Thứ ba 17/03/2026 23:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xử lý kỷ luật viên chức khi có quyết định khởi tố - Một số vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Hiện nay, quy chế pháp lý điều chỉnh các quan hệ xã hội về viên chức đã được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khá đầy đủ và chi tiết. Trong đó, Luật Viên chức năm 2010 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức năm 2019 là văn bản pháp lý quan trọng nhất quy định về điều kiện, tiêu chuẩn, quyền và nghĩa vụ của viên chức. Vấn đề xử lý kỷ luật viên chức được chi tiết hóa tại Nghị định số 112/2020/NĐ-CP ngày 18/9/2020 về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức (Nghị định số 112/2020/NĐ-CP). Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện pháp luật về viên chức đã phát sinh nhiều bất cập, vướng mắc cho thấy độ “vênh” nhất định giữa pháp luật và thực tiễn dẫn đến khó khăn trong tổ chức thực thi pháp luật.

1. Một số bất cập, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện pháp luật về xử lý kỷ luật viên chức

Thứ nhất, về quy định về xử lý kỷ luật viên chức khi có quyết định khởi tố bị can.

Khoản 4 Điều 3 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP quy định, chưa xem xét xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức trong trường hợp cán bộ, công chức, viên chức đang bị khởi tố, tạm giữ, tạm giam chờ kết luận của cơ quan có thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử về hành vi vi phạm pháp luật, trừ trường hợp theo quyết định của cấp có thẩm quyền. Tuy nhiên, các trường hợp như thế nào là “theo quyết định của cấp có thẩm quyền” là khó xác định, cấp có thẩm quyền được xác định là cấp có thẩm quyền quản lý viên chức theo phân cấp, hay là cấp có thẩm quyền trong các giai đoạn của quá trình tố tụng? Điều này dẫn đến khó khăn, vướng mắc trong áp dụng pháp luật.

Thứ hai, chưa có sự thống nhất và đồng bộ trong các quy định về xử lý kỷ luật khi viên chức là đảng viên có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự.

Khoản 2 Điều 17 Quy định số 22-QĐ/TW ngày 28/7/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng (Quy định số 22-QĐ/TW) quy định: “Đảng viên bị khởi tố, truy tố hoặc bị tạm giam hoặc do cơ quan thanh tra, kiểm toán cung cấp nội dung vi phạm pháp luật thì tổ chức đảng có thẩm quyền chủ động, kịp thời kiểm tra, kết luận và xem xét, xử lý kỷ luật đảng viên có vi phạm đến mức phải xử lý, không chờ kết luận hoặc tuyên án của Tòa án hoặc kết luận của cơ quan thanh tra, kiểm toán; không cần quyết định cho đảng viên, cấp ủy viên trở lại sinh hoạt mới xem xét, xử lý kỷ luật. Sau khi có bản án hoặc quyết định của Tòa án hoặc kết luận của cơ quan thanh tra, kiểm toán, nếu thấy cần thiết, tổ chức đảng có thẩm quyền kỷ luật xem xét lại việc kỷ luật đảng đối với đảng viên đó”. Khoản 10 Điều 2 Quy định số 69-QĐ/TW ngày 06/7/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về kỷ luật tổ chức Đảng, đảng viên vi phạm (Quy định số 69-QĐ/TW) quy định: “Kỷ luật đảng không thay thế kỷ luật hành chính, kỷ luật đoàn thể và các hình thức xử phạt của pháp luật. Đảng viên bị kỷ luật về đảng thì cấp ủy quản lý đảng viên đó phải kịp thời chỉ đạo hoặc đề nghị cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội có thẩm quyền, trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày công bố quyết định kỷ luật về Đảng, phải kỷ luật về hành chính, đoàn thể (nếu có) theo quy định của cơ quan nhà nước, đoàn thể”. Trong khi đó, Nghị định số 112/2020/NĐ-CP quy định không xử lý kỷ luật khi chưa có kết luận của cơ quan có thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử về hành vi vi phạm pháp luật. Như vậy, giữa văn bản của Đảng (Quy định số 22-QĐ/TW, Quy định số 69-QĐ/TW) và văn bản hướng dẫn thi hành xử lý kỷ luật (Nghị định số 112/2020/NĐ-CP) có sự không thống nhất. Điều này dẫn đến khi áp dụng trên thực tế, các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ không đủ căn cứ pháp lý để xử lý kỷ luật đối với viên chức vi phạm.

Thứ ba, về sử dụng viên chức khi có quyết định khởi tố nhưng không bị tạm giam.

Như phân tích ở trên, nếu viên chức có hành vi vi phạm và có quyết định khởi tố thì sẽ phải xử lý kỷ luật về Đảng ngay mà không cần có kết luận cuối cùng của cơ quan tố tụng, trước tiên, viên chức vi phạm sẽ bị áp dụng hình thức “đình chỉ sinh hoạt đảng”. Câu hỏi đặt ra là, về phía chính quyền, có được đình chỉ công tác chuyên môn hay không?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Luật Viên chức năm 2010 thì: “Trong thời hạn xử lý kỷ luật, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập quyết định tạm đình chỉ công tác của viên chức nếu thấy viên chức tiếp tục làm việc có thể gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý kỷ luật. Thời gian tạm đình chỉ công tác không quá 15 ngày, trường hợp cần thiết có thể kéo dài thêm nhưng không quá 30 ngày. Hết thời gian tạm đình chỉ công tác, nếu viên chức không bị xử lý kỷ luật thì được bố trí vào vị trí việc làm cũ”. Như vậy, pháp luật về xử lý kỷ luật viên chức không quy định về hình thức đình chỉ công tác mà chỉ có hình thức “tạm đình chỉ công tác” và có điều kiện là nếu tiếp tục đi làm có thể gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý kỷ luật.

Khi không có căn cứ thì về nguyên tắc, đơn vị sự nghiệp công lập vẫn phải bố trí công tác cho viên chức đã bị khởi tố. Tuy nhiên, đặc thù của đơn vị sự nghiệp công lập là các đơn vị cung ứng dịch vụ công của Nhà nước và nhiệm vụ của họ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác có liên quan. Chính vì vậy, nhiều đơn vị sự nghiệp “khó xử” khi quyết định có tạm đình chỉ công tác hay không, hoặc nếu không tạm đình chỉ thì bố trí cho viên chức hoạt động chuyên môn của họ như thế nào, đồng thời cũng sẽ liên quan trực tiếp đến chế độ đặc thù ngành của họ.

Đơn cử: Viên chức A là giáo viên của một trường học B có hành vi vi phạm và bị khởi tố nhưng không bị áp dụng lệnh tạm giam để phục vụ điều tra. Trường học B không đủ cơ sở xác định việc tiếp tục đi dạy của giáo viên A có thể gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý kỷ luật nên vẫn phải bố trí công tác chuyên môn. Trường hợp này sẽ phát sinh 02 tình huống:

- Tình huống 1: Tiếp tục cho viên chức A giảng dạy (công việc chuyên môn đặc thù). Quyết định này là đúng với quy định của pháp luật, song sẽ có thể ảnh hưởng lớn đến uy tín của nhà trường cũng như dư luận xã hội không tốt đối với viên chức.

- Tình huống 2: Không bố trí cho viên chức giảng dạy mà phân công thực hiện các nhiệm vụ khác cho đến khi có kết luận cuối cùng của cơ quan có thẩm quyền. Quyết định này là phù hợp và cũng không vi phạm quy định pháp luật. Tuy nhiên, hậu quả là việc chi trả các khoản phụ cấp nhà giáo cho giáo viên đó như thế nào? Cụ thể, theo Thông tư liên tịch số 01/2006/TTLT-BGD&ĐT-BNV-BTC ngày 23/01/2006 của Liên Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính quy định về chế độ phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo đang trực tiếp giảng dạy trong các cơ sở giáo dục công lập (Thông tư liên tịch số 01/2006/TTLT-BGD&ĐT-BNV-BTC) thì viên chức không được tính hưởng phụ cấp ưu đãi trong các thời gian sau: (i) Thời gian đi công tác, làm việc, học tập ở nước ngoài hưởng 40% tiền lương theo quy định tại khoản 4 Điều 8 Nghị định số 204/2004/NĐ-CP; (ii) Thời gian đi công tác, học tập ở trong nước không tham gia giảng dạy liên tục trên 03 tháng; (iii) Thời gian nghỉ việc riêng không hưởng lương liên tục từ 01 tháng trở lên; (iv) Thời gian nghỉ ốm đau, thai sản vượt quá thời hạn theo quy định của Điều lệ bảo hiểm xã hội hiện hành; (v) Thời gian bị đình chỉ giảng dạy.

Như đã phân tích trên, hiện nay, pháp luật về viên chức không có quy định về đình chỉ công tác mà chỉ có “tạm đình chỉ công tác” với thời hạn tối đa 30 ngày, do đó, không đủ căn cứ để cắt phụ cấp ưu đãi nghề (phụ cấp đứng lớp) đối với viên chức này, cho dù đơn vị không bố trí giảng dạy với viên chức thời gian 01 tháng, 03 tháng hoặc lâu hơn thế. Bên cạnh đó, nếu vẫn duy trì phụ cấp đứng lớp mà không trực tiếp giảng dạy cũng chưa thực sự hợp lý vì phụ cấp chỉ áp dụng với người đang trực tiếp giảng dạy.

Có thể thấy, quy định trên đây là chưa phù hợp với thực tiễn hiện nay vì nếu lựa chọn tính hợp pháp (vẫn cho giảng dạy) thì không bảo đảm tính phù hợp (bảo đảm về uy tín về chất lượng giảng dạy); nếu lựa chọn tính hợp lý (không giảng dạy mà bố trí công tác khác) thì lại không đủ căn cứ để xác định về chế độ đối với viên chức.

2. Kiến nghị

Từ những phân tích nêu trên, tác giả cho rằng, việc kịp thời khắc phục những bất cập của pháp luật về vấn đề xử lý kỷ luật đối với viên chức khi có quyết định khởi tố là điều cần thiết, tập trung ở một số nội dung như sau:

Một là, hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những cá nhân không còn xứng đáng, nhằm tăng cường kỷ cương, kỷ luật, tăng cường sức chiến đấu của Đảng, giáo dục tổ chức đảng, đảng viên và các quy định về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm được Đảng ban hành đã kịp thời đáp ứng nhu cầu đó. Tuy nhiên, các đường lối, chủ trương của Đảng, việc hiện thực hóa xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức cần phải được thể hiện bẳng các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành.

Theo tác giả, Nghị định số 112/2020/NĐ-CP cần được sửa đổi, bổ sung để cụ thể hóa Quy định số 22-QĐ/TW và Quy định số 69-QĐ/TW, cụ thể:

- Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 3 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP theo hướng sẽ tiến hành xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức kể cả khi viên chức bị khởi tố, tạm giữ, tạm giam, không cần chờ kết luận của cơ quan có thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử về hành vi vi phạm pháp luật. Khởi tố là giai đoạn đầu tiên và quan trọng của quá trình tố tụng hình sự, với nguyên tắc suy đoán vô tội, bản thân cơ quan điều tra phải rất thận trọng khi đưa ra quyết định khởi tố bị can đối với chủ thể có dấu hiệu vi phạm. Đối với cán bộ, công chức, viên chức được xác định là bị can thì cơ quan điều tra cần phải thận trọng hơn nữa trước khi đưa ra quyết định. Với quyết định khởi tố bị can, mặc dù chưa xác định viên chức có phải tội phạm hay không, song, cũng có thể xác định bản thân cá nhân đó cũng đã có những hành vi vi phạm nghĩa vụ của viên chức theo quy định tại Điều 16 Luật Viên chức năm 2010. Giả sử, cá nhân được tuyên bố là hành vi chưa cấu thành tội phạm, thì cũng sẽ phải xử lý hành chính, đó cũng là biểu hiện của hành vi vi phạm nghĩa vụ của viên chức. Quy trình xử lý kỷ luật viên chức cũng phải được thực hiện cho dù có kết luận không cấu thành tội phạm.

Vì vậy, để bảo đảm tính răn đe, tính giáo dục, nêu cao tinh thần gương mẫu của cán bộ, đảng viên, viên chức nên tiến hành quy trình xử lý kỷ luật viên chức mà không có sự phân biệt khi nào có kết luận cuối cùng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục tố tụng hình sự.

- Có sự phân biệt về thời điểm tiến hành xử lý kỷ luật để phù hợp với văn bản của Đảng như sau: (i) Đối với viên chức không phải là đảng viên thì tiến hành xử lý kỷ luật trong vòng 30 ngày, kể từ khi có quyết định khởi tố bị can với viên chức; (ii) Đối với viên chức là đảng viên thì tiến hành xử lý kỷ luật trong vòng 30 ngày, kể từ sau khi có quyết định xử lý kỷ luật đảng viên.

Hai là, sửa đổi, bổ sung quy định về “tạm hoãn thực hiện hợp đồng làm việc” với viên chức khi bị khởi tố mà không có quyết định tạm giam, tạm giữ để có cơ sở chi trả các chế độ phụ cấp đặc thù nghề nghiệp cho viên chức.

- Như phân tích trên, tạm đình chỉ công tác được tính trong thời hạn xử lý kỷ luật và phải xác định nếu viên chức tiếp tục làm việc có thể gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý kỷ luật thì mới được tạm đình chỉ công tác. Tác giả cho rằng, quy định này chỉ phù hợp với những vụ việc xử lý kỷ luật thông thường, không áp dụng với viên chức bị khởi tố.

Viên chức là người làm việc theo chế độ hợp đồng với đơn vị sự nghiệp công lập nên về nguyên tắc, có thể áp dụng các quy định về tạm hoãn thực hiện hợp đồng khi viên chức bị tạm giữ, tạm giam theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 30 Bộ luật Lao động năm 2019. Song, quy định này cũng sẽ là chưa trọn vẹn bởi nếu viên chức bị khởi tố nhưng cho tại ngoại thì không được tạm hoãn hợp đồng. Do đó, tác giả cho rằng, đối với xử lý kỷ luật khi viên chức bị khởi tố, nên quy định cụ thể tại Luật Viên chức năm 2010 hoặc Nghị định số 112/2020/NĐ-CP theo hướng: “Đơn vị sự nghiệp công lập được quyền quyết định tạm hoãn thực hiện hợp đồng làm việc với viên chức đã bị khởi tố đến khi có kết luận của cơ quan có thẩm quyền theo quy trình tố tụng hình sự”. Nghĩa là, không cần phụ thuộc có quyết định tạm giam, tạm giữ hình sự đối với viên chức hay không, mà việc quyết định tạm hoãn thực hiện hợp đồng sẽ do đơn vị sự nghiệp công lập cân nhắc, quyết định sao cho hợp tình và hợp lý với mỗi trường hợp. Quy định này nhằm hạn chế tối đa những hậu quả cả về tư tưởng, uy tín và hiệu quả công việc có thể xảy ra khi viên chức bị khởi tố tiếp tục làm việc.

- Cập nhật, sửa đổi quy định về điều kiện hưởng chế độ hưởng phụ cấp nhà giáo. Thông tư liên tịch số 01/2006/TTLT-BGD&ĐT-BNV-BTC đã cho thấy sự chưa phù hợp khi quy định không chi trả chế độ phụ cấp với “thời gian bị đình chỉ giảng dạy”. Vì thế, cần sửa đổi quy định đình chỉ giảng dạy bằng căn cứ “thời gian bị tạm hoãn thực hiện hợp đồng làm việc giảng dạy” đã được đơn vị sự nghiệp công lập quyết định.

ThS. Trịnh Thị Thu Hiền

Trường Chính trị tỉnh Gia Lai

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: