Thứ tư 24/06/2026 23:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xây dựng chính quyền địa phương phục vụ nhân dân theo quan điểm Đại hội lần thứ XIII của Đảng

Xây dựng chính quyền địa phương vững mạnh luôn là nhiệm vụ xuyên suốt trong các giai đoạn của cách mạng Việt Nam từ khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1945) đến nay, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ để giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước và trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

1. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội lần thứ XIII về xây dựng chính quyền địa phương phục vụ nhân dân

Để thực hiện quyền lực nhân dân, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phân chia lãnh thổ của mình thành các đơn vị hành chính (ĐVHC) - lãnh thổ, thiết lập quyền lực và quản lý mọi mặt đời sống xã hội trên các ĐVHC lãnh thổ đó. Việc phân chia ấy đòi hỏi trên các ĐVHC lãnh thổ phải thiết lập các cơ quan nhà nước có chức năng thực hiện quyền lực nhà nước vì lợi ích của cả cộng đồng dân tộc và lợi ích của cư dân thuộc ĐVHC lãnh thổ - thường được gọi là chính quyền địa phương (CQĐP). Mỗi quốc gia, dân tộc, tùy thuộc các điều kiện kinh tế, chính trị, pháp lý, xã hội cụ thể, tự lựa chọn cách thức tổ chức riêng của mình.

Ở Việt Nam, CQĐP được tổ chức ở các ĐVHC. Cấp CQĐP gồm có Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, ĐVHC, kinh tế đặc biệt do luật định[1]. Trong đó, HĐND gồm các đại biểu HĐND do cử tri ở địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. UBND do HĐND cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương, HĐND cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên[2]. CQĐP ở Việt Nam là một bộ phận hợp thành của bộ máy nhà nước, được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phục vụ nhân dân[3]. Theo đó, mọi vấn đề về tổ chức và hoạt động của CQĐP đều hướng đến việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người dân, giúp đỡ người dân thể hiện và thỏa mãn lợi ích chính đáng, hợp pháp chứ không phải tìm cách kiểm soát hay chỉ đạo theo hướng chủ quan của chính quyền.

Việc xây dựng một CQĐP phục vụ nhân dân là điều cần thiết trong một Nhà nước pháp quyền hiện đại, bởi lẽ, một Nhà nước không biết đến những nhu cầu của một bộ phận lớn dân chúng trong việc thiết lập và thực thi chính sách không phải là một Nhà nước có năng lực[4]. Điều này phản ánh đúng thực tế phục vụ là sứ mệnh hiển nhiên của Nhà nước nói chung và CQĐP nói riêng. Sự phục vụ ấy hướng đến việc thỏa mãn nhu cầu chính đáng của người dân. CQĐP phải thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình vì nhân dân. Để làm được điều đó, khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, mọi chính sách, pháp luật, chủ trương của CQĐP phải lấy người dân tại địa bàn của mình làm trung tâm để xem xét, cân nhắc trước khi ban hành. Thông qua đó, CQĐP tạo ra được một môi trường cởi mở, năng động, đồng thời tạo lập đầy đủ khuôn khổ để người dân tự do sáng tạo thỏa mãn nhu cầu, làm những gì pháp luật không cấm[5].

Xây dựng CQĐP phục vụ nhân dân luôn là một trong những mục tiêu lớn mà Đảng hướng đến trong quá trình lãnh đạo đất nước. Mục tiêu này được thực hiện trên cơ sở quan điểm nhất quán: Mọi chính sách của Đảng và Nhà nước đều phải hướng vào nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của nhân dân; thể hiện rõ bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân[6]; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân[7]. Trong văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định về việc xây dựng CQĐP phục vụ nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng[8]. Cần phải tiếp tục hoàn thiện tổ chức CQĐP phù hợp địa bàn nông thôn, đô thị, hải đảo, ĐVHC, kinh tế đặc biệt theo luật định; thực hiện và tổng kết việc thí điểm chính quyền đô thị nhằm xây dựng và vận hành các mô hình quản trị chính quyền đô thị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả[9]. Trong đó, Đảng đặt ra định hướng cải cách cách, phân cấp, phân quyền, tăng cường sự tự chủ của CQĐP[10]. Khi đó, yêu cầu CQĐP phải có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân, hướng đến việc tập trung thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản, giải quyết các vấn đề xã hội, thực thi pháp luật, cải thiện môi trường kinh doanh và bảo đảm an ninh, trật tự trên địa bàn[11] vì lợi ích của nhân dân. Để thực hiện được mục tiêu này, Đảng cũng chú trọng tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân[12].

Từ đó, có thể chỉ ra yêu cầu đối với CQĐP phục vụ nhân dân là: Mọi hoạt động của CQĐP phải dựa trên cơ sở pháp luật, nhằm hướng tới thỏa mãn các nhu cầu chính đáng của người dân; bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng hoạt động của chính quyền[13]; mọi hành vi vi phạm pháp luật, tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, không có ngoại lệ. Trong mọi công việc của Đảng, Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu[14].

2. Thực trạng tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương theo nguyên tắc phục vụ nhân dân

Một là, về tổ chức bộ máy

Triển khai thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017, Hội nghị lần thứ VI Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, CQĐP đã thường xuyên được đổi mới theo hướng tinh gọn, bước đầu có sự phân biệt giữa tổ chức bộ máy chính quyền nông thôn, đô thị và hải đảo. Tính đến ngày 31/12/2020, cả nước có 63 ĐVHC cấp tỉnh, 705 ĐVHC cấp huyện, 10.603 ĐVHC cấp xã[15] (giảm 08/713 ĐVHC cấp huyện, 557/11.160 ĐVHC cấp xã). Từ đó, giảm đầu mối, giảm biên chế, giảm cấp trung gian, giảm thủ tục hành chính, giảm số lượng lãnh đạo, giảm chi cho bộ máy chính quyền cũng đồng nghĩa với việc tăng hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền, thuận lợi hơn cho người dân. Bên cạnh đó, nhân dân đã thể hiện quyền làm chủ của mình trong việc hình thành bộ máy CQĐP. Điều đó được thể hiện bởi sự thắng lợi của cuộc bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 với số lượng cử tri đi bầu lớn nhất từ trước đến nay là 69.243.939 cử tri/tổng số 69.523.277 cử tri (đạt 99,6%)[16].

Tuy nhiên, cho đến hiện nay, mô hình tổ chức bộ máy CQĐP dường như vẫn cơ bản giống nhau ở tất cả các ĐVHC lãnh thổ, sự khác biệt là không đáng kể. Theo quy định của Nghị định số 107/2020/NĐ-CP ngày 14/9/2020 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Nghị định số 108/2020/NĐ-CP ngày 14/9/20220 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện cũng không có sự khác biệt về số lượng, tên gọi so với trước. CQĐP cơ bản được thiết kế giống nhau trong khi ngay cả những đặc điểm cơ bản về diện tích tự nhiên, quy mô dân số theo quy định còn nhiều khác biệt.

Mặt khác, với hệ thống CQĐP được tổ chức chung theo ba cấp cho cả chính quyền đô thị, nông thôn trong khi yêu cầu, đòi hỏi của đời sống xã hội thành thị phải nhanh hơn so với nông thôn đã làm chậm trễ sự chuyển tải thông tin trong chính quyền đô thị, mất thời gian, qua nhiều tầng nấc cả chiều dọc lẫn chiều ngang. Các mô hình đặc thù mới chỉ được quyết định ở mức độ thí điểm cho Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh và cũng mới được thực hiện từ ngày 01/7/2021. Một số địa phương đã tiến hành hợp nhất một số cơ quan, đơn vị có chức năng, nhiệm vụ tương đồng như Thanh tra huyện với Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy thành Cơ quan Ủy ban Kiểm tra - Thanh tra; Ban Tổ chức Huyện ủy với Phòng Nội vụ thành Cơ quan Tổ chức - Nội vụ; Văn phòng HĐND và UBND với Văn phòng Huyện ủy… Việc hợp nhất, cơ bản mới thực hiện về mặt tổ chức nhưng chưa có cơ chế hoạt động thống nhất giữa các bộ phận được. Mặc dù giữa một số cơ quan của Đảng, Nhà nước có chức năng tương đồng nhưng bản chất và nguyên tắc hoạt động của các cơ quan Đảng và cơ quan nhà nước có sự khác nhau nên sau khi hợp nhất việc tổ chức hoạt động của các thiết chế mới có sự khó khăn, lúng túng. Vì vậy, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Tổ chức và hoạt động của CQĐP một số nơi chưa đổi mới mạnh mẽ; chức năng, nhiệm vụ, phân cấp, phân quyền chưa thật rõ ràng, hiệu lực, hiệu quả còn hạn chế”[17].

Hai là, về hoạt động

Trong những năm vừa qua, hoạt động của CQĐP đã được đổi mới khá mạnh mẽ theo hướng đáp ứng ngày càng cao những nhu cầu của người dân. Vai trò, vị thế của HĐND ngày càng được nâng lên, hoạt động giám sát, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các kết luận, kiến nghị sau giám sát được triển khai tích cực; hoạt động tiếp xúc cử tri được mở rộng, những kiến nghị của cử tri được tiếp thu, chuyển tới các cơ quan chức năng để xem xét giải quyết kịp thời; các kỳ họp được đổi mới, phát huy quyền, trách nhiệm của đại biểu HĐND. Năng lực điều hành của UBND các cấp và các cơ quan chuyên môn từng bước được nâng cao; kỷ cương, kỷ luật công vụ được thực hiện nghiêm túc. Cải cách thể chế mà cốt lõi là thủ tục hành chính cùng với nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công được coi là nhiệm vụ trọng tâm của cải cách hành chính 10 năm vừa qua. Bên cạnh đó, việc xây dựng Chính phủ điện tử, cung ứng dịch vụ công trực tuyến mức độ 03, 04 đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức trong giải quyết các thủ tục hành chính, tiết kiệm chi phí cho người dân. Năm 2020, có 66,5% doanh nghiệp cho biết “thủ tục, giấy tờ đơn giản”, năm 2016 chỉ là 49,5%. Gánh nặng chi phí không chính thức đã giảm theo thời gian, khi có 84,4% doanh nghiệp cho biết các khoản chi phí không chính thức ở mức chấp nhận được trong năm 2020, tăng đáng kể so với con số 79,2% của năm 2016[18]. Bên cạnh đó, người dân có thể thông qua mạng internet để kiểm tra, giám sát tình trạng giải quyết hồ sơ. Kết quả là, chỉ số hài lòng của người dân trên phạm vi toàn quốc ngày càng tăng và đạt mức cam kết cho năm 2020 vào năm 2017 “bảo đảm sự hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước đạt mức trên 80% vào năm 2020”[19].

Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động của CQĐP còn bộc lộ một số hạn chế, chưa đáp ứng sự hài lòng của người dân. Cho đến năm 2020, vẫn còn 7/63 địa phương có chỉ số hài lòng của người dân về sự phục vụ hành chính thấp hơn 80%, chiếm 11,11%. Vẫn còn tình trạng người dân phải đi lại nhiều lần để thực hiện dịch vụ công, có 55,71% phải đi lại 02 lần, 9,64% đi lại 03 lần, 4,41% đi lại 04 lần và 0,72% đi lại từ 05 lần trở lên, trong đó, tất cả 63 tỉnh đều để xảy ra tình trạng người dân phải đi lại 04 lần, có 49 tỉnh có tình trạng người dân phải đi lại 05 lần và nhiều hơn 05 lần. Tình trạng người dân, tổ chức bị công chức gây phiền hà, sách nhiễu xảy ra ở 57/63 tỉnh. Tỷ lệ người dân trả lời phải nộp tiền ngoài phí/lệ phí chiếm 0,59% nhưng diễn ra ở 48/63 tỉnh[20]. Tỷ lệ doanh nghiệp cho biết “Hiện tượng nhũng nhiễu khi giải quyết thủ tục cho doanh nghiệp là phổ biến” chỉ giảm nhẹ từ con số 60,8% năm 2017 xuống 54,1% năm 2020[21]. Một bộ phận cán bộ, công chức của CQĐP chưa thực hiện nghĩa vụ tôn trọng nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân (có tới 59,06% bị trễ hẹn trả kết quả dịch vụ công năm 2020 không nhận được xin lỗi của cơ quan hành chính, chỉ có 73,07% hài lòng về việc cơ quan tiếp nhận, xử ý kiến, góp ý, phản ánh, kiến nghị)[22]. “Các doanh nghiệp FDI vẫn cảm thấy họ có vai trò hạn chế trong hoạch định chính sách”[23].

3. Kiến nghị xây dựng chính quyền địa phương phục vụ nhân dân theo quan điểm Đại hội lần thứ XIII của Đảng

Một, thể chế kịp thời đường lối, quan điểm của Đảng về đổi mới tổ chức, hoạt động của CQĐP

Việc xây dựng CQĐP luôn phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Việc thể chế hóa đường lối chính sách của Đảng về đổi mới CQĐP trong thời gian tới cần tập trung vào các nội dung của các Văn kiện Đại hội XIII cùng các nghị quyết quan trọng đã được ban hành như Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị Trung ương lần thứ 6 khóa XII về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền. Trong đó, trọng tâm là phải thể chế hóa kịp thời những quan điểm của Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII.

Hai là, hoàn thiện tổ chức bộ máy CQĐP, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức

Thực trạng tổ chức bộ máy CQĐP nêu trên đang đặt ra yêu cầu cấp bách phải được tiếp tục đổi mới. Theo điều tra của Bộ Nội vụ về thứ tự ưu tiên lựa chọn các vấn đề để giải quyết trong thời gian tới cho đô thị, đổi mới tổ chức bộ máy quản lý được chọn là ưu tiên số 02, sau cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ[24]. Đây cũng là định hướng của Đảng tại Đại hội lần thứ XIII: “Tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy CQĐP phù hợp với địa bàn nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính, kinh tế đặc biệt theo luật định”[25]. CQĐP được thiết kế nhằm thực thi quyền lực nhà nước ở địa phương, quản lý nhà nước trên phạm vi lãnh thổ nhất định, với những đặc thù riêng về quy mô, tính chất địa lý, dân cư, văn hoá, xã hội… Hoạt động của CQĐP là một dạng hoạt động quản trị để giải quyết các vấn đề tại địa phương, nhằm đáp ứng được các yêu cầu của cộng đồng địa phương trong việc quản lý và điều tiết các vấn đề tại đó theo quy định của pháp luật. Vì vậy, mô hình tổ chức chính quyền ở các địa phương nhất thiết không thể là một mô hình rập khuôn dường như giống nhau mà phải được thiết kế đa dạng, linh hoạt, phù hợp với đặc điểm, tính chất của từng ĐVHC lãnh thổ. Mô hình chính quyền đô thị phải được thiết kế khác với mô hình chính quyền ở nông thôn và hải đảo hay ở ĐVHC, kinh tế đặc biệt. Bên cạnh đó, tổ chức bộ máy chính quyền phải được đổi mới theo hướng tinh gọn, hoạt động thông suốt, cắt giảm những bộ phận trung gian không cần thiết.

Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là một trong những yếu tố quan trọng quyết định hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền. Đổi mới tổ chức bộ máy CQĐP theo hướng tinh gọn mà vẫn đảm bảo hiệu lực, hiệu quả, trình độ dân trí đã được nâng cao, tính chất quản lý ngày càng phức tạp, đòi hỏi phải nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Đây cũng là một trong ba giải pháp đổi mới tổ chức, hoạt động của chính quyền đô thị được cán bộ, công chức đề xuất nhiều nhất[26]. Vì vậy, trong thời gian tới, cần tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước; dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung. Đồng thời, có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với nhân dân.

Ba là, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền bảo đảm tổ chức, hoạt động của CQĐP phù hợp với yêu cầu của thực tiễn

Trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho CQĐP là một trong những xu thế phổ biến của thế giới hiện đại[27], đồng thời cũng là xu hướng đổi mới tổ chức, hoạt động của CQĐP ở Việt Nam. Phân định thẩm quyền vừa là nhu cầu đòi hỏi mang tính khách quan trong việc quản lý một đất nước, vừa là nhu cầu phát triển của mỗi địa phương. Đảng đã đặt ra yêu cầu cần đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, xác định rõ trách nhiệm giữa Chính phủ với các bộ, ngành; giữa Chính phủ, các bộ, ngành với CQĐP; khắc phục triệt để tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn bảo đảm quản lý nhà nước thống nhất, đồng thời phát huy vai trò chủ động, sáng tạo, tinh thần trách nhiệm của từng cấp, từng ngành[28]. Phân cấp, phân quyền thực chất là trao cho CQĐP tự quyết định, tự quản lý những công việc cụ thể trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội phù hợp với pháp luật, phù hợp với đặc điểm và khả năng thực tế của địa phương, tạo điều kiện để CQĐP phát huy được những ưu thế nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời tránh được tình trạng đùn đẩy, hướng tới đáp ứng nhanh nhất nhu cầu của người dân.

Bốn là, tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh cung ứng dịch vụ công trực tuyến

Thủ tục hành chính là một vấn đề ảnh hưởng nhiều nhất đến người dân, thông qua chất lượng giải quyết thủ tục hành chính để đánh giá chất lượng phục vụ của CQĐP. Năm 2020, tỷ lệ người dân hài lòng về thủ tục hành chính chiếm 88,45%[29]. Những con số và nhận định đã nêu ở phần trên cũng cho thấy sự cần thiết phải tiếp tục cải cách thủ tục hành chính. Để giảm thiểu chi phí đến mức thấp nhất cho người dân, bảo đảm tốt nhất quyền, lợi ích của nhân dân, cần tiếp tục cải cách thủ tục hành chính theo hướng tinh gọn, đơn giản, minh bạch để người dân có thể nắm bắt, phối hợp với CQĐP trong giải quyết các thủ tục hành chính, đồng thời giám sát hoạt động của CQĐP. Cải cách thủ tục hành chính, đổi mới hình thức cung ứng dịch vụ công cần hướng tới bảo đảm “lấy nhân dân làm trung tâm”[30], dân ở đâu, chính quyền ở đó. Vì vậy, bên cạnh việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, CQĐP các cấp phải đẩy mạnh cung ứng dịch vụ công, đặc biệt là mức độ 03, 04 để người dân được phục vụ nhanh hơn, thuận tiện hơn, tiết kiệm hơn bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu và ngay lập tức. Điều này cũng đáp ứng yêu cầu của thực tiễn hiện nay với diễn biến phức tạp, khó lường của đại dịch Covid-19.

Năm là, công khai, minh bạch hoạt động của CQĐP

“Tính minh bạch là một trong bốn trụ cột - nguyên tắc chủ đạo để có hoạt động quản lý nhà nước tốt”[31]. Công khai, minh bạch vừa bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân, vừa góp phần kiểm soát quyền lực nhà nước, chống lạm quyền, lộng quyền, vi phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. Thực tế đã chứng minh sự tiếp cận thông tin càng khó khăn thì sự phụ thuộc của người dân vào CQĐP càng lớn, khả năng vi phạm pháp luật với mục đích tham nhũng càng cao. Kết quả về chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính SIPAS 2018, 2019 cho thấy, điều mà người dân, tổ chức mong đợi nhất là cơ quan hành chính nhà nước mở rộng các hình thức thông tin tiếp cận dịch vụ hành chính công (chiếm 60,89% số người được hỏi năm 2018; chiếm 62,50% năm 2019). Vì vậy, cần tăng cường tính minh bạch trong hoạt động của CQĐP. Trong đó, cần chú trọng: (i) Xây dựng và công khai, minh bạch cơ sở dữ liệu với những thông tin liên quan đến hoạt động của CQĐP, thiết lập hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý kiến nghị cải cách hành chính; công khai các sai phạm cũng như các quyết định, kết luận, kiến nghị xử lý trên hệ thống thông tin, các phương tiện thông tin đại chúng để thu hút sự quan tâm, ủng hộ của cộng đồng; (ii) Nâng cao trách nhiệm giải trình của CQĐP, đặc biệt là người đứng đầu.

Sáu là, tăng cường kiểm soát, đặc biệt là phát huy vai trò giám sát của nhân dân đối với thực thi quyền lực nhà nước của CQĐP

Kiểm soát quyền lực nhà nước là một nội dung quan trọng, đặc biệt trong điều kiện đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, CQĐP có thẩm quyền rất rộng như hiện nay. CQĐP là cấp chính quyền gần dân, mọi sự lạm quyền, tùy tiện trong thực hiện quyền lực nhà nước ở đây sẽ tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích của nhân dân, ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích chung của xã hội. Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước[32] là mục tiêu quan trọng được Văn kiện Đại hội XIII khẳng định. Hoạt động của CQĐP chỉ được coi là hợp pháp và chính đáng khi CQĐP nghiêm túc thực hiện đúng thẩm quyền do luật định vì lợi ích của nhân dân và được thừa nhận bởi nhân dân. Chỉ khi nào hoạt động của CQĐP được thực thi trong giới hạn pháp luật, vì lợi ích của nhân dân, khi đó nhân dân mới thực sự là chủ thể cao nhất của quyền lực nhà nước, nhân dân giao quyền mà không mất quyền.

Bên cạnh đó, cần tăng cường, đổi mới hình thức giám sát của nhân dân đối với thực thi quyền lực nhà nước của CQĐP. Quản trị từ dưới lên, tăng cường sự tham gia của cộng đồng sẽ bổ sung cho quản trị từ trên xuống, giảm rủi ro quan liêu, tham nhũng, nâng cao hiệu quả quản lý. Bảo đảm sự giám sát của nhân dân đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước của CQĐP là bảo đảm sự đồng thuận và mức độ hài lòng của người dân đối với hoạt động của CQĐP. Tăng cường các hình thức giám sát của nhân dân giúp Nhà nước giảm thiểu chi phí kiểm soát, người dân sẽ nhấn chuông báo động khi họ bắt gặp hành vi vi phạm pháp luật của CQĐP. Điều này phù hợp với quan điểm của Đảng về “phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ cương”[33] và đã được chứng minh hiệu quả trong bối cảnh đại dịch Covid-19 hai năm qua.

TS. Vũ Ngọc Hà
Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị khu vực I


[1] Xem: Điều 111 Hiến pháp năm 2013.

[2] Xem: Điều 113, 114 Hiến pháp năm 2013.

[3] Xem: Điều 5 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.

[4] Ngân hàng Thế giới (1998), Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 136.

[5] Xem: PGS.TS. Vũ Thanh Sơn, TS. Lê Thanh Tâm (2016), Một số ý kiến về "Nhà nước phục vụ" ở Việt Nam hiện nay, https://tcnn.vn/, ngày truy cập ngày 04/8/2021.

[6] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 100.

[7] Điều 2 Hiến pháp năm 2013.

[8] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), tlđd, tr. 27.

[9] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), tlđd, tr. 178.

[10] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), tlđd, tr. 175.

[11] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 99.

[12] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), tlđd, tr. 182.

[13] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), tlđd, tr. 192.

[14] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), tlđd, tr. 27 - 28.

[15] Xem: Bộ Nội vụ (2021), Lĩnh vực chính quyền địa phương, địa giới hành chính, https://www.moha.gov.vn/danh-muc/linh-vuc-chinh-quyen-dia-phuong-dia-gioi-hanh-chinh-26074.html, ngày truy cập ngày 01/8/2021.

[16] Xem: Bích Lan & Bùi Hùng (2021), Công tác bầu cử Đại biểu Quốc hội khoá XV và Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 thành công tốt đẹp, https://quochoi.vn/, ngày truy cập ngày 01/8/2021.

[17] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), tlđd, tr. 90.

[18] Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (2021), Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2020, tr. 62, tr. 67.

[19] Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước, giai đoạn 2011 - 2020.

[20] Xem: Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ (2021), Báo cáo tóm tắt kết quả triển khai đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2020, tr. 5,6,7.

[21] Xem: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (2021), tlđd, tr. 63.

[22] Xem: Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ (2021), tlđd, tr. 10.

[23] Xem: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, tlđd, tr. 106.

[24] Xem: Bộ Nội vụ (2018), Báo cáo kết quả điều tra cấp Bộ về chính quyền đô thị.

[25] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), tlđd, tr. 178.

[26] Xem: Bộ Nội vụ (2018), tlđd.

[27] Xem: Mai Văn Thắng (2016), Về tự quản địa phương tại Liên Bang Nga, Tạp chí Luật học, tập 32, số 2, tr. 68.

[28] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), tlđd, tr. 177.

[29] Xem: Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ (2021), tlđd, tr. 9 - 10.

[30] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), tlđd, tr. 99.

[31] Xem: S. Chiavo - Campo và P.S.A. Sundaram (2003), Phục vụ và duy trì: Cải thiện hành chính công trong một thế giới cạnh tranh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 638.

[32] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), tlđd, tr. 118.

[33] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), tlđd, tr. 28.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: