Thứ hai 20/07/2026 05:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xử lý kỷ luật viên chức khi có quyết định khởi tố - Một số vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Hiện nay, quy chế pháp lý điều chỉnh các quan hệ xã hội về viên chức đã được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khá đầy đủ và chi tiết. Trong đó, Luật Viên chức năm 2010 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức năm 2019 là văn bản pháp lý quan trọng nhất quy định về điều kiện, tiêu chuẩn, quyền và nghĩa vụ của viên chức. Vấn đề xử lý kỷ luật viên chức được chi tiết hóa tại Nghị định số 112/2020/NĐ-CP ngày 18/9/2020 về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức (Nghị định số 112/2020/NĐ-CP). Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện pháp luật về viên chức đã phát sinh nhiều bất cập, vướng mắc cho thấy độ “vênh” nhất định giữa pháp luật và thực tiễn dẫn đến khó khăn trong tổ chức thực thi pháp luật.

1. Một số bất cập, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện pháp luật về xử lý kỷ luật viên chức

Thứ nhất, về quy định về xử lý kỷ luật viên chức khi có quyết định khởi tố bị can.

Khoản 4 Điều 3 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP quy định, chưa xem xét xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức trong trường hợp cán bộ, công chức, viên chức đang bị khởi tố, tạm giữ, tạm giam chờ kết luận của cơ quan có thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử về hành vi vi phạm pháp luật, trừ trường hợp theo quyết định của cấp có thẩm quyền. Tuy nhiên, các trường hợp như thế nào là “theo quyết định của cấp có thẩm quyền” là khó xác định, cấp có thẩm quyền được xác định là cấp có thẩm quyền quản lý viên chức theo phân cấp, hay là cấp có thẩm quyền trong các giai đoạn của quá trình tố tụng? Điều này dẫn đến khó khăn, vướng mắc trong áp dụng pháp luật.

Thứ hai, chưa có sự thống nhất và đồng bộ trong các quy định về xử lý kỷ luật khi viên chức là đảng viên có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự.

Khoản 2 Điều 17 Quy định số 22-QĐ/TW ngày 28/7/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng (Quy định số 22-QĐ/TW) quy định: “Đảng viên bị khởi tố, truy tố hoặc bị tạm giam hoặc do cơ quan thanh tra, kiểm toán cung cấp nội dung vi phạm pháp luật thì tổ chức đảng có thẩm quyền chủ động, kịp thời kiểm tra, kết luận và xem xét, xử lý kỷ luật đảng viên có vi phạm đến mức phải xử lý, không chờ kết luận hoặc tuyên án của Tòa án hoặc kết luận của cơ quan thanh tra, kiểm toán; không cần quyết định cho đảng viên, cấp ủy viên trở lại sinh hoạt mới xem xét, xử lý kỷ luật. Sau khi có bản án hoặc quyết định của Tòa án hoặc kết luận của cơ quan thanh tra, kiểm toán, nếu thấy cần thiết, tổ chức đảng có thẩm quyền kỷ luật xem xét lại việc kỷ luật đảng đối với đảng viên đó”. Khoản 10 Điều 2 Quy định số 69-QĐ/TW ngày 06/7/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về kỷ luật tổ chức Đảng, đảng viên vi phạm (Quy định số 69-QĐ/TW) quy định: “Kỷ luật đảng không thay thế kỷ luật hành chính, kỷ luật đoàn thể và các hình thức xử phạt của pháp luật. Đảng viên bị kỷ luật về đảng thì cấp ủy quản lý đảng viên đó phải kịp thời chỉ đạo hoặc đề nghị cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội có thẩm quyền, trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày công bố quyết định kỷ luật về Đảng, phải kỷ luật về hành chính, đoàn thể (nếu có) theo quy định của cơ quan nhà nước, đoàn thể”. Trong khi đó, Nghị định số 112/2020/NĐ-CP quy định không xử lý kỷ luật khi chưa có kết luận của cơ quan có thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử về hành vi vi phạm pháp luật. Như vậy, giữa văn bản của Đảng (Quy định số 22-QĐ/TW, Quy định số 69-QĐ/TW) và văn bản hướng dẫn thi hành xử lý kỷ luật (Nghị định số 112/2020/NĐ-CP) có sự không thống nhất. Điều này dẫn đến khi áp dụng trên thực tế, các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ không đủ căn cứ pháp lý để xử lý kỷ luật đối với viên chức vi phạm.

Thứ ba, về sử dụng viên chức khi có quyết định khởi tố nhưng không bị tạm giam.

Như phân tích ở trên, nếu viên chức có hành vi vi phạm và có quyết định khởi tố thì sẽ phải xử lý kỷ luật về Đảng ngay mà không cần có kết luận cuối cùng của cơ quan tố tụng, trước tiên, viên chức vi phạm sẽ bị áp dụng hình thức “đình chỉ sinh hoạt đảng”. Câu hỏi đặt ra là, về phía chính quyền, có được đình chỉ công tác chuyên môn hay không?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Luật Viên chức năm 2010 thì: “Trong thời hạn xử lý kỷ luật, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập quyết định tạm đình chỉ công tác của viên chức nếu thấy viên chức tiếp tục làm việc có thể gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý kỷ luật. Thời gian tạm đình chỉ công tác không quá 15 ngày, trường hợp cần thiết có thể kéo dài thêm nhưng không quá 30 ngày. Hết thời gian tạm đình chỉ công tác, nếu viên chức không bị xử lý kỷ luật thì được bố trí vào vị trí việc làm cũ”. Như vậy, pháp luật về xử lý kỷ luật viên chức không quy định về hình thức đình chỉ công tác mà chỉ có hình thức “tạm đình chỉ công tác” và có điều kiện là nếu tiếp tục đi làm có thể gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý kỷ luật.

Khi không có căn cứ thì về nguyên tắc, đơn vị sự nghiệp công lập vẫn phải bố trí công tác cho viên chức đã bị khởi tố. Tuy nhiên, đặc thù của đơn vị sự nghiệp công lập là các đơn vị cung ứng dịch vụ công của Nhà nước và nhiệm vụ của họ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác có liên quan. Chính vì vậy, nhiều đơn vị sự nghiệp “khó xử” khi quyết định có tạm đình chỉ công tác hay không, hoặc nếu không tạm đình chỉ thì bố trí cho viên chức hoạt động chuyên môn của họ như thế nào, đồng thời cũng sẽ liên quan trực tiếp đến chế độ đặc thù ngành của họ.

Đơn cử: Viên chức A là giáo viên của một trường học B có hành vi vi phạm và bị khởi tố nhưng không bị áp dụng lệnh tạm giam để phục vụ điều tra. Trường học B không đủ cơ sở xác định việc tiếp tục đi dạy của giáo viên A có thể gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý kỷ luật nên vẫn phải bố trí công tác chuyên môn. Trường hợp này sẽ phát sinh 02 tình huống:

- Tình huống 1: Tiếp tục cho viên chức A giảng dạy (công việc chuyên môn đặc thù). Quyết định này là đúng với quy định của pháp luật, song sẽ có thể ảnh hưởng lớn đến uy tín của nhà trường cũng như dư luận xã hội không tốt đối với viên chức.

- Tình huống 2: Không bố trí cho viên chức giảng dạy mà phân công thực hiện các nhiệm vụ khác cho đến khi có kết luận cuối cùng của cơ quan có thẩm quyền. Quyết định này là phù hợp và cũng không vi phạm quy định pháp luật. Tuy nhiên, hậu quả là việc chi trả các khoản phụ cấp nhà giáo cho giáo viên đó như thế nào? Cụ thể, theo Thông tư liên tịch số 01/2006/TTLT-BGD&ĐT-BNV-BTC ngày 23/01/2006 của Liên Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính quy định về chế độ phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo đang trực tiếp giảng dạy trong các cơ sở giáo dục công lập (Thông tư liên tịch số 01/2006/TTLT-BGD&ĐT-BNV-BTC) thì viên chức không được tính hưởng phụ cấp ưu đãi trong các thời gian sau: (i) Thời gian đi công tác, làm việc, học tập ở nước ngoài hưởng 40% tiền lương theo quy định tại khoản 4 Điều 8 Nghị định số 204/2004/NĐ-CP; (ii) Thời gian đi công tác, học tập ở trong nước không tham gia giảng dạy liên tục trên 03 tháng; (iii) Thời gian nghỉ việc riêng không hưởng lương liên tục từ 01 tháng trở lên; (iv) Thời gian nghỉ ốm đau, thai sản vượt quá thời hạn theo quy định của Điều lệ bảo hiểm xã hội hiện hành; (v) Thời gian bị đình chỉ giảng dạy.

Như đã phân tích trên, hiện nay, pháp luật về viên chức không có quy định về đình chỉ công tác mà chỉ có “tạm đình chỉ công tác” với thời hạn tối đa 30 ngày, do đó, không đủ căn cứ để cắt phụ cấp ưu đãi nghề (phụ cấp đứng lớp) đối với viên chức này, cho dù đơn vị không bố trí giảng dạy với viên chức thời gian 01 tháng, 03 tháng hoặc lâu hơn thế. Bên cạnh đó, nếu vẫn duy trì phụ cấp đứng lớp mà không trực tiếp giảng dạy cũng chưa thực sự hợp lý vì phụ cấp chỉ áp dụng với người đang trực tiếp giảng dạy.

Có thể thấy, quy định trên đây là chưa phù hợp với thực tiễn hiện nay vì nếu lựa chọn tính hợp pháp (vẫn cho giảng dạy) thì không bảo đảm tính phù hợp (bảo đảm về uy tín về chất lượng giảng dạy); nếu lựa chọn tính hợp lý (không giảng dạy mà bố trí công tác khác) thì lại không đủ căn cứ để xác định về chế độ đối với viên chức.

2. Kiến nghị

Từ những phân tích nêu trên, tác giả cho rằng, việc kịp thời khắc phục những bất cập của pháp luật về vấn đề xử lý kỷ luật đối với viên chức khi có quyết định khởi tố là điều cần thiết, tập trung ở một số nội dung như sau:

Một là, hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những cá nhân không còn xứng đáng, nhằm tăng cường kỷ cương, kỷ luật, tăng cường sức chiến đấu của Đảng, giáo dục tổ chức đảng, đảng viên và các quy định về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm được Đảng ban hành đã kịp thời đáp ứng nhu cầu đó. Tuy nhiên, các đường lối, chủ trương của Đảng, việc hiện thực hóa xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức cần phải được thể hiện bẳng các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành.

Theo tác giả, Nghị định số 112/2020/NĐ-CP cần được sửa đổi, bổ sung để cụ thể hóa Quy định số 22-QĐ/TW và Quy định số 69-QĐ/TW, cụ thể:

- Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 3 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP theo hướng sẽ tiến hành xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức kể cả khi viên chức bị khởi tố, tạm giữ, tạm giam, không cần chờ kết luận của cơ quan có thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử về hành vi vi phạm pháp luật. Khởi tố là giai đoạn đầu tiên và quan trọng của quá trình tố tụng hình sự, với nguyên tắc suy đoán vô tội, bản thân cơ quan điều tra phải rất thận trọng khi đưa ra quyết định khởi tố bị can đối với chủ thể có dấu hiệu vi phạm. Đối với cán bộ, công chức, viên chức được xác định là bị can thì cơ quan điều tra cần phải thận trọng hơn nữa trước khi đưa ra quyết định. Với quyết định khởi tố bị can, mặc dù chưa xác định viên chức có phải tội phạm hay không, song, cũng có thể xác định bản thân cá nhân đó cũng đã có những hành vi vi phạm nghĩa vụ của viên chức theo quy định tại Điều 16 Luật Viên chức năm 2010. Giả sử, cá nhân được tuyên bố là hành vi chưa cấu thành tội phạm, thì cũng sẽ phải xử lý hành chính, đó cũng là biểu hiện của hành vi vi phạm nghĩa vụ của viên chức. Quy trình xử lý kỷ luật viên chức cũng phải được thực hiện cho dù có kết luận không cấu thành tội phạm.

Vì vậy, để bảo đảm tính răn đe, tính giáo dục, nêu cao tinh thần gương mẫu của cán bộ, đảng viên, viên chức nên tiến hành quy trình xử lý kỷ luật viên chức mà không có sự phân biệt khi nào có kết luận cuối cùng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục tố tụng hình sự.

- Có sự phân biệt về thời điểm tiến hành xử lý kỷ luật để phù hợp với văn bản của Đảng như sau: (i) Đối với viên chức không phải là đảng viên thì tiến hành xử lý kỷ luật trong vòng 30 ngày, kể từ khi có quyết định khởi tố bị can với viên chức; (ii) Đối với viên chức là đảng viên thì tiến hành xử lý kỷ luật trong vòng 30 ngày, kể từ sau khi có quyết định xử lý kỷ luật đảng viên.

Hai là, sửa đổi, bổ sung quy định về “tạm hoãn thực hiện hợp đồng làm việc” với viên chức khi bị khởi tố mà không có quyết định tạm giam, tạm giữ để có cơ sở chi trả các chế độ phụ cấp đặc thù nghề nghiệp cho viên chức.

- Như phân tích trên, tạm đình chỉ công tác được tính trong thời hạn xử lý kỷ luật và phải xác định nếu viên chức tiếp tục làm việc có thể gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý kỷ luật thì mới được tạm đình chỉ công tác. Tác giả cho rằng, quy định này chỉ phù hợp với những vụ việc xử lý kỷ luật thông thường, không áp dụng với viên chức bị khởi tố.

Viên chức là người làm việc theo chế độ hợp đồng với đơn vị sự nghiệp công lập nên về nguyên tắc, có thể áp dụng các quy định về tạm hoãn thực hiện hợp đồng khi viên chức bị tạm giữ, tạm giam theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 30 Bộ luật Lao động năm 2019. Song, quy định này cũng sẽ là chưa trọn vẹn bởi nếu viên chức bị khởi tố nhưng cho tại ngoại thì không được tạm hoãn hợp đồng. Do đó, tác giả cho rằng, đối với xử lý kỷ luật khi viên chức bị khởi tố, nên quy định cụ thể tại Luật Viên chức năm 2010 hoặc Nghị định số 112/2020/NĐ-CP theo hướng: “Đơn vị sự nghiệp công lập được quyền quyết định tạm hoãn thực hiện hợp đồng làm việc với viên chức đã bị khởi tố đến khi có kết luận của cơ quan có thẩm quyền theo quy trình tố tụng hình sự”. Nghĩa là, không cần phụ thuộc có quyết định tạm giam, tạm giữ hình sự đối với viên chức hay không, mà việc quyết định tạm hoãn thực hiện hợp đồng sẽ do đơn vị sự nghiệp công lập cân nhắc, quyết định sao cho hợp tình và hợp lý với mỗi trường hợp. Quy định này nhằm hạn chế tối đa những hậu quả cả về tư tưởng, uy tín và hiệu quả công việc có thể xảy ra khi viên chức bị khởi tố tiếp tục làm việc.

- Cập nhật, sửa đổi quy định về điều kiện hưởng chế độ hưởng phụ cấp nhà giáo. Thông tư liên tịch số 01/2006/TTLT-BGD&ĐT-BNV-BTC đã cho thấy sự chưa phù hợp khi quy định không chi trả chế độ phụ cấp với “thời gian bị đình chỉ giảng dạy”. Vì thế, cần sửa đổi quy định đình chỉ giảng dạy bằng căn cứ “thời gian bị tạm hoãn thực hiện hợp đồng làm việc giảng dạy” đã được đơn vị sự nghiệp công lập quyết định.

ThS. Trịnh Thị Thu Hiền

Trường Chính trị tỉnh Gia Lai

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).

Theo dõi chúng tôi trên: