Thứ năm 15/10/2026 22:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xây dựng, hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao năng lực kiến tạo phát triển của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy vai trò kiến tạo phát triển đặt ra yêu cầu cho Việt Nam giai đoạn hiện nay và thời gian tới cần nỗ lực hoàn thiện nhiều yếu tố, trong đó có việc hoàn thiện pháp luật.

Tóm tắt: Mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy vai trò kiến tạo phát triển đặt ra yêu cầu cho Việt Nam giai đoạn hiện nay và thời gian tới cần nỗ lực hoàn thiện nhiều yếu tố, trong đó có việc hoàn thiện pháp luật. Bài viết nêu các căn cứ để khẳng định xây dựng, hoàn thiện pháp luật là yếu tố quan trọng nhằm nâng cao năng lực kiến tạo phát triển của Nhà nước, đồng thời chỉ ra một số kết quả, hạn chế trong công tác này, từ đó, đề xuất một số giải pháp tiếp tục xây dựng, hoàn thiện pháp luật, nâng cao năng lực kiến tạo phát triển của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Abstract: The goal of building a socialist rule-of-law state, promoting its role as a builder of development, sets requirements for Vietnam in the current period and in the future, which requires efforts to improve many factors, including the law improvement. The article outlines the grounds to affirm that the development and improvement of the law is an important factor in improving the state’s capacity for development creation, and at the same time points out some results and limitations in this work, from there, proposes a number of solutions to continue building and completing the law, improving the capacity for development creation of the Socialist Rule of Law State of Vietnam.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra nhiệm vụ rất quan trọng là: “Nghiên cứu, ban hành Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045, trong đó có Chiến lược pháp luật và cải cách tư pháp”[1]. Đây là lần đầu tiên Đảng ta đề ra nhiệm vụ này, thể hiện quan điểm về lộ trình xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời gian tới. Đồng thời, Đại hội cũng chỉ rõ: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý, điều hành và năng lực kiến tạo phát triển”[2]. Có thể thấy, yếu tố “kiến tạo phát triển” được xác định là một năng lực cần có, cần phải tiếp tục được nâng cao hơn nữa trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.


1. Xây dựng, hoàn thiện pháp luật là yếu tố quan trọng nhằm nâng cao năng lực kiến tạo phát triển của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam


Năng lực kiến tạo phát triển của nhà nước gắn với quan niệm về vai trò của nhà nước trong một mô hình quản trị hiện đại - nhà nước kiến tạo phát triển - được đề cập từ đầu những năm 1980. Thuật ngữ nhà nước kiến tạo phát triển được nêu trong cuốn “MITI[3] and the Japanese Miracle: The Growth of Industrial Policy 1925 - 1975” (MITI và sự thần kỳ Nhật Bản: Chính sách tăng trưởng công nghiệp giai đoạn 1925 – 1975[4] của tác giả Chalmers Johnson, xuất bản năm 1982[5]). Chalmers Johnson nhận định nhà nước kiến tạo phát triển[6] là nhà nước: (i) Có một Chính phủ mạnh, có các quy tắc quản trị ổn định và vững chắc do giới tinh hoa chính trị - quan liêu lập nên để tạo vị thế tự chủ cho nhà nước trước sức ép chính trị từ xã hội; nhà nước nắm rõ, vận dụng tốt và kiên quyết các quy luật của kinh tế thị trường; (ii) Khu vực công và khu vực tư hợp tác chặt chẽ, có sự bảo đảm và giám sát của một cơ quan nhà nước chuyên trách; (iii) Nhà nước bảo đảm công bằng xã hội bằng hệ thống chính sách và thông qua việc đầu tư mạnh vào giáo dục. Còn Tổ chức Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) đồng thuận và đề cập đến các đặc điểm chủ yếu sau của nhà nước kiến tạo phát triển trong Báo cáo năm 2012[7]: Một là, tư tưởng kiến tạo phát triển; hai là, các quy định về mặt thể chế đặt ra các tiêu chuẩn và quy tắc có thể hỗ trợ quá trình phát triển. Có thể thấy, từ quan niệm của Chalmers Johnson đến quan niệm của UNDP, yếu tố thể chế hỗ trợ quá trình phát triển, quy tắc quản trị ổn định vững chắc, hệ thống chính sách bảo đảm công bằng xã hội… là yếu tố được đặc biệt nhấn mạnh khi một nhà nước được đánh giá là nhà nước kiến tạo phát triển.


Ở Việt Nam, khái niệm “Nhà nước kiến tạo phát triển” hoặc “Chính phủ kiến tạo phát triển” được sử dụng khá phổ biến trong mấy năm gần đây trên các diễn đàn và trong các hoạt động của Nhà nước[8]. Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 09/5/2016 của Chính phủ tại phiên họp thường kỳ tháng 4 năm 2016 nêu nhiệm vụ: “Xây dựng Chính phủ trong sạch, liêm chính, Chính phủ kiến tạo, phát triển. Khẳng định Chính phủ là công bộc của dân, gắn bó với Nhân dân, phục vụ Nhân dân. Phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân gắn liền với tăng cường kỷ luật, kỷ cương và chấp hành pháp luật. Tập trung rà soát, cải cách, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách; bảo đảm công bằng, minh bạch, phòng, chống tham nhũng, lãng phí…”[9]. Tiếp sau đó, tại phiên chất vấn và trả lời chất vấn của Quốc hội ngày 18/11/2017, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc (nhiệm kỳ 2016 - 2021) nhấn mạnh: “Chính phủ kiến tạo chủ động thiết kế chính sách và pháp luật để đất nước ta phát triển, không để rơi vào thế bị động… Chính phủ kiến tạo là Chính phủ hành động nói đi đôi với làm, đề cao trách nhiệm cá nhân, kỷ luật, kỷ cương và đặc biệt phải thay ngay những cán bộ không đáp ứng được yêu cầu”. So sánh giữa Chính phủ kiến tạo và Chính phủ quản lý, Thủ tướng cho rằng: Chính phủ kiến tạo chủ động hơn về thể chế, chính sách pháp luật, tạo môi trường thuận lợi hơn cho đầu tư phát triển. Chính phủ điều hành là có pháp luật rồi, chỉ điều hành trên khung khổ pháp luật đó[10]. Gần đây, ngày 16/9/2021, tại Kết luận Hội nghị của Chính phủ về công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, xây dựng và hoàn thiện thể chế để bảo đảm thực sự là “đòn bẩy” kiến tạo phát triển[11].


Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năng lực kiến tạo phát triển của nhà nước được hình thành, củng cố từ nhiều yếu tố như tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; đội ngũ cán bộ, công chức chất lượng; hệ thống thể chế, pháp luật hoàn thiện… Trong đó, sự hiện diện của một hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu kiến tạo phát triển là không thể thiếu. Như vậy, để phát huy vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, ngoài những yếu tố quan trọng khác, cần có một hệ thống pháp luật đáp ứng tốt yêu cầu, một hệ thống pháp luật kiến tạo phát triển.


2. Thực trạng và một số giải pháp tiếp tục xây dựng, hoàn thiện pháp luật nâng cao năng lực kiến tạo phát triển của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2.1. Một số kết quả và bất cập của hệ thống pháp luật ở Việt Nam hiện nay


Kể từ năm 2005 đến nay, với sự nỗ lực của Quốc hội, Chính phủ và các cấp, các ngành trong việc thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, hệ thống pháp luật trở nên hoàn thiện hơn xét cả về nội dung và hình thức; từng bước được bổ sung đầy đủ về số lượng và nâng cao chất lượng. Chỉ tính riêng luật và pháp lệnh giai đoạn 2005 - 2007, Quốc hội ban hành 63 văn bản; tại khóa XII - nhiệm kỳ 2007 - 2011, Quốc hội ban hành 82 luật, pháp lệnh; tại khóa XIII - nhiệm kỳ 2011- 2016, tính hết kỳ họp thứ 10 vào tháng 11/2015, Quốc hội ban hành 110 luật, pháp lệnh[12]; tại khóa XIV, tính đến đầu kỳ họp thứ 11, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành 72 luật, 02 pháp lệnh[13].


Đối với các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, từ năm 2012 đến ngày 31/5/2020, trung bình mỗi năm, các bộ trình Chính phủ ban hành khoảng 140 nghị định, đồng thời, các bộ ban hành hơn 8.600 văn bản quy phạm pháp luật[14]. Chính phủ tập trung sửa đổi những mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập hoặc những quy định thiếu thực tiễn, kìm hãm sự phát triển. Từ đó, góp phần khơi thông các nguồn lực, tạo thuận lợi thúc đẩy hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh và phát triển các ngành, lĩnh vực[15].


Mức độ ngày càng hoàn thiện của hệ thống pháp luật đã góp phần tác động tích cực đến sự phát triển mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, đáp ứng tốt hơn những yêu cầu đặt ra trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền; từ đó, tạo cơ chế pháp lý vững chắc bảo đảm và thực thi quyền con người; quyền làm chủ của Nhân dân; cải thiện môi trường pháp lý trong kinh doanh, bảo đảm cho các yếu tố của nền kinh tế thị trường phát triển đồng bộ… Vai trò của pháp luật và thực thi pháp luật ngày càng được chú trọng trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước cũng như trong các lĩnh vực của đời sống xã hội[16].


Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình xây dựng và thực hiện thể chế, pháp luật vẫn bộc lộ những bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội trong bối cảnh mới. Điều này thể hiện trên các khía cạnh: (i) Công tác xây dựng pháp luật còn một số hạn chế dẫn đến tình trạng hệ thống pháp luật thiếu sự đồng bộ, chưa toàn diện; một số văn bản, quy định chưa phù hợp với thực tiễn hoặc không phản ánh được ý chí, nguyện vọng của Nhân dân nên thiếu tính khả thi; (ii) Các văn bản có giá trị pháp lý cao như luật còn có hạn chế như có văn bản quy định quá chung chung, tạo thành “luật ống”, “luật khung”, song cũng có những văn bản quy định quá cụ thể, chi tiết dẫn đến tuổi thọ văn bản không cao; (iii) Cơ chế xây dựng, sửa đổi, bổ sung pháp luật vẫn còn một số bất cập, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu thực tiễn, còn xảy ra hiện tượng chậm ban hành văn bản, nợ văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật…; (iv) Cá biệt còn xảy ra hiện tượng có văn bản hoặc một số điều khoản trong văn bản quy phạm pháp luật có chất lượng thấp, vi phạm về cả nội dung và kỹ thuật lập pháp, lập quy; (v) Việc chấp hành pháp luật nhìn chung chưa nghiêm, kỷ cương phép nước có nơi, có lúc còn bị xem nhẹ, xử lý vi phạm pháp luật chưa kịp thời, chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe[17], [18]. Những hạn chế của hệ thống pháp luật nếu không kịp thời khắc phục sẽ tạo thành những “điểm nghẽn”, cản trở việc thực hiện vai trò kiến tạo phát triển của nhà nước. Vấn đề này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, song đáng chú ý là nguyên nhân chủ quan do sự thiếu linh hoạt trong phản ứng chính sách và phối hợp giữa các cơ quan xây dựng pháp luật, nhận thức và tư duy pháp luật trong một số lĩnh vực chưa theo kịp thực tiễn; một số trường hợp chưa coi trọng đúng mức hoặc thực hiện chưa phù hợp việc lấy ý kiến của nhân dân và đối tượng chịu tác động khi xây dựng chính sách; còn những bất cập, hạn chế của đội ngũ nhân sự tham gia xây dựng pháp luật.


2.2. Một số giải pháp tiếp tục xây dựng, hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu của nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam hiện nay


Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định rõ những yêu cầu phải đáp ứng của hệ thống pháp luật trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, để có được một hệ thống thể chế, pháp luật kiến tạo phát triển. Theo đó, cần “xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, có sức cạnh tranh quốc tế, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân là trung tâm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển bền vững kinh tế, xã hội và quốc phòng, an ninh trong điều kiện mới”[19].
Trên cơ sở đặc điểm của nhà nước kiến tạo phát triển, xuất phát từ yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phù hợp tình hình thực tiễn và nhằm khắc phục những bất cập của hệ thống pháp luật hiện hành, trong thời gian tới, cần chú trọng một số giải pháp sau:


Một là, về phương diện lý luận, cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ tiêu chí của hệ thống pháp luật trong nhà nước kiến tạo phát triển. Tiếp thu những yếu tố hợp lý của mô hình nhà nước kiến tạo phát triển theo hướng nhà nước chủ động hơn về thể chế và pháp luật. Điều đó tất yếu đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục nỗ lực xây dựng, hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế.


Hai là, tiếp tục đổi mới tư duy pháp lý trong công tác xây dựng pháp luật trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tư duy pháp lý sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của pháp luật, chi phối mức độ hoàn thiện và đáp ứng nhu cầu thực tiễn của hệ thống pháp luật. Do vậy, cần đổi mới tư duy pháp lý theo hướng một mặt bảo đảm giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng, tôn trọng điều kiện kinh tế - xã hội như một yếu tố khách quan, mặt khác, kế thừa tư duy pháp lý tiến bộ của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tư duy pháp lý quốc tế và các nước phù hợp với điều kiện nước ta và yêu cầu của hội nhập quốc tế, các xu thế phát triển của xã hội trong tương lai[20].


Ba là, đẩy nhanh tốc độ ban hành pháp luật; tăng cường “tính mở” cho thể chế trong các lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại. Trước hết, về việc đẩy nhanh tốc độ ban hành pháp luật, hiện nay, chúng ta chưa thể chế hóa hết các quy định của Hiến pháp năm 2013, do vậy, để bảo đảm sự đầy đủ, tính toàn diện thì các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là các luật, cần phải được ban hành kịp thời hơn nữa. Đồng thời, với đặc thù là các quan hệ xã hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chịu tác động của Cách mạng Công nghiệp 4.0 thường có những thay đổi nhanh chóng, nhà nước kiến tạo phát triển theo đó phải có hệ thống pháp luật “mở”, đặc biệt trong lĩnh vực dân sự, lao động, kinh doanh, thương mại. Nghĩa là phải có cơ chế hữu hiệu để phát huy vai trò của nguồn bổ trợ pháp luật như tập quán thương mại quốc tế, tập quán pháp trong lĩnh vực dân sự, án lệ, lẽ công bằng.


Bốn là, tăng cường tính hiện đại, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quy trình xây dựng pháp luật. Quy trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật phải có điểm khởi đầu từ nhu cầu xã hội, từ đối tượng chịu sự điều chỉnh của pháp luật và từ bản thân những quy định đã được ban hành đang đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung. Như vậy, về phương diện kỹ thuật, cần chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin để tiếp thu sáng kiến chính sách. Đồng thời, mỗi văn bản, trong quá trình lấy ý kiến dự thảo, phải bảo đảm tính minh bạch, trách nhiệm giải trình. Sao cho, các văn bản ra đời đều thực sự là sự phản ánh điều kiện kinh tế - xã hội, nhu cầu xã hội và ý chí, nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân, các đối tượng chịu sự điều chỉnh của pháp luật, các doanh nghiệp.


Năm là, thực hiện việc nghiên cứu xây dựng, áp dụng khung thể chế thử nghiệm có kiểm soát để thúc đẩy ra đời các mô hình đổi mới sáng tạo, thúc đẩy phát triển. Đây là cách mà các quốc gia lựa chọn mô hình nhà nước kiến tạo phát triển như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc… đã, đang thực hiện và đạt nhiều thành công[21]. Tuy nhiên, để thực hiện được vấn đề này, cần có đội ngũ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung[22] và được bảo vệ, vì đã thử nghiệm có nghĩa rằng có thể thành công hoặc có rủi ro[23].


Sáu là, gắn chặt chẽ xây dựng pháp luật với tổ chức thi hành pháp luật; các nguyên tắc pháp quyền phải thực sự được hiện thực hóa trong đời sống pháp lý. Pháp luật khi được ban hành phải bảo đảm hiệu lực, hiệu quả. Điều này đòi hỏi công tác tổ chức thi hành pháp luật phải được đặt ở vị trí không kém phần quan trọng so với công tác xây dựng pháp luật. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật luôn cần thực hiện một cách thường xuyên và thực chất. Đặc biệt, với các chính sách có nhiều đột phá, nhiều điểm mới để đáp ứng yêu cầu kiến tạo phát triển, cần ngăn ngừa khả năng thiếu đồng thuận bằng cách chủ động tuyên truyền ngay khi chính sách còn ở dạng dự thảo. Đồng thời, đối với các hành vi vi phạm, các chế tài nghiêm minh phải được áp dụng và tổ chức thực hiện bởi hệ thống cơ quan bảo vệ pháp luật độc lập, liêm chính, hiệu lực.

TS. Nguyễn Thị Tuyết Mai
Phó Giám đốc Học viện Chính trị khu vực II, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh




[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2021, tập 1, tr. 177.
[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2021, tập 1, tr. 284.
[3]. Từ viết tắt của Ministry of International Trade and Industry - Bộ Công nghiệp và Thương mại Quốc tế của Nhật Bản.
[4]. Stanford University Press, 1982, http://faculty.arts.ubc.ca.
[5]. Dẫn theo: PGS.TS. Trịnh Quốc Toản - PGS.TS. Vũ Công Giao (đồng chủ biên): Nhà nước kiến tạo phát triển - Lý luận, thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam, Nxb. Lý luận chính trị, H.2017, tr.21; xem thêm: UNDP: Democratization in a Developmental State: The Case of Ethiopia, Issues, Challenges and Prospects, UNDP Ethiopia, No.1/2012, p3. http://www.et.undp.org.
[6]. Dẫn theo: PGS.TS. Trịnh Quốc Toản, PGS.TS. Vũ Công Giao (đồng chủ biên), Nhà nước kiến tạo phát triển - Lý luận, thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam, Nxb. Lý luận chính trị, H.2017, tr.25.
[7]. UNDP: Democratization in a Developmental State: The Case of Ethiopia, Issues, Challenges and Prospects, UNDP Ethiopia, No.1/2012, p7. http://www.et.undp.org.
[8]. Xem: Xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển trong thực tiễn Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học ngày 04/5/2017, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chỉ đạo biên soạn: GS.TS. Nguyễn Xuân Thắng, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2017.
[9]. Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 4 năm 2016, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=189& mode=detail&document_id=184575&category_id=0.
[10]. Dẫn nguồn: http://baochinhphu.vn/kinh-te/diem-khac-biet-cua-chinh-phu-kien-tao/322519.vgp, ngày 19/11/2017
[11]. Dẫn nguồn: https://thanhtra.com.vn/phap-luat/hoan-thien-the-che/thu-tuong-pham-minh-chinh-chu-tri-hoi-nghi-ve-cong-tac-xay-dung-va-hoan-thien-the-che-187960.html.
[12]. Xem thêm: Ban Chấp hành Trung ương, Ban Chỉ đạo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Báo cáo Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, tr.28.
[13]. Xem: https://quochoi.vn/tintuc/pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?itemid=53545.
[14]. Báo cáo số 128/BC-CP ngày 19/4/2021 của Chính phủ Tổng kết Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 và định hướng giai đoạn 2021 - 2030, tr. 8.
[15]. Báo cáo số 75/BC-CP ngày 13/3/2021 của Chính phủ về tổng kết công tác của Chính phủ nhiệm kỳ 2016 - 2021.
[16]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tập 1, tr. 72.
[17]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2021, tập 1, tr. 89.
[18]. Báo cáo số 128/BC-CP ngày 19/4/2021 của Chính phủ về Tổng kết chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 và định hướng giai đoạn 2021 - 2030, tr. 11 - 12.
[19]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2021, tập 1, tr. 285.
[20]. Xem thêm: GS.TS. Võ Khánh Vinh (chủ biên), Tiếp tục đổi mới tư duy pháp lý phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2021, tr. 40.
[21]. Xem thêm: TS. Chu Thị Hoa: Sandbox - cơ chế thử nghiệm áp dụng trong phạm vi hạn chế - kinh nghiệm quốc tế và một số gợi ý cho Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 16 (391), tháng 8/2019.
[22]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tập 1. tr. 179.
[23]. Xem thêm: Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị khóa XIII về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/ket-luan-so-14-kltw-ngay-2292021-cua-bo-chinh-tri-ve-chu-truong-khuyen-khich-va-bao-ve-can-bo-nang-dong-sang-tao-vi-7831.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.

Theo dõi chúng tôi trên: