Thứ ba 22/09/2026 13:22
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Áp dụng hình phạt bổ sung “quản chế” - Hạn chế, bất cập và đề xuất hoàn thiện pháp luật

Bài viết tập trung phân tích các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về hình phạt bổ sung quản chế, chỉ ra những điểm bất cập, hạn chế và đề xuất hoàn thiện pháp luật.

1. Cơ sở pháp lý về hình phạt quản chế

Quản chế được quy định lần đầu tiên trong Sắc lệnh số 175/SL ngày 18/8/1953 của Chủ tịch nước quy định việc quản chế, với tư cách vừa là biện pháp cưỡng chế hành chính thuộc thẩm quyền của Ủy ban Hành chính, vừa là một hình phạt chính thuộc thẩm quyền của Tòa án. Sau đó, quản chế được quy định là hình phạt phụ trong một số văn bản pháp luật. Đến khi có Bộ luật Hình sự năm 1985, Bộ luật Hình sự năm 1999 và Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) thì quản chế chỉ được quy định với vai trò là hình phạt bổ sung.

Theo Điều 43 Bộ luật Hình sự năm 2015, quản chế là buộc người bị kết án phạt tù phải cư trú, làm ăn sinh sống và cải tạo ở một địa phương nhất định dưới sự kiểm soát, giáo dục của chính quyền và nhân dân địa phương.

Trong thời gian quản chế, người bị kết án không được tự ý ra khỏi nơi cư trú, bị tước một số quyền công dân theo quy định tại Điều 44 Bộ luật Hình sự năm 2015 và bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Theo đó, hình phạt quản chế có 04 tác động bất lợi đến người bị kết án: (i) Chỉ được cư trú tại một nơi (hạn chế quyền tự do cư trú); (ii) Việc ra khỏi nơi cư trú phải xin phép (hạn chế quyền tự do đi lại); (iii) Một số quyền công dân bị tước (hạn chế quyền công dân); (iv) Bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định (hạn chế quyền làm việc). Trong 04 tác động này, so với hình phạt cấm cư trú, hình phạt quản chế có nội dung trừng trị nghiêm khắc hơn, bởi lẽ, hình phạt này đã hạn chế quyền tự do cư trú của người bị kết án ở mức cao hơn. Người bị kết án quản chế chỉ được cư trú ở một địa phương nhất định, thông thường, nơi quản chế là nơi sinh quán hoặc cư trú của người bị kết án nhưng cũng có thể là một nơi khác thích hợp. Họ còn bị tước một số quyền công dân như: Quyền ứng cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước; quyền làm việc trong các cơ quan nhà nước và quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân. Người bị kết án cũng bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Việc tước một số quyền công dân, cũng như cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định là bắt buộc áp dụng với người bị áp dụng hình phạt quản chế. Tòa án cần phải tuyên rõ ràng trong bản án kết tội, những quyền công dân nào bị tước bỏ, những nghề nghiệp hoặc công việc cụ thể nào người bị kết án bị cấm làm.

Về phạm vi và điều kiện áp dụng hình phạt quản chế, Điều 43 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định hình phạt này được áp dụng đối với một trong ba trường hợp sau: (i) Người bị kết án phạt tù về một trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia được quy định tại Chương XIII Bộ luật này; (ii) Người bị kết án phạt tù trong trường hợp tái phạm nguy hiểm; (iii) Người bị kết án tù trong những trường hợp khác do Bộ luật này quy định.

Như vậy, bên cạnh các tội quy định tại Chương XIII bị áp dụng hình phạt quản chế, các tội khác do Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định còn có thể bị áp dụng hình phạt quản chế như: Tội giết người (Điều 123); tội mua bán người (Điều 150); tội mua bán người dưới 16 tuổi (Điều 151); tội cướp tài sản (Điều 168); tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169); tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255); tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy (Điều 282); tội khủng bố (Điều 299); tội tài trợ khủng bố (Điều 300); tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 303); tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 304); tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ (Điều 305); tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ (Điều 306); tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, phát tán, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất phóng xạ, vật liệu hạt nhân (Điều 309); tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc (Điều 311); tội chứa mại dâm (Điều 327).

Hình phạt quản chế chỉ được áp dụng kèm theo hình phạt tù, mà không áp dụng kèm theo hình phạt chính khác như đối với hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất. Ngay sau khi phạm nhân bị áp dụng hình phạt bổ sung là quản chế chấp hành xong án phạt tù, trại giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện... phải gửi giấy chứng nhận đã chấp hành xong án phạt tù, bản sao bản án, bản sao quyết định thi hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án về cư trú. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được các văn bản này, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người đó về cư trú có trách nhiệm lập hồ sơ thi hành án để bàn giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án về cư trú. Thời hạn quản chế là từ 01 năm đến 05 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù. Người chấp hành án phạt quản chế có quyền và nghĩa vụ theo Điều 114 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

2. Một số hạn chế, bất cập trong quá trình áp dụng hình phạt bổ sung quản chế

Thứ nhất, chỉ có thể áp dụng hình phạt bổ sung quản chế đối với người bị kết án phạt tù có thời hạn. Người bị phạt quản chế còn bị tước một hoặc một số quyền công dân (quyền ứng cử, bầu cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước, quyền làm việc trong các cơ quan nhà nước, quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân), bị cấm làm một số nghề hoặc công việc nhất định theo quy định tại Điều 44 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đây là những nghề hoặc công việc mà nếu để người bị kết án làm thì sẽ ảnh hưởng đến quá trình cải tạo, giáo dục, ảnh hưởng đến việc kiểm tra, kiểm soát của chính quyền địa phương, đặc biệt là ngăn ngừa họ phạm tội mới. Vì vậy, trong bản án cần xác định rõ người bị kết án phải cư trú, làm ăn, sinh sống và cải tạo ở địa phương cụ thể nào? Bị tước quyền nào trong số các quyền công dân và bị cấm hành nghề hoặc làm công việc cụ thể nào? Thời hạn quản chế là bao lâu? Thông thường, địa điểm để người bị quản chế chấp hành hình phạt là nơi sinh quán hoặc trú quán của người bị kết án nhưng cũng có thể là một nơi khác. Trong quá trình làm ăn, sinh sống tại địa phương, người bị quản chế chịu sự giám sát, quản lý chặt chẽ của chính quyền, nhân dân địa phương và khi đi khỏi nơi cư trú phải được chính quyền cho phép.

Thứ hai, đối với người bị áp dụng phạt tù chung thân, Tòa án không thể tuyên các loại hình phạt bổ sung kèm theo như quản chế, cấm cư trú… vì bản chất tù chung thân là tù suốt đời. Tuy nhiên, trên thực tế, hầu hết các trường hợp bị phạt tù chung thân đều được giảm án, tha tù trước thời hạn. Vì vậy, người bị phạt tù chung thân có thể không bị áp dụng hình phạt quản chế, trong khi người bị hình phạt tù nhẹ hơn, lại có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là quản chế tại địa phương. Ví dụ, A phạm tội cướp tài sản bị áp dụng khoản 3 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 với mức hình phạt tù 12 năm và bị phạt quản chế 02 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt tù. Trong khi đó, B cũng phạm tội cướp tài sản, bị áp dụng khoản 4 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 với hình phạt tù chung thân thì không bị tuyên hình phạt quản chế. Như vậy, người phạm tội nghiêm trọng hơn lại không bị tuyên hình phạt bổ sung. Đây là điều chưa hợp lý và chưa công bằng khi quyết định hình phạt với các loại tội phạm như nhau.

Thứ ba, về nguyên tắc, hình phạt bổ sung sẽ được tuyên kèm theo hình phạt chính (điển hình là hình phạt quản chế). Như vậy, đối với trường hợp miễn chấp hành hình phạt chính, thì hình phạt bổ sung đã tuyên kèm theo có cần phải tiếp tục chấp hành hay được miễn theo hình phạt chính. Ví dụ, một người phạm tội bị tuyên án tù có thời hạn 03 năm, kèm theo hình phạt bổ sung quản chế là 01 năm. Người phạm tội đã được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt chính theo quy định tại khoản 2 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015, vậy trong trường hợp này, hình phạt bổ sung sẽ không áp dụng. So với Bộ luật Hình sự năm 1999, quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về miễn chấp hành hình phạt đối với người bị kết án không giam giữ, tù có thời hạn mà chưa chấp hành án có những sửa đổi, bổ sung mang tính hướng thiện, tạo điều kiện cho người bị kết án tiếp tục sống hòa nhập, phát triển trong cộng đồng nhiều hơn. Đối với trường hợp người bị kết án cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm, khoản 2 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định điều kiện miễn chấp hành hình phạt toàn bộ theo hướng mở rộng hơn về điều kiện áp dụng so với quy định tại khoản 1 Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 1999. Tuy nhiên, nếu miễn chấp hành cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung thì yếu tố răn đe, giáo dục, cải tạo sẽ giảm tính hiệu quả.

3. Hoàn thiện pháp luật về hình phạt bổ sung quản chế

Thứ nhất, cần quy định hình phạt bổ sung quản chế là hình phạt bổ sung bắt buộc đối với một số loại tội phạm.

- Cần quy định hình phạt quản chế là hình phạt bổ sung bắt buộc trong tội cướp tài sản và tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Hiện nay, tại khoản 6 Điều 168 (tội cướp tài sản) và khoản 6 Điều 169 Bộ luật Hình sự năm 2015 (tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản) đều quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tác giả cho rằng, sau khi bị phạt tù về tội cướp tài sản, bắt buộc đối tượng bị quản chế ở địa phương, tiếp tục làm ăn sinh sống lương thiện một thời gian nhất định là rất cần thiết. Bởi vì, với những năm cải tạo trong nhà tù, được ra tù về sinh sống ở địa phương và sự tác động của những người thân, họ hàng, bà con làng xóm có ý nghĩa nhất định đối với tâm lý của người phạm tội. Đặc biệt, khi áp dụng hình phạt quản chế, người phạm tội dưới sự giám sát quản lý của địa phương từ 01 - 05 năm, có tác động lớn đến người phạm tội về mặt tâm lý, cũng như ý thức chấp hành pháp luật. Do đó, hiệu quả cải tạo, giáo dục người phạm tội sẽ đạt hiệu quả cao. Vì vậy, nên bỏ cụm từ “có thể” quy định tại khoản 6 Điều 168 và khoản 6 Điều 169 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Bộ luật Hình sự năm 2015 cần quy định hình phạt quản chế là hình phạt bổ sung bắt buộc đối với các tội xâm phạm sở hữu quy định tại Điều 170 (tội cưỡng đoạt tài sản), Điều 171 (tội cướp giật tài sản), Điều 173 (tội trộm cắp tài sản), Điều 174 (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản)… với thời gian quản chế từ 01 - 05 năm.

Từ nghiên cứu thực tiễn cho thấy, số lượng bị cáo phạm các tội xâm phạm sở hữu như trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cướp giật tài sản… chiếm tỷ lệ rất lớn so với các nhóm tội phạm khác. Hơn nữa, hầu hết người phạm tội di chuyển đến các địa phương khác để tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản, lừa đảo... bởi vì, địa phương xa lạ, chính quyền không quản lý được, dễ trốn tránh, mọi người không biết họ là ai, khó khăn cho việc điều tra, phát hiện. Những điều kiện đó thuận lợi trước hết về mặt tâm lý cho người phạm tội tiếp tục tái phạm.

Nếu sau khi phạm tội trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản… ra tù, không buộc người bị kết án ở tại địa phương thì dễ tạo tâm lý, nơi ở mới mọi người không biết mình là ai và dễ có điều kiện lại tiếp tục con đường phạm tội trộm cắp hay lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do vậy, để củng cố kết quả tác động, cải tạo giáo dục của các loại hình phạt chính, theo tác giả, Bộ luật Hình sự năm 2015 nên quy định hình phạt quản chế tại địa phương là hình phạt bổ sung bắt buộc đối với người phạm tội. Buộc người này tiếp tục chịu sự giám sát của chính quyền địa phương, phải báo cáo định kỳ hàng năm theo Luật Thi hành án hình sự năm 2019 nhằm xóa bỏ triệt để ý thức ngại lao động, chỉ nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác. Ví dụ, khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (tội trộm cắp tài sản) có thể quy định bổ sung hình phạt quản chế với ý nghĩa là hình phạt bổ sung bắt buộc, cụ thể như sau: “Người phạm tội bị phạt quản chế từ 01 năm đến 05 năm hoặc có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Ngoài ra, hình phạt quản chế là hình phạt bổ sung cần áp dụng với nhiều loại tội phạm khác như tổ chức đánh bạc, tội đánh bạc… theo tác giả là rất cần thiết trong phòng ngừa tái phạm.

Thứ hai, cần bổ sung quy định về hình phạt quản chế là hình phạt bổ sung đối với người bị phạt tù chung thân mà được giảm án, tha tù trước thời hạn.

Thực tiễn cho thấy, những người bị phạt tù chung thân thường được áp dụng phổ biến với các tội giết người, cướp tài sản, hiếp dâm người dưới 16 tuổi, các tội phạm làm hàng giả là lương thực, thực phẩm, các tội mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy, các tội xâm phạm an ninh quốc gia… Đây là những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, tuy nhiên, việc giảm án tù chung thân, tha tù trước thời hạn, đặc xá vẫn được áp dụng. Để phòng ngừa việc tiếp tục phạm tội, đồng thời, bảo đảm nguyên tắc công bằng, theo tác giả, cần quy định hình phạt quản chế là hình phạt bổ sung bắt buộc khi người phạm tội bị phạt tù chung thân về bất kỳ loại tội phạm gì hoặc người đó bị phạt tử hình được giảm án xuống tù chung thân thì phải bị quản chế tại địa phương 02 năm và quy định cụ thể trong nội dung của hình phạt quản chế. Theo tác giả, có thể sửa đổi, bổ sung Điều 43 về quản chế như sau:

(1). (Như nội dung Điều 43 Bộ luật Hình sự năm 2015).

(2). Người bị phạt tù chung thân hoặc được giảm hình phạt từ tử hình xuống hình phạt tù chung thân, nếu được giảm án, tha tù trước thời hạn thì bị phạt quản chế từ 01 năm đến 02 năm kể từ ngày được tha tù về địa phương.

Nếu quy định như trên, khi tuyên án đối với người phạm tội có hình phạt tù chung thân thì Tòa án chỉ cần tuyên: Người phạm tội còn bị áp dụng khoản 2 Điều 43 Bộ luật Hình sự năm 2015 về hình phạt quản chế.

Như vậy, Tòa án tuyên án hình phạt tù chung thân kèm theo nội dung khoản 2 Điều 43 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ và bảo đảm tính hợp lý khi quyết định hình phạt.

Thứ ba, áp dụng các biện pháp răn đe, giáo dục, cải tạo khác trong trường hợp được miễn chấp hành hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Ví dụ, yêu cầu người phạm tội tham gia các hoạt động công ích xã hội, các buổi tư vấn, phổ biến pháp luật tại địa phương, nếu người phạm tội là thanh niên thì yêu cầu tham gia thêm các hoạt động phong trào của thanh niên địa phương./.

ThS. Lê Văn Hào

Trường Cao đẳng Luật miền Nam

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 407), tháng 6/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: