyệt tổng số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập sau khi có ý kiến thẩm định của Bộ Nội vụ. Bộ Nội vụ quyết định vị trí việc làm, số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn; quyết định vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị được giao quyền tự chủ hoàn toàn; quyết định vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp trong các đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Sự khác nhau trong các quy định về thẩm quyền quyết định số lượng viên chức là rào cản quá trình thực hiện tự chủ. Để khắc phục tình trạng này, ngày 10/10/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 89/NQ-CP, trong đó xác định các đơn vị tự bảo đảm về chi thường xuyên và chi đầu tư, tự bảo đảm về chi thường xuyên được quyết định về vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc. Nhưng để triển khai thống nhất vẫn cần sửa đổi các quy định tại Nghị định số 41/2012/NĐ-CP ngày 08/5/2012 của Chính phủ.

5. Về bổ nhiệm người đứng đầu đơn vị

Tính chất sự nghiệp luôn gắn với liền với hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ đòi hỏi người đứng đầu đơn vị không chỉ có khả năng quản lý mà trước hết phải là người có uy tín nghề nghiệp để quy tụ được những cán bộ có trình độ cống hiến vì tập thể. Vì vậy, việc được tự lựa chọn, quyết định người đứng đầu là vấn đề thu hút sự quan tâm đặc biệt của đơn vị sự nghiệp.

Pháp luật hiện hành đang quy định cơ chế quản lý công chức đối với người đứng đầu các đơn vị sự nghiệp công lập. Theo Luật Tổ chức Chính phủ (Điều 34), Bộ trưởng bổ nhiệm người đứng đầu đơn vị thuộc bộ. Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương (Điều 22), Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm công chức, viên chức theo thẩm quyền.

Một số văn bản pháp luật chuyên ngành có quy định cụ thể thẩm quyền của cơ quan quản lý trong việc bổ nhiệm người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập như: Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp (các Điều 11, 13 và 14), Giám đốc Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp do người có thẩm quyền thành lập Trung tâm bổ nhiệm; Hiệu trưởng trường trung cấp, cao đẳng do Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm. Luật Giáo dục đại học (Điều 20) quy định Hiệu trưởng trường cao đẳng, trường đại học, Giám đốc học viện, đại học do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm hoặc công nhận. Luật Xuất bản (Điều 16) quy định cơ quan chủ quản nhà xuất bản bổ nhiệm Tổng giám đốc (Giám đốc) và Tổng biên tập sau khi có văn bản chấp thuận của Bộ Thông tin và Truyền thông…

Quyết định nhân sự người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập theo cách trên là một trong những biểu hiện của cơ chế chủ quản vốn không tương thích với xu hướng tự chủ. Do vậy, cần có cơ chế hài hòa giữa quyền quyết định của cơ quan quản lý với quyền lựa chọn của đơn vị sự nghiệp công lập, loại bỏ bớt các rào cản như độ tuổi nghỉ hưu, giới hạn nhiệm kỳ, kinh nghiệm quản lý… để tạo cơ sở cho việc lựa chọn người đứng đầu các đơn vị vừa có trình độ, vừa có kỹ năng quản lý và thu hút các chuyên gia nước ngoài tham gia lãnh đạo đơn vị.

6. Tự chủ về liên doanh, liên kết và vay vốn, huy động vốn

Nghị định số 115/2005/NĐ-CP và Nghị định số 43/2006/NĐ-CP đã quy định cho các đơn vị sự nghiệp công lập được tự chủ trong việc liên doanh, liên kết và vay vốn, huy động vốn. Tuy nhiên, qua gần 10 năm triển khai, kết quả đạt được còn rất khiêm tốn.

Nghị định số 16/2015/NĐ-CP và các nghị định về cơ chế tự chủ trong từng lĩnh vực tiếp tục quy định về vấn đề này. Theo đó, đơn vị được sử dụng quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp góp vốn liên doanh, liên kết để hoạt động dịch vụ. Đơn vị có hoạt động dịch vụ được vay vốn của các tổ chức tín dụng, huy động vốn của cán bộ, viên chức trong đơn vị. Riêng các đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư được vay vốn, huy động vốn để đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất. Việc vay vốn, huy động vốn phải có phương án tài chính khả thi, tự chịu trách nhiệm trả nợ vay, lãi vay theo quy định.

Trên thực tế việc triển khai các quy định về liên doanh, liên kết, vay vốn, huy động vốn không phải lúc nào cũng thuận lợi. Đất đai là một nguồn tài sản có giá trị lớn nhưng đơn vị không được thế chấp hoặc sử dụng vào tài sản góp vốn. Theo Luật Đất đai, chỉ những đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê mà tiền thuê đất đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Các tổ chức sử dụng đất trả tiền thuê đất hàng năm được thế chấp, góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê. Các tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất không có quyền này.

Hiện nay, hầu hết các đơn vị sự nghiệp công lập đang sử dụng đất theo hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất. Do đó, các đơn vị này không được thực hiện các hoạt động thế chấp, góp vốn.

Bên cạnh đó, các đơn vị có nguồn tài sản rất lớn là nguồn nhân lực có trình độ, chuyên môn, uy tín, thương hiệu đơn vị. Tuy nhiên, việc hướng dẫn cách xác định giá trị thương hiệu, nguồn nhân lực chưa có nên gây khó khăn cho việc xác định giá trị vốn góp liên doanh, liên kết.

ThS. Bùi Công Quang

Văn phòng Chính phủ

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: