Chủ nhật 25/10/2026 03:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xây dựng Chính phủ liêm chính ở Việt Nam - Thực trạng và một số giải pháp

Trong những năm qua, Chính phủ đã có nhiều nỗ lực, đổi mới, hoàn thiện cả về thể chế và thiết chế nhằm xây dựng một Chính phủ liêm chính, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Bài viết đánh giá những thành tựu, hạn chế mà Việt Nam đã đạt được trong quá trình thực hiện mục tiêu này, đồng thời chỉ ra những nguyên nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp thúc đẩy quá trình xây dựng bộ máy nhà nước liêm chính ở Việt Nam thời gian tới.

1. Chính phủ liêm chính và nhu cầu xây dựng Chính phủ liêm chính

Thứ nhất, nhu cầu xây dựng một Chính phủ liêm chính được ghi nhận trong các văn kiện của Đại hội Đảng qua các nhiệm kỳ. Mặc dù chưa trực tiếp sử dụng thuật ngữ “liêm chính”, song mục tiêu xây dựng một Chính phủ liêm chính đã được xác định từ các kỳ đại hội trước của Đảng ta. Đặc biệt, đến Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, nhiệm vụ trọng tâm thứ hai ngay sau nhiệm vụ chỉnh đốn tổ chức Đảng là: Xây dựng tổ chức bộ máy của toàn hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu[1]. Đây chính là các nội dung thuộc về nội hàm của bộ máy liêm chính. Tiếp nối tinh thần này, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định một trong các định hướng phát triển trong giai đoạn tiếp theo của đất nước là: Chính phủ thống nhất hành động với quyết tâm cao nhất, kiên quyết đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý, điều hành, loại bỏ dần biện pháp mệnh lệnh - hành chính, xây dựng Chính phủ trong sạch, liêm chính, Chính phủ kiến tạo phát triển[2]. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, mục tiêu xây dựng Chính phủ liêm chính đã được nhắc tới trực tiếp như một nhiệm vụ hàng đầu, định hướng và mục tiêu phát triển của đất nước cũng cho thấy nhu cầu cấp thiết và sự sẵn sàng thay đổi trong nhận thức của Đảng và Nhà nước, tạo cơ sở vững chắc về mặt lý luận cho sự triển khai của Chính phủ.

Thứ hai, nhu cầu xây dựng một Chính phủ liêm chính cũng xuất phát từ chính bản thân chức năng, nhiệm vụ của cơ quan này. Chính phủ - cơ quan hành pháp ở trung ương, được Quốc hội giao nhiệm vụ là cơ quan đầu não trong tổ chức thực hiện pháp luật, quản lý nền hành chính quốc gia và quản lý mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước[3]. Để thực hiện được các nhiệm vụ này, đặc biệt trong điều kiện hiện nay, Chính phủ không những cần phát huy vai trò lãnh đạo của cơ quan trung ương với sự chủ động, quyết liệt mà mỗi thành viên của Chính phủ cần đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, không tham lam, vụ lợi, dám đứng lên chống lại những biểu hiện tha hóa, tiêu cực, tham nhũng. Có như vậy thì toàn thể bộ máy mới có thể hoạt động hiệu quả, đạt được mục tiêu phục vụ nhân dân, vì sự phát triển của đất nước. Bên cạnh đó, với vai trò là cơ quan hành pháp ở trung ương, Chính phủ cần là tấm gương tốt trong việc thực hiện liêm chính cho các cấp chính quyền địa phương, từ đó mới có thể thực hiện nhiệm vụ xây dựng bộ máy hành pháp trong sạch, vững mạnh, dám nghĩ, dám làm. Sự liêm chính còn đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng lòng tin từ phía công dân và duy trì sự ổn định trong xã hội.

Thứ ba, trước nhu cầu hội nhập quốc tế mạnh mẽ hiện nay, xây dựng một Chính phủ liêm chính cũng hoàn toàn phù hợp với các lý thuyết hiện đại về quản lý công mới (New Public Management) và quản trị tốt (Good Governance) mà các quốc gia trên thế giới đang theo đuổi. Trong số 06 tiêu chí để đánh giá khả năng quản trị nhà nước mà Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra để đánh giá chỉ số quản trị toàn cầu (WGI) thì có hai tiêu chí liên quan tới tính liêm chính của bộ máy là: Tiếng nói và trách nhiệm giải trình, kiểm soát tham nhũng[4]. Tương tự, trong 08 tiêu chí Ủy ban Kinh tế và xã hội châu Á - Thái Bình Dương của Liên Hợp quốc (UNESCAP) đưa ra để đánh giá mức độ quản trị tốt của Chính phủ cũng bao gồm tiêu chí về “trách nhiệm báo cáo, giải trình”[5]. Điều này khẳng định, việc xây dựng Chính phủ liêm chính không chỉ xuất phát từ nội tại nhu cầu phát triển của quốc gia mà còn là những yêu cầu để Việt Nam đáp ứng các tiêu chí đánh giá của quốc tế và khu vực, góp phần củng cố vị thế của Nhà nước Việt Nam trên bản đồ chính trị thế giới.

Như vậy, có thể thấy, nhu cầu về một Chính phủ liêm chính không phải mới xuất hiện nhưng trong điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội trong nước và quốc tế hiện nay, nhu cầu này càng gia tăng mạnh mẽ và thúc đẩy cần tiến hành nhanh chóng hơn nữa. Nhu cầu này trước hết được ghi nhận và xác định từ Nghị quyết của Đảng, mở ra một cơ sở lý luận chính trị vững chắc cho tiến trình thiết lập và gia tăng tính liêm chính của Chính phủ. Đồng thời, nhu cầu này cũng xuất hiện từ trong chính hoạt động thường xuyên và như cầu phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của Chính phủ trong tình hình mới. Ngoài ra, hội nhập quốc tế càng làm cho việc xây dựng một Chính phủ liêm chính trở thành không chỉ là một nhiệm vụ nội bộ mà còn là một bước quan trọng để hội nhập và phát triển bền vững trong cộng đồng quốc tế. Sự tương tác giữa những yếu tố này là chìa khóa cho việc xây dựng một Chính phủ vững mạnh, đáp ứng đầy đủ và hiệu quả cho nhu cầu của xã hội và quốc gia.

2. Thực tiễn xây dựng Chính phủ liêm chính ở Việt Nam thời gian qua

2.1. Thành tựu đạt được

Trải qua hơn 10 năm, việc thực hiện xây dựng bộ máy nhà nước liêm chính, hiệu lực, hiệu quả theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã đạt được những thành tựu đáng kể, điều đó được minh chứng, định lượng thông qua các bộ chỉ số uy tín cũng như các hoạt động thực tế của Chính phủ.

Thứ nhất, sự gia tăng của các chỉ số đánh giá hiệu quả quản trị nhà nước và phòng, chống tham nhũng. Bên cạnh các chỉ số tăng trưởng về kinh tế, xã hội nói chung của cả nước, những thành tựu đạt được trong tiến trình phát triển và minh chứng cho sự gia tăng trong tính liêm chính của Chính phủ được thể hiện thông qua sự tăng trưởng của các chỉ số đánh giá Chính phủ trong những năm qua. Trước hết, qua các kỳ đánh giá từ năm 2012 đến năm 2022, các chỉ số trong Bộ chỉ số quản trị toàn cầu (WGI) của Việt Nam có sự tăng trưởng đáng kể: Chỉ số hiệu quả hoạt động của Chính phủ tăng 0,43 điểm, nâng thứ bậc phần trăm của chỉ số này ở Việt Nam tăng 14,41%; chỉ số Nhà nước pháp quyền tăng 0,39 điểm và tăng 12,43%; chỉ số kiểm soát tham nhũng tăng 0,24 điểm và tăng 10,2% qua 10 năm. Đây là những chỉ số thể hiện rõ rệt biểu hiện và thành tựu của nỗ lực xây dựng Chính phủ liêm chính ở Việt Nam hiện nay và cũng là ba chỉ số có tốc độ gia tăng nhanh nhất. Chỉ số tiếng nói và trách nhiệm giải trình - một trong những tiêu chí đánh giá tính liêm chính của Chính phủ cũng có sự gia tăng nhất định trong cùng thời kỳ với 0,13 điểm.

Song song với WGI, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam trong giai đoạn từ 2016 - khi Chính phủ bắt đầu thể hiện quyết tâm xây dựng Chính phủ liêm chính, hành động đến nay cũng có sự tăng trưởng vượt bậc, là minh chứng rõ ràng cho các thành tựu của Việt Nam trong nỗ lực xây dựng một bộ máy chính quyền nói chung và một cơ quan hành pháp trung ương nói riêng (Chính phủ) liêm chính. Từ năm 2013 - 2015, CPI của Việt Nam duy trì ở mức 31/100 điểm, xếp hạng thứ 115/176 quốc gia không có sự tăng trưởng. Tuy nhiên, từ năm 2016 trở đi, chỉ số này luôn giữ mức tăng liên tục và đáng kể. Năm 2016, chỉ số CPI của nước ta đạt 33 điểm, xếp hạng 113/176 quốc gia. Đến năm 2023, chỉ số này tăng lên 41 điểm, đưa Việt Nam vươn lên xếp hạng thứ 83 trên 180 quốc gia[6]. Như vậy, tính từ năm 2016 đến năm 2022, chỉ số CPI của Việt Nam đã tăng 10 điểm, đưa nước ta tăng 30 bậc trong chỉ số xếp hạng nhận thức tham nhũng so với các quốc gia trên thế giới.

Những số liệu trên cho thấy, các tín hiệu thực sự khả quan trong điều kiện quốc gia đang nỗ lực phòng, chống tham nhũng, tích cực tăng cường quản trị tốt và xây dựng hình tượng một chính quyền liêm chính, trong sạch, phá bỏ rào cản tham nhũng trong kinh doanh nhằm thu hút đầu tư trong nước và quốc tế. Không chỉ vậy, các số liệu cũng minh chứng cho những thành công mà Chính phủ đã đạt được trong nỗ lực xây dựng Chính phủ liêm chính, được người dân ghi nhận, từ đó nâng cao sự tín nhiệm, lòng tin của người dân vào sự quản lý của Chính phủ.

Công khai, minh bạch cũng là một trụ cột quan trọng trong quá trình xây dựng cơ quan hành pháp ở trung ương liêm chính. Khảo sát công khai ngân sách (OBS) của Việt Nam năm 2021 cũng cho thấy những thay đổi tích cực. Điểm xếp hạng của Việt Nam trong OBS năm 2021 ở cả 3 trụ cột minh bạch, sự tham gia của công chúng và giám sát ngân sách đều tăng 06 điểm so với OBS năm 2019. So với kết quả OBS năm 2019, Việt Nam đã tăng 06 điểm trong các lĩnh vực này. Điểm xếp hạng của Chỉ số công khai ngân sách (OBI) của Việt Nam năm 2021 đạt 44/100 điểm, tiến sát với điểm trung bình thế giới là 45/100 điểm, tăng 06 điểm so với OBI năm 2019, đưa Việt Nam lên vị trí thứ 68 trên tổng số 120 quốc gia tham gia khảo sát OBS năm 2021, tăng 09 bậc so với năm 2019[7].

Với Chính phủ và các bộ và cơ quan ngang bộ, chỉ số MOBI[8] là một chỉ số cho thấy nỗ lực của các cơ quan này trong việc thực hiện mục tiêu trọng điểm trên. Kết quả khảo sát MOBI trong giai đoạn từ năm 2018 - 2021 cho thấy, chỉ số MOBI của các bộ và cơ quan trung ương đều có sự tăng trưởng. Đặc biệt, giai đoạn từ năm 2020 - 2021, các chỉ số tăng trưởng đáng kể cho thấy tinh thần sẵn sàng minh bạch hóa các khoản thu chi và việc sử dụng ngân sách nhà nước của các bộ và cơ quan trung ương. Từ minh bạch về ngân sách sẽ là nền tảng để tăng cường minh bạch hóa trong các hoạt động khác của Chính phủ, tạo điều kiện cho Chính phủ hành động quyết liệt, nhanh chóng mà không bị ảnh hưởng bởi các nhóm lợi ích hay tư lợi cá nhân.

Thứ hai, từng bước xây dựng thành công Chính phủ điện tử - nền tảng của Chính phủ liêm chính. Chính phủ đã tập trung chỉ đạo mạnh mẽ vào việc xây dựng Chính phủ điện tử và chính quyền điện tử, cung cấp các dịch vụ công trực tuyến với nhiều kết quả tích cực. Thủ tướng Chính phủ đã giao Văn phòng Chính phủ triển khai hệ thống tiếp nhận kiến nghị và phản ánh từ cộng đồng qua Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, bảo hiểm, dân cư và đất đai đang đi vào hoạt động, tạo ra một nền tảng thông tin quan trọng. Các dịch vụ trực tuyến như đăng ký doanh nghiệp, kê khai thuế, hải quan điện tử, và bảo hiểm xã hội đã được các cơ quan nhà nước cung cấp. Đồng thời nhiều bộ, ngành đã thực hiện xử lý công việc trực tuyến.

Với sự phát triển của Chính phủ điện tử, người dân không chỉ thuận tiện hơn trong thực hiện và tiếp cận các dịch vụ công mà khi các hoạt động của Chính phủ được thực hiện dựa trên sự ứng dụng công nghệ và các cơ sở dữ liệu quốc gia, tính minh bạch sẽ được gia tăng.

2.2. Một số hạn chế

Một là, mức độ công khai, minh bạch của Chính phủ còn thấp. Trên thực tế, mặc dù có dấu hiệu tích cực trong việc công bố thông tin của ngân sách nhà nước, tuy nhiên, chỉ số MOBI vẫn ở mức thấp. Nếu so với điểm trung bình của MOBI năm 2021 là 30,9/100 điểm, đối chiếu với điểm trung bình của chỉ số công khai ngân sách tỉnh (POBI) năm 2021 là 69,53/100 điểm, chỉ mới đạt được chưa đến một nửa. Điều này cho thấy rằng, các bộ, cơ quan trung ương vẫn chưa có sự cải thiện đáng kể về mức độ công khai ngân sách và chưa thực hiện đầy đủ theo các quy định về công khai ngân sách.

Hai là, tham nhũng vẫn còn là vấn nạn chưa được giải quyết triệt để. Chỉ số cảm nhận tham nhũng (PCI) của Việt Nam gần với mức trung bình của thế giới (43 điểm), đứng ở mức 41 điểm vào năm 2023, giảm 01 điểm so với năm 2022[9]. Đáng chú ý, các vụ việc tham nhũng vẫn còn tồn tại và gây ra những thiệt hại lớn cho xã hội, số vụ tội phạm về tham nhũng bị phát hiện tăng 51,63% từ năm 2022 đến năm 2023[10]. Không chỉ có các tham nhũng lớn, tình trạng tham nhũng vặt, lợi ích nhóm cũng vẫn còn tồn tại là một trong những nguyên nhân gây mất niềm tin của người dân vào Chính phủ, thách thức tiến trình xây dựng Chính phủ liêm chính.

Những hạn chế trên xuất phát từ một số nguyên nhân như: (i) Quá trình xây dựng Chính phủ liêm chính được đặt ra trong bối cảnh nền kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế đứng trước nhiều thách thức. Năm 2019, khi đại dịch Covid-19 xảy ra, Chính phủ cần tập trung mọi nguồn lực, ưu tiên chống dịch nên các hoạt động khác chưa thể được chú trọng. Đến năm 2023, sau khi dịch bệnh đã đi qua lại tạo nên một bối cảnh khó khăn và phức tạp cho nền kinh tế, khủng hoảng kinh tế toàn cầu và trong nước đặt ra nhiều thách thức đối với quá trình cải cách hành chính và phục hồi kinh tế ở Việt Nam. Áp lực tài chính, hạn chế đầu tư, thách thức hồi phục xã hội… đều là những nguyên nhân cản trở tính liêm chính của Chính phủ; (ii) Cơ cấu tổ chức trong bộ máy của Chính phủ còn cồng kềnh, sự phối hợp giữa các cấp quản lý có lúc, có nơi còn chưa thực sự chặt chẽ. Quy trình, thủ tục trong thực hiện một số chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ còn chưa phù hợp. Việc thực hiện phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa phương còn chưa thống nhất. Những điều này không chỉ hạn chế tính minh bạch của Chính phủ mà còn là thách thức trong trách nhiệm giải trình và quy trách nhiệm đối với các cán bộ, công chức; (iii) Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, ý thức trách nhiệm và tinh thần, thái độ làm việc của một bộ phận công chức, viên chức chưa cao; (iv) Để xây dựng Chính phủ liêm chính, vì lợi ích của người dân và phục vụ người dân theo đúng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì sự tham gia của người dân trong việc đóng góp ý kiến, sẵn sàng cổ vũ, thích ứng với những thay đổi của Chính phủ cũng như tham gia tích cực trong kiểm tra, giám sát hoạt động của Chính phủ là điều vô cùng cần thiết. Tuy nhiên, điều này ở nước ta hiện nay còn những hạn chế nhất định; (v) Công tác xây dựng Chính phủ điện tử, chuyển đổi số còn mới, nhiều nội dung khó chưa có tiền lệ, cơ sở dữ liệu của bộ, ngành, địa phương còn chưa tập trung, chất lượng báo cáo chưa đáp ứng yêu cầu. Một số nơi còn lúng túng, thiếu linh hoạt trong việc chỉ đạo xử lý các vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn cũng là những nguyên nhân dẫn tới những hạn chế nêu trên.

3. Giải pháp thúc đẩy và hoàn thiện Chính phủ liêm chính ở nước ta trong thời gian tới

Để xây dựng và hoàn thiện Chính phủ liêm chính ở nước ta, trước hết, cần đổi mới cơ cấu tổ chức trong bộ máy của Chính phủ, tăng cường sự phối hợp giữa các cấp quản lý, thống nhất, đồng bộ việc thực hiện phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa phương; các bộ, cơ quan trung ương cần thực hiện đầy đủ, nghiêm minh các quy định về công khai ngân sách, tích cực cải thiện mức độ công khai ngân sách; quyết tâm giải quyết triệt để vấn nạn tham nhũng... thông qua việc thực hiện đồng bộ một số giải pháp cụ thể sau đây:

Thứ nhất, cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện mô hình tổ chức của Chính phủ theo hướng xác định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, bộ phận, tránh trùng lặp, chồng lấn. Quá trình xây dựng bộ máy quản lý đa ngành, đa lĩnh vực cần đặc biệt lưu ý về việc thu hẹp đầu mối chịu trách nhiệm. Mặc dù, phạm vi quản lý rộng nhưng không thể để tình trạng “thầy nhiều hơn thợ”, dẫn tới thiếu tính chịu trách nhiệm, không xác định được đầu mối để đánh giá, quy kết trách nhiệm trong hoạt động thanh tra, kiểm tra, làm giảm hiệu quả của các hoạt động này.

Thứ hai, nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của Chính phủ. Việc nâng cao trách nhiệm, tinh thần phục vụ và thái độ phục vụ nói chung, cũng như trách nhiệm giải trình nói riêng của các cơ quan nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức là hết sức cần thiết trong công tác phòng, chống tham nhũng và lãng phí hiện nay. Đây là một trong những giải pháp căn bản và hữu ích của xây dựng Chính phủ liêm chính. Việc thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước còn là cơ sở để phát huy vai trò giám sát của các cơ quan dân cử, tổ chức, đoàn thể và nhân dân đối với hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả thực thi chức trách và công vụ. Đồng thời, việc này cũng mở ra những điều kiện, cơ hội thuận lợi và dễ dàng hơn cho cơ quan, tổ chức và công dân trong việc tiếp cận thông tin và quyết định quản lý của cơ quan nhà nước. Để thực hiện mục tiêu nâng cao trách nhiệm giải trình, trước hết cần có quy định yêu cầu các cơ quan và công chức hành chính nhà nước phải bảo đảm trách nhiệm giải trình, xây dựng cơ chế để cán bộ, công chức thực hiện đúng, đủ, kịp thời trách nhiệm giải trình. Bên cạnh đó, cần nâng cao nhận thức của toàn xã hội về trách nhiệm giải trình. Người dân cũng cần được thông tin đầy đủ và nhận thức về quyền được biết của mình, để có thể yêu cầu các cơ quan và công chức hành chính nhà nước thực hiện trách nhiệm giải trình.

Thứ ba, nâng cao năng lực giám sát của người dân, tăng cường phản biện xã hội đối với các hoạt động của Chính phủ. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về tầm quan trọng, vai trò của phản biện xã hội. Cần làm tốt khâu chuẩn bị và tổ chức thực hiện phản biện xã hội; mời các chuyên gia, các luật gia, thành viên hội đồng tư vấn, người có kinh nghiệm tham gia phản biện xã hội. Gắn nhiệm vụ giám sát, phản biện với việc lắng nghe ý kiến của nhân dân, góp ý kiến xây dựng Đảng, chính quyền. Đối với những ý kiến chưa đúng thì phải giải thích cho nhân dân hiểu; cần xây dựng cơ chế khuyến khích, động viên nhân dân thực hiện vai trò giám sát một cách tự nguyện, tự giác.

Thứ tư, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ năng lực, đạo đức để thực thi liêm chính, hành động. Đội ngũ cán bộ, công chức là cốt lõi của bộ máy Chính phủ. Như đã phân tích, không thể có một Chính phủ liêm chính nếu các cán bộ, công chức trong bộ máy này không liêm chính. Trước hết, cần đẩy mạnh việc tuyên truyền, giáo dục ý thức thực hành đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; làm tốt công tác tuyên truyền, không ngừng nâng cao dân trí, pháp luật phải nghiêm minh, trừng trị những kẻ “bất liêm”. Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng cao ý thức tự giác, tự tu dưỡng, rèn luyện, tận tâm, tận lực cống hiến trí tuệ, sức lực cho Đảng, phụng sự đất nước và phục vụ nhân dân, nhất là phải đề cao trách nhiệm và sự gương mẫu của người đứng đầu. Cần triển khai định kỳ công tác rà soát, kiểm tra, đánh giá trách nhiệm công vụ trong quá trình cán bộ, công chức, viên chức, người có chức vụ, quyền hạn thực hiện nhiệm vụ theo quy định hoặc được giao theo sự phân công. Đồng thời, cần nâng cao đời sống kinh tế cho đội ngũ cán bộ, công chức thông qua cải cách chính sách tiền lương và có cơ chế để cải thiện môi trường làm việc theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, cạnh tranh lành mạnh, tạo cơ hội phát triển bình đẳng giữa các cán bộ, công chức để bản thân họ có điều kiện cống hiến hết mình cho hoạt động công vụ, không tham ô, tham nhũng hay nhũng nhiễu người dân.

Tóm lại, xây dựng Chính phủ liêm chính không chỉ là đòi hỏi từ thực tiễn và nhu cầu phát triển của quốc gia mà còn xuất phát từ chính nhu cầu phát triển, hoàn thiện, nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước phục vụ mục tiêu phát triển đất nước, phục vụ nhân dân. Thực tế cho thấy, trước những yêu cầu của một Chính phủ liêm chính, hành động, Chính phủ Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định, có đóng góp không nhỏ trong sự phát triển của đất nước cũng như nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên bản đồ thế giới. Tuy nhiên, quá trình xây dựng Chính phủ liêm chính, hành động cũng không tránh khỏi những hạn chế, tồn tại cần thay đổi, khắc phục. Do đó, các giải pháp đưa ra cần được tiến hành đồng bộ, bao gồm cả việc thiết kế lại về cơ cấu, tổ chức của Chính phủ, nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình, nâng cao nhận thức từ phía người dân và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước./.

ThS. Trần Thị Quyên

Đại học Luật Hà Nội

[1]. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, năm 2016, https://dangcongsan.vn/xay-dung-dang/nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xii-cua-dang-368870.html.

[2]. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, năm 2021, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-xiii/nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiii-cua-dang-3663.

[3]. Tham khảo Chương XII (từ Điều 94 đến Điều 101) Hiến pháp năm 2013; Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

[4]. Ngân hàng Thế giới (WB), Các chỉ số quản trị toàn cầu, https://www.worldbank.org/en/publication/worldwide-governance-indicators, truy cập ngày 15/4/2024.

[5]. Liên Hợp quốc (UN), Ủy ban Kinh tế và xã hội châu Á - Thái Bình Dương, “Thế nào là quản trị tốt” (What is good governance?), tr. 1, 2.

[6]. Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI), Chỉ số cảm nhận tham nhũng quốc gia, số liệu của Việt Nam qua các năm, https://www.transparency.org/en/cpi/2023/index/vnm, truy cập ngày 20/2/2024.

[7]. Hân Nguyễn, “Chỉ số công khai ngân sách OBI 2021: Ghi nhận thay đổi tích cực của Việt Nam”, https://dangcongsan.vn/kinh-te-va-hoi-nhap/chi-so-cong-khai-ngan-sach-obi-2021-ghi-nhan-thay-doi-tich-cuc-cua-viet-nam-611882.html, truy cập ngày 22/4/2024.

[8]. MOBI là chỉ số đánh giá mức độ công khai ngân sách các bộ và cơ quan trung ương, được xây dựng thông qua 05 tiêu chí chính là tính sẵn có, tính kịp thời, tính đầy đủ, tính thuận tiện và tính liên tục của 06 loại tài liệu bắt buộc phải công khai theo Luật Ngân sách nhà nước năm 2015, https://vess.org.vn/wp-content/uploads/2022/10/BAO-CAO-MOBI-2021.pdf, truy cập ngày 22/4/2024.

[9]. Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI), Chỉ số cảm nhận tham nhũng Việt Nam năm 2022 và năm 2023, https://www.transparency.org/en/cpi/2023/index/vnm, truy cập ngày 22/4/2024.

[10]. Thi Uyên, “Số vụ phạm tội về tham nhũng và chức vụ được phát hiện tăng 51,63% trong 12 tháng”, https://nhandan.vn/so-vu-pham-toi-ve-tham-nhung-va-chuc-vu-duoc-phat-hien-tang-5163-trong-12-thang-post783605.html, truy cập ngày 03/5/2024.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 404), tháng 5/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.

Theo dõi chúng tôi trên: