Chủ nhật 08/02/2026 07:10
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Áp dụng án lệ của CISG để giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế tại các trung tâm trọng tài thương mại ở Việt Nam

Ngày 18/12/2015, Việt Nam đã chính thức gia nhập Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước Viên năm 1980 - CISG). Ngày 01/01/2017, Công ước Viên năm 1980 đã bắt đầu có hiệu lực áp dụng chính thức tại Việt Nam. Công ước Viên đã thống nhất hóa và khắc phục được nhiều mâu thuẫn giữa các hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới, đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các xung đột pháp luật trong thương mại quốc tế và thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển

1. Cơ sở để áp dụng án lệ của CISG trong giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế

Bên cạnh áp dụng án lệ do Tòa án nhân dân tối cao ban hành thì trung tâm trọng tài thương mại có thể áp dụng án lệ của CISG để giải quyết các hợp đồng thương mại quốc tế. Theo thống kê của PACE thì số lượng án lệ của CISG là khoảng 3000[2]. Trong số các án lệ có liên quan đến CISG có rất nhiều phán quyết của trọng tài quốc tế. Các vụ kiện của CISG được báo cáo trên hai nguồn chính sau: www.uncitral.org (website chính thức của Ủy ban Luật Thương mại quốc tế của Liên Hợp Quốc) và www.cisg.law.pace.edu (website chuyên về CISG - là hệ thống cơ sở dữ liệu của Đại học Pace, Hoa Kỳ - Pace University). Trong số các án lệ của CISG, đã có một án lệ liên quan đến Việt Nam về tranh chấp giữa Công ty thương mại Tây Ninh - Tanico (Việt Nam) và Công ty NG Nam Bee (Singapore), được xét xử tại tòa phúc thẩm - Tòa án nhân dân tối cao TP. Hồ Chí Minh, bản án tuyên ngày 04/5/1996, trong đó, Tòa án Việt Nam đã tham chiếu các Điều 29, Điều 53, Điều 61.3 và 64.1 của CISG[3].

Tuy nhiên, án lệ của CISG chỉ được áp dụng để giải quyết các tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế mà một trong các bên tranh chấp là Việt Nam còn đối với các tranh chấp hợp đồng thương mại tại Việt Nam thì chưa có một quy chế pháp lý nào cho phép áp dụng án lệ của CISG.

Có thể coi CISG và Luật Thương mại Việt Nam là hai nguồn luật độc lập cùng điều chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế. Theo đó, CISG điều chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế; Luật Thương mại Việt Nam điều chỉnh cả hợp đồng thương mại quốc tế và trong nước. Nếu Tòa án hoặc Trọng tài thương mại được áp dụng CISG thì mặc nhiên các án lệ của CISG cũng có giá trị áp dụng để giải quyết các hợp đồng thương mại quốc tế mà Việt Nam là một trong các bên tranh chấp.

Theo khoản 1 Điều 1 của CISG: “Công ước này áp dụng cho các hợp đồng thương mại quốc tế giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau:

a. Khi các quốc gia này là các quốc gia thành viên của Công ước; hoặc

b. Khi theo các quy phạm tư pháp quốc tế thì luật áp dụng là luật của một quốc gia thành viên của Công ước”.

Theo đó, có hai trường hợp CISG được áp dụng:

- Trường hợp 1: Khi các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia là thành viên của CISG (Điều 1.1.a CISG).

Kể từ thời điểm CISG có hiệu lực áp dụng tại Việt Nam, các hợp đồng thương mại quốc tế được giao kết bởi doanh nghiệp Việt Nam sẽ được điều chỉnh bởi CISG trong trường hợp bên còn lại có trụ sở thương mại tại quốc gia là thành viên của CISG. Tuy nhiên, CISG tôn trọng quyền tự do lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng của các bên[4]. Theo Điều 6 CISG, các bên có thể loại trừ việc áp dụng Công ước. Do vậy, các bên có thể loại trừ việc áp dụng CISG nếu như trong hợp đồng bổ sung một điều khoản chọn luật. Ví dụ, các bên có thể thỏa thuận rõ “CISG năm 1980 không được áp dụng để điều chỉnh hợp đồng này”.

- Trường hợp 2: Khi theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật của nước thành viên CISG (Điều 1.1.b CISG).

Trường hợp này, chỉ cần một trong các bên có trụ sở thương mại tại một nước là thành viên của Công ước hoặc không cần bên nào có trụ sở thương mại tại quốc gia thành viên Công ước, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận chọn luật, miễn là các quy định của tư pháp quốc tế dẫn chiếu đến luật của một quốc gia thành viên Công nước. Như vậy, việc có áp dụng Công ước Viên hay không phụ thuộc hoàn toàn vào nguyên tắc của tư pháp quốc tế. Cụ thể, các quy phạm xung đột sẽ được sử dụng để xác định pháp luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng giữa các bên. Nếu quy phạm xung đột dẫn chiếu đến hệ thống pháp luật nào thì hệ thống pháp luật đó sẽ được áp dụng. Khi quy phạm xung đột dẫn chiếu đến pháp luật của quốc gia thành viên Công ước Viên 1980 thì toàn bộ quy định của Công ước này sẽ được áp dụng để điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể[5].

Ngoài ra, còn có hai trường hợp CISG được áp dụng:

- Khi các bên lựa chọn CISG là luật áp dụng cho hợp đồng. Dựa trên nguyên tắc tự do lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng thương mại quốc tế[6], nếu đối tác của doanh nghiệp Việt Nam có trụ sở tại một quốc gia chưa phải là thành viên CISG, các bên trong hợp đồng được phép lựa chọn CISG là luật áp dụng cho hợp đồng.

- Khi cơ quan giải quyết tranh chấp (Tòa án, Trọng tài thương mại) lựa chọn CISG là luật áp dụng cho hợp đồng. Cơ quan giải quyết tranh chấp có thể là Tòa án Việt Nam, Tòa án nước ngoài hoặc trọng tài thương mại Việt Nam, trọng tài nước ngoài. Thẩm phán hay trọng tài viên có thể lựa chọn CISG làm luật áp dụng cho hợp đồng thương mại quốc tế khi các bên không lựa chọn luật điều chỉnh hợp đồng.

Như vậy, đối với các tranh chấp hợp đồng thương mại ở Việt Nam (không có yếu tố nước ngoài) thì đương nhiên không thể áp dụng các án lệ của CISG cũng không thể được áp dụng để giải quyết các tranh chấp hợp đồng thương mại mà chỉ có thể sử dụng các án lệ của CISG để giải quyết các tranh chấp về hợp đồng thương mại quốc tế mà Việt Nam là một trong các bên tranh chấp.

2. Thực tiễn áp dụng án lệ CISG để giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại các trung tâm trọng tài thương mại ở Việt Nam

Để có thể được giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài, các bên phải có thỏa thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài chính là ý chí của hai bên trong việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp, nó phải được tồn tại dưới những hình thức nhất định và có thể được hình thành trong những giai đoạn khác nhau của hợp đồng[7]. Dù thỏa thuận trọng tài được xác lập trước hoặc sau khi có tranh chấp đều có giá trị pháp lý như nhau. Nó có thể tồn tại dưới hình thức một, một số điều khoản trong hợp đồng hoặc các bên có thể lập một văn bản riêng, trong đó chỉ có nội dung là thỏa thuận trọng tài. Theo quy định của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 thì thỏa thuận trọng tài phải được xác lập bằng văn bản.

Thủ tục tố tụng trọng tài do các bên thỏa thuận hoặc áp dụng theo quy tắc tố tụng của trung tâm trọng tài. Nguồn luật áp dụng đối với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại được quy định như sau: (i) Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, áp dụng luật Việt Nam để giải quyết tranh chấp; (ii) Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, áp dụng luật do các bên lựa chọn; nếu không có thỏa thuận về luật áp dụng thì Hội đồng trọng tài quyết định áp dụng luật mà Hội đồng trọng tài cho là phù hợp nhất. Trường hợp luật Việt Nam, luật do các bên lựa chọn không có quy định cụ thể liên quan đến nội dung tranh chấp thì Hội đồng trọng tài được áp dụng tập quán quốc tế để giải quyết tranh chấp nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Tại Việt Nam, thực tiễn đã có áp dụng án lệ CISG được ghi nhận tại Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC). Tuy nhiên, án lệ này chỉ trích dẫn văn bản CISG mà không dẫn chiếu tới án lệ nào của CISG. Trong thực tế tham khảo ý kiến của Ban thư ký VIAC cho thấy sự khó khăn trong việc các án lệ CISG để xét xử các tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế là khi Việt Nam chưa gia nhập CISG, thì việc viện dẫn CISG (nếu không có sự thỏa thuận của các bên rằng CISG là luật áp dụng cho hợp đồng) thì sẽ tạo ra nguy cơ bị Tòa án xem xét hủy phán quyết trọng tài do trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam[8].

Trên thực tế thì hệ thống án lệ của CISG đã được Trung tâm Trọng tài thương mại của Việt Nam sử dụng trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Điển hình là án lệ về tranh chấp giữa một công ty Pháp (người mua) và một công ty Italia (người bán). Do hàng hóa người bán không giao phù hợp với hợp đồng, người mua hủy hợp đồng và đòi bồi thường thiệt hại. Hai bên xảy ra tranh chấp về số tiền bồi thường. Tòa Phúc thẩm tại thành phố Rennes (Pháp) đã áp dụng Điều 25, 35, 47, 49,75 và 77 CISG năm 1980 để giải quyết tranh chấp. Thực tiễn giải quyết tranh chấp phát sinh tại VIAC đã có cách giải quyết khá tương đồng với CISG. Cụ thể, tranh chấp giữa nguyên đơn Việt Nam (người mua) và bị đơn Hàn Quốc (người bán). Do hàng hóa người bán giao có khuyết tật, không phù hợp với hợp đồng, người mua đòi bồi thường thiệt hại. Hai bên không thỏa thuận được về số tiền bồi thường. Tranh chấp được giải quyết tại VIAC. Nhìn chung cả án lệ của CISG và tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng quốc tế được giải quyết tại VIAC đều là vi phạm cơ bản liên quan đến nội dung hợp đồng (phẩm chất hàng hóa). Người mua yêu cầu người bán khắc phục hậu quả của việc vi phạm hợp đồng và đòi bồi thường thiệt hại.

Khi tính toán các khoản bồi thường, án lệ của CISG và VIAC đều theo nguyên tắc các khoản thiệt hại phải được tính toán, chứng minh một cách hợp lý, khách quan. Các nguyên tắc về đòi bồi thường thiệt hại ghi nhận trong pháp luật Việt Nam (Luật Thương mại năm 2005) và CISG là khá tương thích.

Hiện nay, Việt Nam đã trở thành một thành viên của CISG thì xu hướng viện dẫn và áp dụng án lệ của CISG sẽ trở nên phổ biến tại các trung tâm trọng tài quốc tế ở Việt Nam. Ngay cả khi chưa có nhiều án lệ CISG liên quan đến Việt Nam thì các trọng tài viên cũng có quyền viện dẫn các án lệ CISG của Tòa án và Trọng tài nước ngoài.

Tuy nhiên, theo tác giả thì thực tiễn áp dụng án lệ của CISG trong quá trình giải quyết các tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế tại trọng tài thương mại cho thấy một số điểm bất cập:

Một là, nhận thức, thái độ và thói quen sử dụng án lệ của các trọng tài viên còn hạn chế. Trong quá trình áp dụng luật để giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế thì luật thực định (bộ luật, luật, văn bản quy phạm pháp luật khác…) vẫn được trọng tài viên ưu tiên sử dụng mà chưa “mặn mà” trong việc áp dụng án lệ và liên hệ với thực tiễn.

Hai là, trọng tài viên gặp rất nhiều khó khăn tìm kiếm và phân tích các án lệ của CISG. Điều này dễ hiểu, với trọng tài viên thì việc tìm hiểu, sử dụng án lệ không hề dễ dàng, yêu cầu nhiều thời gian với những đòi hỏi khó về chuyên môn và kỹ năng. Để sử dụng hiệu quả án lệ, các trọng tài viên cần tìm được câu trả lời cho những câu hỏi lớn như: (i) Tại sao phải sử dụng án lệ; (ii) Tìm án lệ ở đâu; (iii) Sử dụng án lệ gì; (iv) Sử dụng như thế nào? Tuy nhiên, trên thực tế, các trọng tài viên thường “loay hoay” trong việc tìm kiếm câu trả lời một cách hiệu quả.

3. Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng án lệ của CISG tại các trung tâm trọng tài ở Việt Nam

Theo khuyến nghị của Ủy ban Liên Hợp Quốc về luật thương mại quốc tế (UNCITRAL), các cơ quan áp dụng pháp luật tại các quốc gia thành viên cần có một hệ thống báo cáo án lệ về Công ước Viên. Hệ thống này sẽ tập hợp và báo cáo các án lệ có liên quan đến Công ước này cho Ban thư ký của UNCITRAL để cơ quan này đưa lên hệ thống cơ sở dữ liệu “CLOUT” (Case Law on UNCITRAL Texts[9]). Do đó, xây dựng và phát triển một danh sách các án lệ tiêu biểu (hay còn gọi là án lệ điển hình) về các vấn đề chính yếu của CISG là hết sức có ý nghĩa đối với hoạt động xét xử của trọng tài thương mại tại Việt Nam. Theo tác giả, việc xây dựng và phát triển các án lệ của CISG ở Việt Nam cần tuân thủ các nguyên tắc như sau:

Thứ nhất, nguyên tắc thiện chí (good faith)

Việc giải thích từng điều khoản CISG phải tuân thủ yêu cầu: “Khi giải thích Công ước này, cần chú trọng đến tính chất quốc tế của nó, đến sự cần thiết phải hỗ trợ cho việc áp dụng thống nhất Công ước và tuân thủ trong thương mại quốc tế”[10]. Điều đó có nghĩa là, các bên tranh chấp hoặc cơ quan giải quyết tranh chấp có quyền tự giải thích quy định của CISG, tuy nhiên cần lưu ý đến tính chất quốc tế và đảm bảo CISG được áp dụng một cách thống nhất.

Thứ hai, bổ sung cho “khoảng trống” pháp lý của CISG (gap filling)

CISG không quy định chi tiết mọi vấn đề liên quan đến hợp đồng thương mại quốc tế. Vì vậy, những vấn đề này cần được giải thích theo quy định tại Điều 7.2 CISG như sau: Các vấn đề liên quan đến đối tượng điều chỉnh của Công ước này mà không quy định cụ thể trong Công ước, thì sẽ được giải quyết theo các nguyên tắc chung mà từ đó Công ước được hình thành, hoặc nếu không có các nguyên tắc này, thì căn cứ theo luật áp dụng được lựa chọn theo quy tắc của tư pháp quốc tế.

Thứ ba, căn cứ vào tập quán thương mại quốc tế (usage and practices)

Điều 9.1 CISG quy định: “Các bên bị ràng buộc bởi tập quán mà họ đã thỏa thuận và bởi các thực tiễn giao dịch đã được họ tự thiết lập”. Do đó, việc giải thích để áp dụng CISG cũng cần căn cứ vào tập quán thương mại quốc tế. Tuy nhiên, CISG yêu cầu các tập quán được sử dụng phải có tính chất phổ biến trong thương mại quốc tế và được các bên áp dụng một cách thường xuyên đối với hợp đồng cùng chủng loại trong lĩnh vực buôn bán liên quan để điều chỉnh hợp đồng của mình hoặc điều chỉnh việc ký kết hợp đồng đó[11]. Thực tế, các tập quán thương mại quốc tế như INCOTERMS và UCP thường được các trọng tài lựa chọn áp dụng.

Bên cạnh đó, để nâng cao hiệu quả sử dụng án lệ của CISG trong việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng thương mại, đòi hỏi các trọng tài viên cần tích cực nâng cao trình độ chuyên môn thông qua khóa tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn từ các trung tâm trọng tài, Câu lạc bộ Luật sư thương mại quốc tế (VBLV), Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)… từ đó, hình thành thói quen và kỹ năng để nghiên cứu và vận dụng án lệ CISG trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế. Để nghiên cứu và áp dụng án lệ của CISG, các trọng tài viên có thể tiếp cận nguồn tài liệu về án lệ của CISG từ các trang thông tin điện tử của UNCITRAL hoặc Đại học Pace, Hoa Kỳ - Pace University... Các án lệ được giới thiệu ở những mức độ chi tiết khác nhau và có thể tra cứu theo nhiều cách như theo điều khoản của CISG, theo tên vụ tranh chấp, theo quốc gia[12].

ThS. Trịnh Tuấn Anh
Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng, Hòa giải viên Trung tâm Trọng tài thương mại phía Nam (STAC)
ThS. Nguyễn Thị Hoài Thương
Trường Đại học Sư Phạm, Đại học Đà Nẵng
ThS. Lê Thị Thoa
Viện kiểm sát nhân dân tối cao


[1] Nguyễn Thị Mai (2014), “Công ước Viên năm 1980 (CISG) về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế”, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.

[2]Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), “Án lệ của CISG trong thực tiễn trọng tài thương mại quốc tế”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học.

[3] Xem: Án lệ số 74/VPPT ngày 04/5/1996 truy cập ngày truy cập ngày 22/12/2020.

[4]Nông Quốc Bình (2011), Sự mềm dẻo trong một số điều khoản của Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Tạp chí Luật học, Số 4/2011, tr. 18 - 23.

[5] Nông Quốc Bình (2011), Phạm vi áp dụng và không áp dụng của Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Tạp chí Luật học, Số 10/2011, tr. 3 - 8.

[6] Bành Quốc Tuấn (2017), “Giáo trình tư pháp quốc tế”, Nxb. Chính trị Quốc gia sự thật.

[7] Tưởng Duy Lượng (2016), Bình luận Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Trọng tài thương mại và thực tiễn xét xử, Nxb. Tư pháp.

[8] Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh & VIAC (2015), Hủy phán quyết trọng tài”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học.

[9] James P. Quinn (2005),The Interpretation and Application of the United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods, Int‟l Trade & Bus. L. Rev. 221, 224.

[10] Điều 7.1 CISG 1980.

[11] Điều 9.2 CISG.

[12]Ngô Nguyễn Thảo Vy, Nguyễn Hoàng Thái Hy (2020), “Đọc hiểu CISG qua thực tiễn giải quyết các tranh chấp tiêu biểu”, Nxb. Đại học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: