Thứ tư 24/06/2026 09:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vướng mắc trong thực hiện các quy định của pháp luật về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập

Việc thực hiện cơ chế tự chủ là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập. Mặc dù các quy định pháp luật về tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập đã từng bước được hoàn thiện, nhưng vẫn còn chưa đồng bộ và thiếu thống nhất nên quá trình triển khai còn gặp nhiều khó khăn.


1. Chủ trương đẩy mạnh tự chủ trong tổ chức và hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập

Hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập giữ vai trò chủ đạo, vị trí then chốt trong thực hiện chính sách an sinh xã hội, bảo đảm cung ứng dịch vụ công ở hầu hết các lĩnh vực như: Giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, thông tin… tại các địa bàn từ đô thị đến nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Đổi mới tổ chức và hoạt động của các đơn vị này là vấn đề mang tính cốt lõi trong cải cách dịch vụ sự nghiệp công.

Trong thời gian qua, nhiều chủ trương, chính sách về đổi mới tổ chức và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp đã được ban hành, nổi bật là Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập. Nghị quyết này đã đặt ra 08 nhóm nhiệm vụ và giải pháp, trong đó có giải pháp hoàn thiện pháp luật về cơ chế tự chủ trên cơ sở mức độ tự chủ về tài chính, tăng cường phân cấp và tăng tính chủ động cho các đơn vị sự nghiệp công lập.

Trong giai đoạn đầu, yếu tố tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập thể hiện thông qua tự chủ sử dụng nguồn thu như: Sự đóng góp của người dân; quỹ phúc lợi của nhà máy, công trường, nông trường, lâm trường và quỹ công ích của hợp tác xã để xây dựng cơ sở vật chất của trường học (Quyết định số 248-TTg ngày 22/11/1973); sử dụng học phí thu được để chi tăng cường cơ sở vật chất, hỗ trợ cho đời sống giáo viên (Quyết định số 241-TTg ngày 24/5/1993); sử dụng một phần viện phí để mua thêm thuốc, hóa chất, trang bị vật tư, sửa chữa tu bổ cơ sở bù đắp cho đối tượng miễn giảm, khen thưởng cho cán bộ, công nhân viên (Quyết định số 45-HĐBT ngày 24/4/1989).

Nghị định số 10/2002/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16/01/2002 về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu đã quy định cụ thể các trường hợp được chủ động quyết định đối với một số nguồn thu. Trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, các đơn vị được tự chủ cả về nhiệm vụ, tài chính và tài sản, tổ chức và biên chế theo Nghị định số 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 05/9/2005. Theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006, mức độ tự chủ trong thực hiện nhiệm vụ, tổ chức, biên chế và tài chính được áp dụng cho các đơn vị tùy theo mức độ tự chủ về tài chính.

Nhìn chung, việc thực hiện cơ chế tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập còn nhiều hạn chế, các đơn vị hoạt động thiếu hiệu quả, tính tự chủ chưa cao, kinh phí chủ yếu do ngân sách nhà nước cấp. Khi xem xét Đề án đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công, Bộ Chính trị đã xác định nhiệm vụ cần hoàn thiện thể chế về cơ chế tự chủ trong thực hiện nhiệm vụ và tổ chức bộ máy. Nhiệm vụ này tiếp tục được khẳng định tại các Kết luận số 63-KL/TW ngày 27/5/2013 và Kết luận số 64-KL/TW ngày 28/5/2013 của Hội nghị Trung ương 7 khóa XI.

Chính phủ ban hành nhiều văn bản để thể chế hóa chủ trương đẩy mạnh thực hiện cơ chế tự chủ như: Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 24/10/2014 về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập giai đoạn 2014 - 2017; Nghị quyết số 93/NQ-CP ngày 15/12/2014 về một số cơ chế, chính sách phát triển y tế; Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập và các nghị định quy định cơ chế tự chủ trong từng lĩnh vực cụ thể.

Có thể thấy rằng, thể chế về tự chủ trong tổ chức và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập đã từng bước được hoàn thiện. Nhưng do còn thiếu đồng bộ, thống nhất nên đã ảnh hưởng đến quá trình thực hiện tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập.

2. Tự chủ về thực hiện nhiệm vụ

Tự chủ về thực hiện nhiệm vụ là cơ sở của tự chủ về tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính. Căn cứ tính chất, khối lượng công việc, đơn vị tổ chức bộ máy, bố trí nhân lực và cơ sở vật chất hợp lý để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ.

Theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ, các đơn vị được tự chủ theo 02 nhóm nhiệm vụ: Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Trong xây dựng kế hoạch, đơn vị không sử dụng ngân sách nhà nước tự xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ, đơn vị còn lại sẽ xây dựng kế hoạch báo cáo cơ quan quản lý cấp trên để phê duyệt. Trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ, các đơn vị quyết định các biện pháp thực hiện nhiệm vụ; tham gia đấu thầu cung ứng các dịch vụ sự nghiệp công; liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân.

Thực hiện cơ chế tự chủ, các đơn vị đã chủ động hơn trong cân đối các nguồn lực để thực hiện nhiệm vụ được giao, đồng thời cung cấp các dịch vụ công nhằm tăng thêm nguồn thu để đầu tư cơ sở vật chất, bổ sung thu nhập cho người lao động như: Khám chữa bệnh theo yêu cầu, ký kết các hợp đồng chuyển giao công nghệ, đào tạo chất lượng cao theo yêu cầu… Ngoài ra, các đơn vị còn liên doanh, liên kết mở rộng hoạt động.

Thực tiễn triển khai các quy định về tự chủ thực hiện nhiệm vụ còn gặp nhiều vướng mắc, bất cập. Theo Luật Tổ chức Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quy định chức năng, nhiệm vụ của đơn vị sự nghiệp công lập. Luật Khoa học và công nghệ cũng quy định người có thẩm quyền thành lập sẽ là người quy định chức năng, nhiệm vụ của tổ chức khoa học và công nghệ. Như vậy, rất khó để đơn vị được tự quyết định nhiệm vụ của mình. Để tự chủ nhiệm vụ trở nên thực chất hơn, cơ quan quản lý chỉ quyết định những nhiệm vụ cốt yếu là cơ sở để thành lập đơn vị, các nhiệm vụ và hoạt động dịch vụ có liên quan nên giao đơn vị chủ động quyết định.

3. Tự chủ về tổ chức bộ máy

Mức độ tự chủ về tổ chức bộ máy phụ thuộc vào mức độ tự chủ về tài chính. Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư hoặc tự bảo đảm chi thường xuyên được quyết định thành lập, giải thể các đơn vị không thuộc cơ cấu tổ chức các đơn vị cấu thành theo quyết định của cấp có thẩm quyền. Các đơn vị tự bảo đảm một phần hoặc do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên xây dựng phương án sắp xếp, kiện toàn cơ cấu tổ chức của đơn vị trình cơ quan có thẩm quyền quyết định.

Tuy nhiên, theo Nghị định số 123/2016/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01/9/2016 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ và Nghị định số 55/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 28/6/2012 quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của đơn vị sự nghiệp trực thuộc.

Do vậy, mặc dù đã có quy định tự chủ về tổ chức nhưng trên thực tế quyền tự chủ này của đơn vị không được thực hiện. Mặt khác, để vận hành tổ chức mới cần được bảo đảm bởi công tác cán bộ như: Bổ nhiệm người đứng đầu, số lượng viên chức… mà vấn đề này hiện nay đang thuộc thẩm quyền của cơ quan quản lý. Để tháo gỡ được vướng mắc trong thực hiện tự chủ về tổ chức của các đơn vị thì cần có sự đồng thuận, tạo điều kiện từ cơ quan có thẩm quyền.

4. Tự chủ về quyết định số lượng viên chức và người lao động

Theo quy định thì đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, tự bảo đảm chi thường xuyên quyết định số lượng người làm việc; đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên hoặc do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên đề xuất số lượng người làm việc của đơn vị trình cơ quan có thẩm quyền quyết định. Các tổ chức khoa học và công nghệ công lập, các đơn vị sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, tự bảo đảm chi thường xuyên được quyết định vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc.

Về vấn đề này, Luật Viên chức đã quy định đơn vị được giao quyền tự chủ được thực hiện các nội dung quản lý viên chức như: Xây dựng vị trí việc làm; ký hợp đồng làm việc; bổ nhiệm, thay đổi chức danh nghề nghiệp; thay đổi vị trí việc làm, biệt phái, chấm dứt hợp đồng làm việc, giải quyết chế độ thôi việc; bổ nhiệm, miễn nhiệm viên chức quản lý; sắp xếp, bố trí và sử dụng viên chức theo nhu cầu công việc…

Tuy nhiên, Nghị định số 41/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 08/5/2012 về vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập lại quy định thẩm quyền của các cơ quan quản lý trong việc quyết định vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc. Cụ thể: Các bộ, cơ quan quản lý vị trí việc làm của đơn vị trực thuộc, quyết định phân bổ số lượng người làm việc đối với từng đơn vị chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp phê duyệt tổng số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập sau khi có ý kiến thẩm định của Bộ Nội vụ. Bộ Nội vụ quyết định vị trí việc làm, số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn; quyết định vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị được giao quyền tự chủ hoàn toàn; quyết định vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp trong các đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Sự khác nhau trong các quy định về thẩm quyền quyết định số lượng viên chức là rào cản quá trình thực hiện tự chủ. Để khắc phục tình trạng này, ngày 10/10/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 89/NQ-CP, trong đó xác định các đơn vị tự bảo đảm về chi thường xuyên và chi đầu tư, tự bảo đảm về chi thường xuyên được quyết định về vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc. Nhưng để triển khai thống nhất vẫn cần sửa đổi các quy định tại Nghị định số 41/2012/NĐ-CP ngày 08/5/2012 của Chính phủ.

5. Về bổ nhiệm người đứng đầu đơn vị

Tính chất sự nghiệp luôn gắn với liền với hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ đòi hỏi người đứng đầu đơn vị không chỉ có khả năng quản lý mà trước hết phải là người có uy tín nghề nghiệp để quy tụ được những cán bộ có trình độ cống hiến vì tập thể. Vì vậy, việc được tự lựa chọn, quyết định người đứng đầu là vấn đề thu hút sự quan tâm đặc biệt của đơn vị sự nghiệp.

Pháp luật hiện hành đang quy định cơ chế quản lý công chức đối với người đứng đầu các đơn vị sự nghiệp công lập. Theo Luật Tổ chức Chính phủ (Điều 34), Bộ trưởng bổ nhiệm người đứng đầu đơn vị thuộc bộ. Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương (Điều 22), Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm công chức, viên chức theo thẩm quyền.

Một số văn bản pháp luật chuyên ngành có quy định cụ thể thẩm quyền của cơ quan quản lý trong việc bổ nhiệm người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập như: Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp (các Điều 11, 13 và 14), Giám đốc Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp do người có thẩm quyền thành lập Trung tâm bổ nhiệm; Hiệu trưởng trường trung cấp, cao đẳng do Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm. Luật Giáo dục đại học (Điều 20) quy định Hiệu trưởng trường cao đẳng, trường đại học, Giám đốc học viện, đại học do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm hoặc công nhận. Luật Xuất bản (Điều 16) quy định cơ quan chủ quản nhà xuất bản bổ nhiệm Tổng giám đốc (Giám đốc) và Tổng biên tập sau khi có văn bản chấp thuận của Bộ Thông tin và Truyền thông…

Quyết định nhân sự người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập theo cách trên là một trong những biểu hiện của cơ chế chủ quản vốn không tương thích với xu hướng tự chủ. Do vậy, cần có cơ chế hài hòa giữa quyền quyết định của cơ quan quản lý với quyền lựa chọn của đơn vị sự nghiệp công lập, loại bỏ bớt các rào cản như độ tuổi nghỉ hưu, giới hạn nhiệm kỳ, kinh nghiệm quản lý… để tạo cơ sở cho việc lựa chọn người đứng đầu các đơn vị vừa có trình độ, vừa có kỹ năng quản lý và thu hút các chuyên gia nước ngoài tham gia lãnh đạo đơn vị.

6. Tự chủ về liên doanh, liên kết và vay vốn, huy động vốn

Nghị định số 115/2005/NĐ-CP và Nghị định số 43/2006/NĐ-CP đã quy định cho các đơn vị sự nghiệp công lập được tự chủ trong việc liên doanh, liên kết và vay vốn, huy động vốn. Tuy nhiên, qua gần 10 năm triển khai, kết quả đạt được còn rất khiêm tốn.

Nghị định số 16/2015/NĐ-CP và các nghị định về cơ chế tự chủ trong từng lĩnh vực tiếp tục quy định về vấn đề này. Theo đó, đơn vị được sử dụng quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp góp vốn liên doanh, liên kết để hoạt động dịch vụ. Đơn vị có hoạt động dịch vụ được vay vốn của các tổ chức tín dụng, huy động vốn của cán bộ, viên chức trong đơn vị. Riêng các đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư được vay vốn, huy động vốn để đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất. Việc vay vốn, huy động vốn phải có phương án tài chính khả thi, tự chịu trách nhiệm trả nợ vay, lãi vay theo quy định.

Trên thực tế việc triển khai các quy định về liên doanh, liên kết, vay vốn, huy động vốn không phải lúc nào cũng thuận lợi. Đất đai là một nguồn tài sản có giá trị lớn nhưng đơn vị không được thế chấp hoặc sử dụng vào tài sản góp vốn. Theo Luật Đất đai, chỉ những đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê mà tiền thuê đất đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Các tổ chức sử dụng đất trả tiền thuê đất hàng năm được thế chấp, góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê. Các tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất không có quyền này.

Hiện nay, hầu hết các đơn vị sự nghiệp công lập đang sử dụng đất theo hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất. Do đó, các đơn vị này không được thực hiện các hoạt động thế chấp, góp vốn.

Bên cạnh đó, các đơn vị có nguồn tài sản rất lớn là nguồn nhân lực có trình độ, chuyên môn, uy tín, thương hiệu đơn vị. Tuy nhiên, việc hướng dẫn cách xác định giá trị thương hiệu, nguồn nhân lực chưa có nên gây khó khăn cho việc xác định giá trị vốn góp liên doanh, liên kết.

ThS. Bùi Công Quang

Văn phòng Chính phủ

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: