Thứ ba 29/09/2026 09:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Áp dụng án lệ của CISG để giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế tại các trung tâm trọng tài thương mại ở Việt Nam

Ngày 18/12/2015, Việt Nam đã chính thức gia nhập Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước Viên năm 1980 - CISG). Ngày 01/01/2017, Công ước Viên năm 1980 đã bắt đầu có hiệu lực áp dụng chính thức tại Việt Nam. Công ước Viên đã thống nhất hóa và khắc phục được nhiều mâu thuẫn giữa các hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới, đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các xung đột pháp luật trong thương mại quốc tế và thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển

1. Cơ sở để áp dụng án lệ của CISG trong giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế

Bên cạnh áp dụng án lệ do Tòa án nhân dân tối cao ban hành thì trung tâm trọng tài thương mại có thể áp dụng án lệ của CISG để giải quyết các hợp đồng thương mại quốc tế. Theo thống kê của PACE thì số lượng án lệ của CISG là khoảng 3000[2]. Trong số các án lệ có liên quan đến CISG có rất nhiều phán quyết của trọng tài quốc tế. Các vụ kiện của CISG được báo cáo trên hai nguồn chính sau: www.uncitral.org (website chính thức của Ủy ban Luật Thương mại quốc tế của Liên Hợp Quốc) và www.cisg.law.pace.edu (website chuyên về CISG - là hệ thống cơ sở dữ liệu của Đại học Pace, Hoa Kỳ - Pace University). Trong số các án lệ của CISG, đã có một án lệ liên quan đến Việt Nam về tranh chấp giữa Công ty thương mại Tây Ninh - Tanico (Việt Nam) và Công ty NG Nam Bee (Singapore), được xét xử tại tòa phúc thẩm - Tòa án nhân dân tối cao TP. Hồ Chí Minh, bản án tuyên ngày 04/5/1996, trong đó, Tòa án Việt Nam đã tham chiếu các Điều 29, Điều 53, Điều 61.3 và 64.1 của CISG[3].

Tuy nhiên, án lệ của CISG chỉ được áp dụng để giải quyết các tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế mà một trong các bên tranh chấp là Việt Nam còn đối với các tranh chấp hợp đồng thương mại tại Việt Nam thì chưa có một quy chế pháp lý nào cho phép áp dụng án lệ của CISG.

Có thể coi CISG và Luật Thương mại Việt Nam là hai nguồn luật độc lập cùng điều chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế. Theo đó, CISG điều chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế; Luật Thương mại Việt Nam điều chỉnh cả hợp đồng thương mại quốc tế và trong nước. Nếu Tòa án hoặc Trọng tài thương mại được áp dụng CISG thì mặc nhiên các án lệ của CISG cũng có giá trị áp dụng để giải quyết các hợp đồng thương mại quốc tế mà Việt Nam là một trong các bên tranh chấp.

Theo khoản 1 Điều 1 của CISG: “Công ước này áp dụng cho các hợp đồng thương mại quốc tế giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau:

a. Khi các quốc gia này là các quốc gia thành viên của Công ước; hoặc

b. Khi theo các quy phạm tư pháp quốc tế thì luật áp dụng là luật của một quốc gia thành viên của Công ước”.

Theo đó, có hai trường hợp CISG được áp dụng:

- Trường hợp 1: Khi các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia là thành viên của CISG (Điều 1.1.a CISG).

Kể từ thời điểm CISG có hiệu lực áp dụng tại Việt Nam, các hợp đồng thương mại quốc tế được giao kết bởi doanh nghiệp Việt Nam sẽ được điều chỉnh bởi CISG trong trường hợp bên còn lại có trụ sở thương mại tại quốc gia là thành viên của CISG. Tuy nhiên, CISG tôn trọng quyền tự do lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng của các bên[4]. Theo Điều 6 CISG, các bên có thể loại trừ việc áp dụng Công ước. Do vậy, các bên có thể loại trừ việc áp dụng CISG nếu như trong hợp đồng bổ sung một điều khoản chọn luật. Ví dụ, các bên có thể thỏa thuận rõ “CISG năm 1980 không được áp dụng để điều chỉnh hợp đồng này”.

- Trường hợp 2: Khi theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật của nước thành viên CISG (Điều 1.1.b CISG).

Trường hợp này, chỉ cần một trong các bên có trụ sở thương mại tại một nước là thành viên của Công ước hoặc không cần bên nào có trụ sở thương mại tại quốc gia thành viên Công ước, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận chọn luật, miễn là các quy định của tư pháp quốc tế dẫn chiếu đến luật của một quốc gia thành viên Công nước. Như vậy, việc có áp dụng Công ước Viên hay không phụ thuộc hoàn toàn vào nguyên tắc của tư pháp quốc tế. Cụ thể, các quy phạm xung đột sẽ được sử dụng để xác định pháp luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng giữa các bên. Nếu quy phạm xung đột dẫn chiếu đến hệ thống pháp luật nào thì hệ thống pháp luật đó sẽ được áp dụng. Khi quy phạm xung đột dẫn chiếu đến pháp luật của quốc gia thành viên Công ước Viên 1980 thì toàn bộ quy định của Công ước này sẽ được áp dụng để điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể[5].

Ngoài ra, còn có hai trường hợp CISG được áp dụng:

- Khi các bên lựa chọn CISG là luật áp dụng cho hợp đồng. Dựa trên nguyên tắc tự do lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng thương mại quốc tế[6], nếu đối tác của doanh nghiệp Việt Nam có trụ sở tại một quốc gia chưa phải là thành viên CISG, các bên trong hợp đồng được phép lựa chọn CISG là luật áp dụng cho hợp đồng.

- Khi cơ quan giải quyết tranh chấp (Tòa án, Trọng tài thương mại) lựa chọn CISG là luật áp dụng cho hợp đồng. Cơ quan giải quyết tranh chấp có thể là Tòa án Việt Nam, Tòa án nước ngoài hoặc trọng tài thương mại Việt Nam, trọng tài nước ngoài. Thẩm phán hay trọng tài viên có thể lựa chọn CISG làm luật áp dụng cho hợp đồng thương mại quốc tế khi các bên không lựa chọn luật điều chỉnh hợp đồng.

Như vậy, đối với các tranh chấp hợp đồng thương mại ở Việt Nam (không có yếu tố nước ngoài) thì đương nhiên không thể áp dụng các án lệ của CISG cũng không thể được áp dụng để giải quyết các tranh chấp hợp đồng thương mại mà chỉ có thể sử dụng các án lệ của CISG để giải quyết các tranh chấp về hợp đồng thương mại quốc tế mà Việt Nam là một trong các bên tranh chấp.

2. Thực tiễn áp dụng án lệ CISG để giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại các trung tâm trọng tài thương mại ở Việt Nam

Để có thể được giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài, các bên phải có thỏa thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài chính là ý chí của hai bên trong việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp, nó phải được tồn tại dưới những hình thức nhất định và có thể được hình thành trong những giai đoạn khác nhau của hợp đồng[7]. Dù thỏa thuận trọng tài được xác lập trước hoặc sau khi có tranh chấp đều có giá trị pháp lý như nhau. Nó có thể tồn tại dưới hình thức một, một số điều khoản trong hợp đồng hoặc các bên có thể lập một văn bản riêng, trong đó chỉ có nội dung là thỏa thuận trọng tài. Theo quy định của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 thì thỏa thuận trọng tài phải được xác lập bằng văn bản.

Thủ tục tố tụng trọng tài do các bên thỏa thuận hoặc áp dụng theo quy tắc tố tụng của trung tâm trọng tài. Nguồn luật áp dụng đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại được quy định như sau: (i) Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, áp dụng luật Việt Nam để giải quyết tranh chấp; (ii) Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, áp dụng luật do các bên lựa chọn; nếu không có thỏa thuận về luật áp dụng thì Hội đồng trọng tài quyết định áp dụng luật mà Hội đồng trọng tài cho là phù hợp nhất. Trường hợp luật Việt Nam, luật do các bên lựa chọn không có quy định cụ thể liên quan đến nội dung tranh chấp thì Hội đồng trọng tài được áp dụng tập quán quốc tế để giải quyết tranh chấp nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Tại Việt Nam, thực tiễn đã có áp dụng án lệ CISG được ghi nhận tại Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC). Tuy nhiên, án lệ này chỉ trích dẫn văn bản CISG mà không dẫn chiếu tới án lệ nào của CISG. Trong thực tế tham khảo ý kiến của Ban thư ký VIAC cho thấy sự khó khăn trong việc các án lệ CISG để xét xử các tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế là khi Việt Nam chưa gia nhập CISG, thì việc viện dẫn CISG (nếu không có sự thỏa thuận của các bên rằng CISG là luật áp dụng cho hợp đồng) thì sẽ tạo ra nguy cơ bị Tòa án xem xét hủy phán quyết trọng tài do trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam[8].

Trên thực tế thì hệ thống án lệ của CISG đã được Trung tâm Trọng tài thương mại của Việt Nam sử dụng trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Điển hình là án lệ về tranh chấp giữa một công ty Pháp (người mua) và một công ty Italia (người bán). Do hàng hóa người bán không giao phù hợp với hợp đồng, người mua hủy hợp đồng và đòi bồi thường thiệt hại. Hai bên xảy ra tranh chấp về số tiền bồi thường. Tòa Phúc thẩm tại thành phố Rennes (Pháp) đã áp dụng Điều 25, 35, 47, 49,75 và 77 CISG năm 1980 để giải quyết tranh chấp. Thực tiễn giải quyết tranh chấp phát sinh tại VIAC đã có cách giải quyết khá tương đồng với CISG. Cụ thể, tranh chấp giữa nguyên đơn Việt Nam (người mua) và bị đơn Hàn Quốc (người bán). Do hàng hóa người bán giao có khuyết tật, không phù hợp với hợp đồng, người mua đòi bồi thường thiệt hại. Hai bên không thỏa thuận được về số tiền bồi thường. Tranh chấp được giải quyết tại VIAC. Nhìn chung cả án lệ của CISG và tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng quốc tế được giải quyết tại VIAC đều là vi phạm cơ bản liên quan đến nội dung hợp đồng (phẩm chất hàng hóa). Người mua yêu cầu người bán khắc phục hậu quả của việc vi phạm hợp đồng và đòi bồi thường thiệt hại.

Khi tính toán các khoản bồi thường, án lệ của CISG và VIAC đều theo nguyên tắc các khoản thiệt hại phải được tính toán, chứng minh một cách hợp lý, khách quan. Các nguyên tắc về đòi bồi thường thiệt hại ghi nhận trong pháp luật Việt Nam (Luật Thương mại năm 2005) và CISG là khá tương thích.

Hiện nay, Việt Nam đã trở thành một thành viên của CISG thì xu hướng viện dẫn và áp dụng án lệ của CISG sẽ trở nên phổ biến tại các trung tâm trọng tài quốc tế ở Việt Nam. Ngay cả khi chưa có nhiều án lệ CISG liên quan đến Việt Nam thì các trọng tài viên cũng có quyền viện dẫn các án lệ CISG của Tòa án và Trọng tài nước ngoài.

Tuy nhiên, theo tác giả thì thực tiễn áp dụng án lệ của CISG trong quá trình giải quyết các tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế tại trọng tài thương mại cho thấy một số điểm bất cập:

Một là, nhận thức, thái độ và thói quen sử dụng án lệ của các trọng tài viên còn hạn chế. Trong quá trình áp dụng luật để giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế thì luật thực định (bộ luật, luật, văn bản quy phạm pháp luật khác…) vẫn được trọng tài viên ưu tiên sử dụng mà chưa “mặn mà” trong việc áp dụng án lệ và liên hệ với thực tiễn.

Hai là, trọng tài viên gặp rất nhiều khó khăn tìm kiếm và phân tích các án lệ của CISG. Điều này dễ hiểu, với trọng tài viên thì việc tìm hiểu, sử dụng án lệ không hề dễ dàng, yêu cầu nhiều thời gian với những đòi hỏi khó về chuyên môn và kỹ năng. Để sử dụng hiệu quả án lệ, các trọng tài viên cần tìm được câu trả lời cho những câu hỏi lớn như: (i) Tại sao phải sử dụng án lệ; (ii) Tìm án lệ ở đâu; (iii) Sử dụng án lệ gì; (iv) Sử dụng như thế nào? Tuy nhiên, trên thực tế, các trọng tài viên thường “loay hoay” trong việc tìm kiếm câu trả lời một cách hiệu quả.

3. Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng án lệ của CISG tại các trung tâm trọng tài ở Việt Nam

Theo khuyến nghị của Ủy ban Liên Hợp Quốc về luật thương mại quốc tế (UNCITRAL), các cơ quan áp dụng pháp luật tại các quốc gia thành viên cần có một hệ thống báo cáo án lệ về Công ước Viên. Hệ thống này sẽ tập hợp và báo cáo các án lệ có liên quan đến Công ước này cho Ban thư ký của UNCITRAL để cơ quan này đưa lên hệ thống cơ sở dữ liệu “CLOUT” (Case Law on UNCITRAL Texts[9]). Do đó, xây dựng và phát triển một danh sách các án lệ tiêu biểu (hay còn gọi là án lệ điển hình) về các vấn đề chính yếu của CISG là hết sức có ý nghĩa đối với hoạt động xét xử của trọng tài thương mại tại Việt Nam. Theo tác giả, việc xây dựng và phát triển các án lệ của CISG ở Việt Nam cần tuân thủ các nguyên tắc như sau:

Thứ nhất, nguyên tắc thiện chí (good faith)

Việc giải thích từng điều khoản CISG phải tuân thủ yêu cầu: “Khi giải thích Công ước này, cần chú trọng đến tính chất quốc tế của nó, đến sự cần thiết phải hỗ trợ cho việc áp dụng thống nhất Công ước và tuân thủ trong thương mại quốc tế”[10]. Điều đó có nghĩa là, các bên tranh chấp hoặc cơ quan giải quyết tranh chấp có quyền tự giải thích quy định của CISG, tuy nhiên cần lưu ý đến tính chất quốc tế và đảm bảo CISG được áp dụng một cách thống nhất.

Thứ hai, bổ sung cho “khoảng trống” pháp lý của CISG (gap filling)

CISG không quy định chi tiết mọi vấn đề liên quan đến hợp đồng thương mại quốc tế. Vì vậy, những vấn đề này cần được giải thích theo quy định tại Điều 7.2 CISG như sau: Các vấn đề liên quan đến đối tượng điều chỉnh của Công ước này mà không quy định cụ thể trong Công ước, thì sẽ được giải quyết theo các nguyên tắc chung mà từ đó Công ước được hình thành, hoặc nếu không có các nguyên tắc này, thì căn cứ theo luật áp dụng được lựa chọn theo quy tắc của tư pháp quốc tế.

Thứ ba, căn cứ vào tập quán thương mại quốc tế (usage and practices)

Điều 9.1 CISG quy định: “Các bên bị ràng buộc bởi tập quán mà họ đã thỏa thuận và bởi các thực tiễn giao dịch đã được họ tự thiết lập”. Do đó, việc giải thích để áp dụng CISG cũng cần căn cứ vào tập quán thương mại quốc tế. Tuy nhiên, CISG yêu cầu các tập quán được sử dụng phải có tính chất phổ biến trong thương mại quốc tế và được các bên áp dụng một cách thường xuyên đối với hợp đồng cùng chủng loại trong lĩnh vực buôn bán liên quan để điều chỉnh hợp đồng của mình hoặc điều chỉnh việc ký kết hợp đồng đó[11]. Thực tế, các tập quán thương mại quốc tế như INCOTERMS và UCP thường được các trọng tài lựa chọn áp dụng.

Bên cạnh đó, để nâng cao hiệu quả sử dụng án lệ của CISG trong việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng thương mại, đòi hỏi các trọng tài viên cần tích cực nâng cao trình độ chuyên môn thông qua khóa tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn từ các trung tâm trọng tài, Câu lạc bộ Luật sư thương mại quốc tế (VBLV), Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)… từ đó, hình thành thói quen và kỹ năng để nghiên cứu và vận dụng án lệ CISG trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế. Để nghiên cứu và áp dụng án lệ của CISG, các trọng tài viên có thể tiếp cận nguồn tài liệu về án lệ của CISG từ các trang thông tin điện tử của UNCITRAL hoặc Đại học Pace, Hoa Kỳ - Pace University... Các án lệ được giới thiệu ở những mức độ chi tiết khác nhau và có thể tra cứu theo nhiều cách như theo điều khoản của CISG, theo tên vụ tranh chấp, theo quốc gia[12].

ThS. Trịnh Tuấn Anh
Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng, Hòa giải viên Trung tâm Trọng tài thương mại phía Nam (STAC)
ThS. Nguyễn Thị Hoài Thương
Trường Đại học Sư Phạm, Đại học Đà Nẵng
ThS. Lê Thị Thoa
Viện kiểm sát nhân dân tối cao


[1] Nguyễn Thị Mai (2014), “Công ước Viên năm 1980 (CISG) về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế”, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.

[2]Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), “Án lệ của CISG trong thực tiễn trọng tài thương mại quốc tế”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học.

[3] Xem: Án lệ số 74/VPPT ngày 04/5/1996 truy cập ngày truy cập ngày 22/12/2020.

[4]Nông Quốc Bình (2011), Sự mềm dẻo trong một số điều khoản của Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Tạp chí Luật học, Số 4/2011, tr. 18 - 23.

[5] Nông Quốc Bình (2011), Phạm vi áp dụng và không áp dụng của Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Tạp chí Luật học, Số 10/2011, tr. 3 - 8.

[6] Bành Quốc Tuấn (2017), “Giáo trình tư pháp quốc tế”, Nxb. Chính trị Quốc gia sự thật.

[7] Tưởng Duy Lượng (2016), Bình luận Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Trọng tài thương mại và thực tiễn xét xử, Nxb. Tư pháp.

[8] Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh & VIAC (2015), Hủy phán quyết trọng tài”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học.

[9] James P. Quinn (2005),The Interpretation and Application of the United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods, Int‟l Trade & Bus. L. Rev. 221, 224.

[10] Điều 7.1 CISG 1980.

[11] Điều 9.2 CISG.

[12]Ngô Nguyễn Thảo Vy, Nguyễn Hoàng Thái Hy (2020), “Đọc hiểu CISG qua thực tiễn giải quyết các tranh chấp tiêu biểu”, Nxb. Đại học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.

Theo dõi chúng tôi trên: