Thứ ba 22/09/2026 16:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xây dựng chính quyền địa phương phục vụ nhân dân theo quan điểm Đại hội lần thứ XIII của Đảng

Xây dựng chính quyền địa phương vững mạnh luôn là nhiệm vụ xuyên suốt trong các giai đoạn của cách mạng Việt Nam từ khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1945) đến nay, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ để giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước và trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

1. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội lần thứ XIII về xây dựng chính quyền địa phương phục vụ nhân dân

Để thực hiện quyền lực nhân dân, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phân chia lãnh thổ của mình thành các đơn vị hành chính (ĐVHC) - lãnh thổ, thiết lập quyền lực và quản lý mọi mặt đời sống xã hội trên các ĐVHC lãnh thổ đó. Việc phân chia ấy đòi hỏi trên các ĐVHC lãnh thổ phải thiết lập các cơ quan nhà nước có chức năng thực hiện quyền lực nhà nước vì lợi ích của cả cộng đồng dân tộc và lợi ích của cư dân thuộc ĐVHC lãnh thổ - thường được gọi là chính quyền địa phương (CQĐP). Mỗi quốc gia, dân tộc, tùy thuộc các điều kiện kinh tế, chính trị, pháp lý, xã hội cụ thể, tự lựa chọn cách thức tổ chức riêng của mình.

Ở Việt Nam, CQĐP được tổ chức ở các ĐVHC. Cấp CQĐP gồm có Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, ĐVHC, kinh tế đặc biệt do luật định[1]. Trong đó, HĐND gồm các đại biểu HĐND do cử tri ở địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. UBND do HĐND cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương, HĐND cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên[2]. CQĐP ở Việt Nam là một bộ phận hợp thành của bộ máy nhà nước, được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phục vụ nhân dân[3]. Theo đó, mọi vấn đề về tổ chức và hoạt động của CQĐP đều hướng đến việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người dân, giúp đỡ người dân thể hiện và thỏa mãn lợi ích chính đáng, hợp pháp chứ không phải tìm cách kiểm soát hay chỉ đạo theo hướng chủ quan của chính quyền.

Việc xây dựng một CQĐP phục vụ nhân dân là điều cần thiết trong một Nhà nước pháp quyền hiện đại, bởi lẽ, một Nhà nước không biết đến những nhu cầu của một bộ phận lớn dân chúng trong việc thiết lập và thực thi chính sách không phải là một Nhà nước có năng lực[4]. Điều này phản ánh đúng thực tế phục vụ là sứ mệnh hiển nhiên của Nhà nước nói chung và CQĐP nói riêng. Sự phục vụ ấy hướng đến việc thỏa mãn nhu cầu chính đáng của người dân. CQĐP phải thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình vì nhân dân. Để làm được điều đó, khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, mọi chính sách, pháp luật, chủ trương của CQĐP phải lấy người dân tại địa bàn của mình làm trung tâm để xem xét, cân nhắc trước khi ban hành. Thông qua đó, CQĐP tạo ra được một môi trường cởi mở, năng động, đồng thời tạo lập đầy đủ khuôn khổ để người dân tự do sáng tạo thỏa mãn nhu cầu, làm những gì pháp luật không cấm[5].

Xây dựng CQĐP phục vụ nhân dân luôn là một trong những mục tiêu lớn mà Đảng hướng đến trong quá trình lãnh đạo đất nước. Mục tiêu này được thực hiện trên cơ sở quan điểm nhất quán: Mọi chính sách của Đảng và Nhà nước đều phải hướng vào nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của nhân dân; thể hiện rõ bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân[6]; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân[7]. Trong văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định về việc xây dựng CQĐP phục vụ nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng[8]. Cần phải tiếp tục hoàn thiện tổ chức CQĐP phù hợp địa bàn nông thôn, đô thị, hải đảo, ĐVHC, kinh tế đặc biệt theo luật định; thực hiện và tổng kết việc thí điểm chính quyền đô thị nhằm xây dựng và vận hành các mô hình quản trị chính quyền đô thị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả[9]. Trong đó, Đảng đặt ra định hướng cải cách cách, phân cấp, phân quyền, tăng cường sự tự chủ của CQĐP[10]. Khi đó, yêu cầu CQĐP phải có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân, hướng đến việc tập trung thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản, giải quyết các vấn đề xã hội, thực thi pháp luật, cải thiện môi trường kinh doanh và bảo đảm an ninh, trật tự trên địa bàn[11] vì lợi ích của nhân dân. Để thực hiện được mục tiêu này, Đảng cũng chú trọng tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân[12].

Từ đó, có thể chỉ ra yêu cầu đối với CQĐP phục vụ nhân dân là: Mọi hoạt động của CQĐP phải dựa trên cơ sở pháp luật, nhằm hướng tới thỏa mãn các nhu cầu chính đáng của người dân; bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng hoạt động của chính quyền[13]; mọi hành vi vi phạm pháp luật, tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, không có ngoại lệ. Trong mọi công việc của Đảng, Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu[14].

2. Thực trạng tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương theo nguyên tắc phục vụ nhân dân

Một là, về tổ chức bộ máy

Triển khai thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017, Hội nghị lần thứ VI Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, CQĐP đã thường xuyên được đổi mới theo hướng tinh gọn, bước đầu có sự phân biệt giữa tổ chức bộ máy chính quyền nông thôn, đô thị và hải đảo. Tính đến ngày 31/12/2020, cả nước có 63 ĐVHC cấp tỉnh, 705 ĐVHC cấp huyện, 10.603 ĐVHC cấp xã[15] (giảm 08/713 ĐVHC cấp huyện, 557/11.160 ĐVHC cấp xã). Từ đó, giảm đầu mối, giảm biên chế, giảm cấp trung gian, giảm thủ tục hành chính, giảm số lượng lãnh đạo, giảm chi cho bộ máy chính quyền cũng đồng nghĩa với việc tăng hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền, thuận lợi hơn cho người dân. Bên cạnh đó, nhân dân đã thể hiện quyền làm chủ của mình trong việc hình thành bộ máy CQĐP. Điều đó được thể hiện bởi sự thắng lợi của cuộc bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 với số lượng cử tri đi bầu lớn nhất từ trước đến nay là 69.243.939 cử tri/tổng số 69.523.277 cử tri (đạt 99,6%)[16].

Tuy nhiên, cho đến hiện nay, mô hình tổ chức bộ máy CQĐP dường như vẫn cơ bản giống nhau ở tất cả các ĐVHC lãnh thổ, sự khác biệt là không đáng kể. Theo quy định của Nghị định số 107/2020/NĐ-CP ngày 14/9/2020 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Nghị định số 108/2020/NĐ-CP ngày 14/9/20220 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện cũng không có sự khác biệt về số lượng, tên gọi so với trước. CQĐP cơ bản được thiết kế giống nhau trong khi ngay cả những đặc điểm cơ bản về diện tích tự nhiên, quy mô dân số theo quy định còn nhiều khác biệt.

Mặt khác, với hệ thống CQĐP được tổ chức chung theo ba cấp cho cả chính quyền đô thị, nông thôn trong khi yêu cầu, đòi hỏi của đời sống xã hội thành thị phải nhanh hơn so với nông thôn đã làm chậm trễ sự chuyển tải thông tin trong chính quyền đô thị, mất thời gian, qua nhiều tầng nấc cả chiều dọc lẫn chiều ngang. Các mô hình đặc thù mới chỉ được quyết định ở mức độ thí điểm cho Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh và cũng mới được thực hiện từ ngày 01/7/2021. Một số địa phương đã tiến hành hợp nhất một số cơ quan, đơn vị có chức năng, nhiệm vụ tương đồng như Thanh tra huyện với Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy thành Cơ quan Ủy ban Kiểm tra - Thanh tra; Ban Tổ chức Huyện ủy với Phòng Nội vụ thành Cơ quan Tổ chức - Nội vụ; Văn phòng HĐND và UBND với Văn phòng Huyện ủy… Việc hợp nhất, cơ bản mới thực hiện về mặt tổ chức nhưng chưa có cơ chế hoạt động thống nhất giữa các bộ phận được. Mặc dù giữa một số cơ quan của Đảng, Nhà nước có chức năng tương đồng nhưng bản chất và nguyên tắc hoạt động của các cơ quan Đảng và cơ quan nhà nước có sự khác nhau nên sau khi hợp nhất việc tổ chức hoạt động của các thiết chế mới có sự khó khăn, lúng túng. Vì vậy, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Tổ chức và hoạt động của CQĐP một số nơi chưa đổi mới mạnh mẽ; chức năng, nhiệm vụ, phân cấp, phân quyền chưa thật rõ ràng, hiệu lực, hiệu quả còn hạn chế”[17].

Hai là, về hoạt động

Trong những năm vừa qua, hoạt động của CQĐP đã được đổi mới khá mạnh mẽ theo hướng đáp ứng ngày càng cao những nhu cầu của người dân. Vai trò, vị thế của HĐND ngày càng được nâng lên, hoạt động giám sát, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các kết luận, kiến nghị sau giám sát được triển khai tích cực; hoạt động tiếp xúc cử tri được mở rộng, những kiến nghị của cử tri được tiếp thu, chuyển tới các cơ quan chức năng để xem xét giải quyết kịp thời; các kỳ họp được đổi mới, phát huy quyền, trách nhiệm của đại biểu HĐND. Năng lực điều hành của UBND các cấp và các cơ quan chuyên môn từng bước được nâng cao; kỷ cương, kỷ luật công vụ được thực hiện nghiêm túc. Cải cách thể chế mà cốt lõi là thủ tục hành chính cùng với nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công được coi là nhiệm vụ trọng tâm của cải cách hành chính 10 năm vừa qua. Bên cạnh đó, việc xây dựng Chính phủ điện tử, cung ứng dịch vụ công trực tuyến mức độ 03, 04 đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức trong giải quyết các thủ tục hành chính, tiết kiệm chi phí cho người dân. Năm 2020, có 66,5% doanh nghiệp cho biết “thủ tục, giấy tờ đơn giản”, năm 2016 chỉ là 49,5%. Gánh nặng chi phí không chính thức đã giảm theo thời gian, khi có 84,4% doanh nghiệp cho biết các khoản chi phí không chính thức ở mức chấp nhận được trong năm 2020, tăng đáng kể so với con số 79,2% của năm 2016[18]. Bên cạnh đó, người dân có thể thông qua mạng internet để kiểm tra, giám sát tình trạng giải quyết hồ sơ. Kết quả là, chỉ số hài lòng của người dân trên phạm vi toàn quốc ngày càng tăng và đạt mức cam kết cho năm 2020 vào năm 2017 “bảo đảm sự hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước đạt mức trên 80% vào năm 2020”[19].

Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động của CQĐP còn bộc lộ một số hạn chế, chưa đáp ứng sự hài lòng của người dân. Cho đến năm 2020, vẫn còn 7/63 địa phương có chỉ số hài lòng của người dân về sự phục vụ hành chính thấp hơn 80%, chiếm 11,11%. Vẫn còn tình trạng người dân phải đi lại nhiều lần để thực hiện dịch vụ công, có 55,71% phải đi lại 02 lần, 9,64% đi lại 03 lần, 4,41% đi lại 04 lần và 0,72% đi lại từ 05 lần trở lên, trong đó, tất cả 63 tỉnh đều để xảy ra tình trạng người dân phải đi lại 04 lần, có 49 tỉnh có tình trạng người dân phải đi lại 05 lần và nhiều hơn 05 lần. Tình trạng người dân, tổ chức bị công chức gây phiền hà, sách nhiễu xảy ra ở 57/63 tỉnh. Tỷ lệ người dân trả lời phải nộp tiền ngoài phí/lệ phí chiếm 0,59% nhưng diễn ra ở 48/63 tỉnh[20]. Tỷ lệ doanh nghiệp cho biết “Hiện tượng nhũng nhiễu khi giải quyết thủ tục cho doanh nghiệp là phổ biến” chỉ giảm nhẹ từ con số 60,8% năm 2017 xuống 54,1% năm 2020[21]. Một bộ phận cán bộ, công chức của CQĐP chưa thực hiện nghĩa vụ tôn trọng nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân (có tới 59,06% bị trễ hẹn trả kết quả dịch vụ công năm 2020 không nhận được xin lỗi của cơ quan hành chính, chỉ có 73,07% hài lòng về việc cơ quan tiếp nhận, xử ý kiến, góp ý, phản ánh, kiến nghị)[22]. “Các doanh nghiệp FDI vẫn cảm thấy họ có vai trò hạn chế trong hoạch định chính sách”[23].

3. Kiến nghị xây dựng chính quyền địa phương phục vụ nhân dân theo quan điểm Đại hội lần thứ XIII của Đảng

Một, thể chế kịp thời đường lối, quan điểm của Đảng về đổi mới tổ chức, hoạt động của CQĐP

Việc xây dựng CQĐP luôn phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Việc thể chế hóa đường lối chính sách của Đảng về đổi mới CQĐP trong thời gian tới cần tập trung vào các nội dung của các Văn kiện Đại hội XIII cùng các nghị quyết quan trọng đã được ban hành như Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị Trung ương lần thứ 6 khóa XII về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền. Trong đó, trọng tâm là phải thể chế hóa kịp thời những quan điểm của Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII.

Hai là, hoàn thiện tổ chức bộ máy CQĐP, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức

Thực trạng tổ chức bộ máy CQĐP nêu trên đang đặt ra yêu cầu cấp bách phải được tiếp tục đổi mới. Theo điều tra của Bộ Nội vụ về thứ tự ưu tiên lựa chọn các vấn đề để giải quyết trong thời gian tới cho đô thị, đổi mới tổ chức bộ máy quản lý được chọn là ưu tiên số 02, sau cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ[24]. Đây cũng là định hướng của Đảng tại Đại hội lần thứ XIII: “Tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy CQĐP phù hợp với địa bàn nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính, kinh tế đặc biệt theo luật định”[25]. CQĐP được thiết kế nhằm thực thi quyền lực nhà nước ở địa phương, quản lý nhà nước trên phạm vi lãnh thổ nhất định, với những đặc thù riêng về quy mô, tính chất địa lý, dân cư, văn hoá, xã hội… Hoạt động của CQĐP là một dạng hoạt động quản trị để giải quyết các vấn đề tại địa phương, nhằm đáp ứng được các yêu cầu của cộng đồng địa phương trong việc quản lý và điều tiết các vấn đề tại đó theo quy định của pháp luật. Vì vậy, mô hình tổ chức chính quyền ở các địa phương nhất thiết không thể là một mô hình rập khuôn dường như giống nhau mà phải được thiết kế đa dạng, linh hoạt, phù hợp với đặc điểm, tính chất của từng ĐVHC lãnh thổ. Mô hình chính quyền đô thị phải được thiết kế khác với mô hình chính quyền ở nông thôn và hải đảo hay ở ĐVHC, kinh tế đặc biệt. Bên cạnh đó, tổ chức bộ máy chính quyền phải được đổi mới theo hướng tinh gọn, hoạt động thông suốt, cắt giảm những bộ phận trung gian không cần thiết.

Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là một trong những yếu tố quan trọng quyết định hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền. Đổi mới tổ chức bộ máy CQĐP theo hướng tinh gọn mà vẫn đảm bảo hiệu lực, hiệu quả, trình độ dân trí đã được nâng cao, tính chất quản lý ngày càng phức tạp, đòi hỏi phải nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Đây cũng là một trong ba giải pháp đổi mới tổ chức, hoạt động của chính quyền đô thị được cán bộ, công chức đề xuất nhiều nhất[26]. Vì vậy, trong thời gian tới, cần tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước; dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung. Đồng thời, có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với nhân dân.

Ba là, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền bảo đảm tổ chức, hoạt động của CQĐP phù hợp với yêu cầu của thực tiễn

Trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho CQĐP là một trong những xu thế phổ biến của thế giới hiện đại[27], đồng thời cũng là xu hướng đổi mới tổ chức, hoạt động của CQĐP ở Việt Nam. Phân định thẩm quyền vừa là nhu cầu đòi hỏi mang tính khách quan trong việc quản lý một đất nước, vừa là nhu cầu phát triển của mỗi địa phương. Đảng đã đặt ra yêu cầu cần đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, xác định rõ trách nhiệm giữa Chính phủ với các bộ, ngành; giữa Chính phủ, các bộ, ngành với CQĐP; khắc phục triệt để tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn bảo đảm quản lý nhà nước thống nhất, đồng thời phát huy vai trò chủ động, sáng tạo, tinh thần trách nhiệm của từng cấp, từng ngành[28]. Phân cấp, phân quyền thực chất là trao cho CQĐP tự quyết định, tự quản lý những công việc cụ thể trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội phù hợp với pháp luật, phù hợp với đặc điểm và khả năng thực tế của địa phương, tạo điều kiện để CQĐP phát huy được những ưu thế nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời tránh được tình trạng đùn đẩy, hướng tới đáp ứng nhanh nhất nhu cầu của người dân.

Bốn là, tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh cung ứng dịch vụ công trực tuyến

Thủ tục hành chính là một vấn đề ảnh hưởng nhiều nhất đến người dân, thông qua chất lượng giải quyết thủ tục hành chính để đánh giá chất lượng phục vụ của CQĐP. Năm 2020, tỷ lệ người dân hài lòng về thủ tục hành chính chiếm 88,45%[29]. Những con số và nhận định đã nêu ở phần trên cũng cho thấy sự cần thiết phải tiếp tục cải cách thủ tục hành chính. Để giảm thiểu chi phí đến mức thấp nhất cho người dân, bảo đảm tốt nhất quyền, lợi ích của nhân dân, cần tiếp tục cải cách thủ tục hành chính theo hướng tinh gọn, đơn giản, minh bạch để người dân có thể nắm bắt, phối hợp với CQĐP trong giải quyết các thủ tục hành chính, đồng thời giám sát hoạt động của CQĐP. Cải cách thủ tục hành chính, đổi mới hình thức cung ứng dịch vụ công cần hướng tới bảo đảm “lấy nhân dân làm trung tâm”[30], dân ở đâu, chính quyền ở đó. Vì vậy, bên cạnh việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, CQĐP các cấp phải đẩy mạnh cung ứng dịch vụ công, đặc biệt là mức độ 03, 04 để người dân được phục vụ nhanh hơn, thuận tiện hơn, tiết kiệm hơn bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu và ngay lập tức. Điều này cũng đáp ứng yêu cầu của thực tiễn hiện nay với diễn biến phức tạp, khó lường của đại dịch Covid-19.

Năm là, công khai, minh bạch hoạt động của CQĐP

“Tính minh bạch là một trong bốn trụ cột - nguyên tắc chủ đạo để có hoạt động quản lý nhà nước tốt”[31]. Công khai, minh bạch vừa bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân, vừa góp phần kiểm soát quyền lực nhà nước, chống lạm quyền, lộng quyền, vi phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. Thực tế đã chứng minh sự tiếp cận thông tin càng khó khăn thì sự phụ thuộc của người dân vào CQĐP càng lớn, khả năng vi phạm pháp luật với mục đích tham nhũng càng cao. Kết quả về chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính SIPAS 2018, 2019 cho thấy, điều mà người dân, tổ chức mong đợi nhất là cơ quan hành chính nhà nước mở rộng các hình thức thông tin tiếp cận dịch vụ hành chính công (chiếm 60,89% số người được hỏi năm 2018; chiếm 62,50% năm 2019). Vì vậy, cần tăng cường tính minh bạch trong hoạt động của CQĐP. Trong đó, cần chú trọng: (i) Xây dựng và công khai, minh bạch cơ sở dữ liệu với những thông tin liên quan đến hoạt động của CQĐP, thiết lập hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý kiến nghị cải cách hành chính; công khai các sai phạm cũng như các quyết định, kết luận, kiến nghị xử lý trên hệ thống thông tin, các phương tiện thông tin đại chúng để thu hút sự quan tâm, ủng hộ của cộng đồng; (ii) Nâng cao trách nhiệm giải trình của CQĐP, đặc biệt là người đứng đầu.

Sáu là, tăng cường kiểm soát, đặc biệt là phát huy vai trò giám sát của nhân dân đối với thực thi quyền lực nhà nước của CQĐP

Kiểm soát quyền lực nhà nước là một nội dung quan trọng, đặc biệt trong điều kiện đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, CQĐP có thẩm quyền rất rộng như hiện nay. CQĐP là cấp chính quyền gần dân, mọi sự lạm quyền, tùy tiện trong thực hiện quyền lực nhà nước ở đây sẽ tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích của nhân dân, ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích chung của xã hội. Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước[32] là mục tiêu quan trọng được Văn kiện Đại hội XIII khẳng định. Hoạt động của CQĐP chỉ được coi là hợp pháp và chính đáng khi CQĐP nghiêm túc thực hiện đúng thẩm quyền do luật định vì lợi ích của nhân dân và được thừa nhận bởi nhân dân. Chỉ khi nào hoạt động của CQĐP được thực thi trong giới hạn pháp luật, vì lợi ích của nhân dân, khi đó nhân dân mới thực sự là chủ thể cao nhất của quyền lực nhà nước, nhân dân giao quyền mà không mất quyền.

Bên cạnh đó, cần tăng cường, đổi mới hình thức giám sát của nhân dân đối với thực thi quyền lực nhà nước của CQĐP. Quản trị từ dưới lên, tăng cường sự tham gia của cộng đồng sẽ bổ sung cho quản trị từ trên xuống, giảm rủi ro quan liêu, tham nhũng, nâng cao hiệu quả quản lý. Bảo đảm sự giám sát của nhân dân đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước của CQĐP là bảo đảm sự đồng thuận và mức độ hài lòng của người dân đối với hoạt động của CQĐP. Tăng cường các hình thức giám sát của nhân dân giúp Nhà nước giảm thiểu chi phí kiểm soát, người dân sẽ nhấn chuông báo động khi họ bắt gặp hành vi vi phạm pháp luật của CQĐP. Điều này phù hợp với quan điểm của Đảng về “phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ cương”[33] và đã được chứng minh hiệu quả trong bối cảnh đại dịch Covid-19 hai năm qua.

TS. Vũ Ngọc Hà
Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị khu vực I


[1] Xem: Điều 111 Hiến pháp năm 2013.

[2] Xem: Điều 113, 114 Hiến pháp năm 2013.

[3] Xem: Điều 5 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.

[4] Ngân hàng Thế giới (1998), Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 136.

[5] Xem: PGS.TS. Vũ Thanh Sơn, TS. Lê Thanh Tâm (2016), Một số ý kiến về "Nhà nước phục vụ" ở Việt Nam hiện nay, https://tcnn.vn/, ngày truy cập ngày 04/8/2021.

[6] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 100.

[7] Điều 2 Hiến pháp năm 2013.

[8] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), tlđd, tr. 27.

[9] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), tlđd, tr. 178.

[10] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), tlđd, tr. 175.

[11] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 99.

[12] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), tlđd, tr. 182.

[13] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), tlđd, tr. 192.

[14] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), tlđd, tr. 27 - 28.

[15] Xem: Bộ Nội vụ (2021), Lĩnh vực chính quyền địa phương, địa giới hành chính, https://www.moha.gov.vn/danh-muc/linh-vuc-chinh-quyen-dia-phuong-dia-gioi-hanh-chinh-26074.html, ngày truy cập ngày 01/8/2021.

[16] Xem: Bích Lan & Bùi Hùng (2021), Công tác bầu cử Đại biểu Quốc hội khoá XV và Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 thành công tốt đẹp, https://quochoi.vn/, ngày truy cập ngày 01/8/2021.

[17] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), tlđd, tr. 90.

[18] Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (2021), Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2020, tr. 62, tr. 67.

[19] Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước, giai đoạn 2011 - 2020.

[20] Xem: Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ (2021), Báo cáo tóm tắt kết quả triển khai đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2020, tr. 5,6,7.

[21] Xem: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (2021), tlđd, tr. 63.

[22] Xem: Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ (2021), tlđd, tr. 10.

[23] Xem: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, tlđd, tr. 106.

[24] Xem: Bộ Nội vụ (2018), Báo cáo kết quả điều tra cấp Bộ về chính quyền đô thị.

[25] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), tlđd, tr. 178.

[26] Xem: Bộ Nội vụ (2018), tlđd.

[27] Xem: Mai Văn Thắng (2016), Về tự quản địa phương tại Liên Bang Nga, Tạp chí Luật học, tập 32, số 2, tr. 68.

[28] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), tlđd, tr. 177.

[29] Xem: Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ (2021), tlđd, tr. 9 - 10.

[30] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), tlđd, tr. 99.

[31] Xem: S. Chiavo - Campo và P.S.A. Sundaram (2003), Phục vụ và duy trì: Cải thiện hành chính công trong một thế giới cạnh tranh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 638.

[32] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), tlđd, tr. 118.

[33] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), tlđd, tr. 28.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: