Thứ năm 20/08/2026 03:35
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm thực hiện quyền được thông tin của công dân nhằm góp phần phòng, chống tham nhũng

Quyền tiếp cận thông tin là một quyền dân sự, chính trị quan trọng của công dân, có vai trò, ý nghĩa quan trọng. Quyền tiếp cận thông tin góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch trong tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước, qua đó góp phần phòng, chống tham nhũng. Bảo đảm thực hiện quyền được thông tin tạo cơ sở cho việc giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, trách nhiệm của cán bộ, công chức trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Bên cạnh đó, bảo đảm thực hiện quyền được thông tin góp phần thực hiện đầy đủ các quyền dân sự, chính trị khác của công dân.

Để bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của người dân, mỗi quốc gia tùy thuộc vào thể chế và các khuôn khổ chính sách của mình, đưa ra các bảo đảm khác nhau. Tuy nhiên, về cơ bản, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân được thực hiện ở một số nội dung sau:

Thứ nhất, bảo đảm về mặt chính trị, pháp lý

Đây là những yếu tố quan trọng, là tiền đề cho việc quy định và thực hiện quyền được thông tin của người dân trên thực tiễn. Quyền được thông tin là một quyền dân sự - chính trị của người dân, được ghi nhận trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế và quốc gia. Để có cơ sở cho việc quy định trong Hiến pháp và các đạo luật, trước hết cần nhận thức đúng đắn về vai trò, ý nghĩa của quyền này, từ phía các chủ thể của quyền lực chính trị. Và hiện nay, với xu thế dân chủ hóa đời sống xã hội, quyền được thông tin của người dân là một cấu thành quan trọng của quyền tự do thông tin, cùng với quyền tự do báo chí, tự do lập hội, tự do ngôn luận,… đã tạo thành những giá trị quan trọng, không thể thiếu trong một xã hội phát triển. Ở nước ta, ngay từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Đảng ta đã nhận thức được vai trò quan trọng của quyền được thông tin của người dân trong đời sống chính trị - xã hội của đất nước. Trên cơ sở đó, đã có những ghi nhận và thực hiện các quy định về vấn đề này.

Trên cơ sở nhận thức về mặt chính trị, quyền được thông tin cần được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản luật. Đây chính là những cơ sở pháp lý nhằm bảo đảm cho quyền được thông tin của người dân. Việc xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ thể chế, chính sách về vấn đề này chính là việc triển khai thực hiện cơ bản việc quản lý nhà nước về quyền được thông tin của người dân. Bảo đảm pháp lý về vấn đề này được thể hiện ở một số nội dung cụ thể như:

(i) Quy định đầy đủ, chặt chẽ các quyền, nghĩa vụ của người dân và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức trong việc thực hiện quyền được thông tin của người dân thông qua việc công khai, minh bạch tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước và trách nhiệm giải trình. Với mỗi hình thức, cần quy định cụ thể về nội dung thông tin, hình thức công khai, trình tự, thủ tục thực hiện việc giải trình, quyền và nghĩa vụ của các bên có liên quan,… Trong một nhà nước pháp quyền, pháp luật là tối thượng, các quyền, nghĩa vụ của người dân và trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan nhà nước cần được xác lập một cách rõ ràng, minh bạch trong các văn bản pháp luật. Với xu hướng mở rộng dân chủ hiện nay, Nhà nước chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép và người dân được làm những gì mà pháp luật không cấm. Do đó, các quy định về quyền và nghĩa vụ của người dân cũng cần được quy định theo hướng mở như vậy. Các quy định về quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức cần được xác lập chặt chẽ, có các biện pháp giám sát trong quá trình quy định cũng như tổ chức thực hiện các quy định về vấn đề này, trong đó có sự giám sát của người dân, của xã hội.

(ii) Quy định các biện pháp xử lý các vi phạm về quyền được thông tin của công dân. Đây là một nội dung quan trọng trong bảo đảm pháp lý của quyền được thông tin của người dân. Các biện pháp xử lý tùy thuộc vào tính chất, nội dung của hành vi vi phạm mà có các chế tài tương ứng, có thể là xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính, hoặc cao hơn là xử lý hình sự. Bản thân các quy định về biện pháp xử lý có thể được quy định trong cùng một văn bản về quyền được thông tin của người dân hoặc có thể được quy định rải rác trong nhiều văn bản pháp lý điều chỉnh các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực khác nhau. Các biện pháp xử lý cũng có thể được quy định trong một văn bản pháp luật chuyên biệt, như luật về xử lý vi phạm hành chính, luật xử lý các hành vi phạm tội.

Trong quá trình quy định về các vấn đề này, ngoài các yêu cầu về chính trị, pháp lý trong nước còn có việc bảo đảm tuân thủ, phù hợp với các cam kết của quốc gia trong việc thực hiện các điều ước quốc tế mà quốc gia tham gia ký kết hoặc phê chuẩn. Hiện nay, có nhiều văn bản pháp lý quốc tế có chứa đựng những nội dung có liên quan đến quyền được thông tin của người dân như: Công ước Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng, Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966,…

Thứ hai, nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức trong việc thực hiện bảo vệ quyền con người, quyền công dân nói chung và quyền được thông tin nói riêng

Các bảo đảm về mặt pháp lý giúp hình thành hệ thống các nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức trong khi tổ chức thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên, một mặt khác cũng rất quan trọng, ảnh hưởng đến kết quả thực hiện các quy định pháp luật về vấn đề này, đó chính là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước mà cụ thể là cán bộ, công chức trong việc thực thi các quy định pháp luật về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Tăng tính trách nhiệm của các cơ quan này khi thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến bảo đảm quyền được thông tin của công dân được thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong đó có giáo dục, tuyên truyền nâng cao ý thức của các cán bộ, công chức. Bên cạnh đó, cần tăng cường các thiết chế kiểm tra, giám sát trong hệ thống và ngoài xã hội đối với việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của các cán bộ, công chức. Hiện nay, ở nhiều quốc gia đã quy định về trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước nhằm tăng tính trách nhiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, công vụ của các cơ quan nhà nước. Theo đó, bản thân các cơ quan này phải có trách nhiệm giải trình khi có yêu cầu đối với các vấn đề thuộc quyền quản lý nhà nước của mình. Việc giải trình bao gồm giải thích, làm rõ bản chất của sự việc và trách nhiệm của cơ quan, của cá nhân đối với sự việc xảy ra và hướng khắc phục. Ngoài các quy định và bảo đảm mang tính pháp lý, việc nâng cao tính trách nhiệm thông qua các quy tắc đạo đức nghề nghiệp, quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức cũng là một biện pháp quan trọng. Trong pháp luật về công chức, công vụ hay pháp luật về phòng, chống tham nhũng của một số quốc gia đã hình thành các chế định về vấn đề này. Và rõ ràng, tính trách nhiệm thuộc về phạm trù ý thức, đạo đức nhiều hơn. Do đó, vấn đề này cần được quan tâm và làm tốt, nhằm tăng tính trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các cán bộ, công chức trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được giao, trong đó có bảo đảm thực hiện quyền được thông tin của người dân.

Thứ ba, bảo đảm quyền khiếu nại, khiếu kiện khi có sự vi phạm quyền được thông tin của người dân

Quyền khiếu nại, tố cáo là một quyền tự do dân chủ quan trọng của người dân. Đây được coi là một quyền đặc biệt, quyền để bảo vệ quyền. Cũng giống như quyền được thông tin, quyền khiếu nại, tố cáo chỉ được thừa nhận và bảo đảm thực hiện trong một nhà nước dân chủ. Quyền khiếu nại, tố cáo là phương thức quan trọng để người dân bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình cũng như của người khác khi có cơ sở cho rằng có hành vi vi phạm pháp luật làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình cũng như của các chủ thể khác. Quyền khiếu nại, tố cáo cũng là phương thức để người dân tham gia vào quản lý nhà nước, thực hiện giám sát tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Khi có sự cho rằng, các cơ quan nhà nước hoặc các chủ thể khác có sự xâm phạm đến quyền và lợi ích của mình (khiếu nại) hoặc của người khác (tố cáo) thì người dân có thể sử dụng các quyền này để bảo vệ. Pháp luật của các quốc gia và trong các điều ước quốc tế ghi nhận quyền khiếu nại, tố cáo của người dân nhằm bảo vệ quyền được thông tin. Đây chính là những phương thức bảo vệ quyền được sử dụng nhiều nhất, trong đó bao gồm cả việc bảo vệ quyền được thông tin. Với các vi phạm chưa đến mức xử lý hình sự, thì việc sử dụng quyền khiếu nại, tố cáo giúp người dân bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp một cách nhanh nhất. Trong trường hợp có những vi phạm lớn hơn, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ, lúc đó, các cơ quan tư pháp sẽ thực hiện theo những thủ tục tố tụng tư pháp. Cũng như các quyền khác, quyền được thông tin của người dân cũng cần được bảo đảm thông qua quy định cho phép người dân thực hiện khiếu nại, tố cáo. Đây chính là một phương thức bảo đảm quan trọng, cần thiết nhằm bảo đảm thực hiện quyền được thông tin của người dân.

Việc bảo đảm thực hiện quyền được thông tin của người dân thông qua thủ tục khiếu nại, tố cáo được thực hiện tương tự như trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp khác. Các quy định về khiếu nại, tố cáo có thể được quy định trong văn bản pháp luật về quyền được thông tin của người dân hay trong một đạo luật riêng biệt về vấn đề này. Điều này tùy thuộc vào kỹ thuật lập pháp của mỗi quốc gia.

Thứ tư, bảo đảm xử lý các vi phạm quyền được thông tin của công dân

Việc quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ và các trình tự, thủ tục nhằm bảo đảm thực hiện quyền được thông tin của người dân. Bên cạnh đó, cần phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật các hành vi vi phạm nhằm bảo đảm cho việc tôn trọng và bảo vệ quyền được thông tin của người dân. Việc vi phạm quyền được thông tin của công dân thường bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính và bồi thường thiệt hại do tính chất, mức độ gây hậu quả của nó. Tuy nhiên, việc vi phạm này cũng có thể bị xử lý hình sự nếu xâm phạm vào các quan hệ pháp luật được luật hình sự bảo vệ. Bảo đảm thực hiện quyền được thông tin của người dân thông qua phương thức này được thể hiện ở một số nội dung sau: (i) Quy định cụ thể các hành vi vi phạm với tính chất, mức độ cụ thể tương ứng với các chế tài; (ii) Thực hiện việc phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm bằng các chế tài tương ứng với tính chất, mức độ vi phạm của hành vi; và (iii) Thực hiện việc thi hành các quyết định xử lý, trong đó bao gồm cả việc khôi phục các quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể bị xâm hại. Việc thực hiện xử lý các vi phạm quyền được thông tin của người dân được thực hiện bởi các chủ thể khác nhau tùy thuộc vào mức độ hành vi vi phạm. Với mỗi thủ tục có những nguyên tắc, trình tự, thủ tục riêng biệt (thủ tục hành chính, thủ tục tư pháp,…). Và để bảo đảm việc xử lý các vi phạm được đúng đắn, khách quan thì công khai, minh bạch và bảo đảm quyền được thông tin của công dân trong chính quá trình xử lý các vi phạm về vấn đề này cũng cần được đặt ra.

Hiện nay, theo xu hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền và mở rộng dân chủ, việc xử lý các hành vi vi phạm luôn được đòi hỏi thực hiện bằng thủ tục tư pháp bên cạnh thủ tục hành chính thông thường. Điều này tạo cơ hội cho việc xử lý các hành vi vi phạm một cách đúng đắn, khách quan bởi một thiết chế độc lập. Bảo đảm xử lý đúng đắn các vi phạm quyền được thông tin của người dân là một trong những bảo đảm quan trọng, giúp cho các chủ thể có liên quan khi thực hiện thực sự tôn trọng và thực hiện đúng đắn các quy định về vấn đề này.

Thứ năm, giám sát việc thực hiện quyền được thông tin

Giám sát là một phương diện hoạt động quan trọng trong quản lý của bất kỳ chủ thể nào. Giám sát nhằm theo dõi, xem xét và phát hiện những vi phạm của chủ thể bị giám sát trong việc tuân thủ, thực hiện đúng các quy định đề ra. Trong quản lý nhà nước, giám sát là một hoạt động của quản lý, giúp thủ trưởng cơ quan nắm được việc chấp hành của các cán bộ, công chức trong bộ máy hay giúp cơ quan cấp trên nắm bắt được các kết quả hoạt động của cơ quan cấp dưới, qua đó sẽ kịp thời phát hiện và chấn chỉnh các sai phạm nếu có.

Trong thực hiện pháp luật nói chung và trong việc bảo đảm thực hiện các quyền con người, quyền công dân nói riêng, giám sát là một nội dung quan trọng, cần thiết. Việc giám sát giúp cho việc tổ chức thực hiện quyền được đúng đắn, tránh việc xâm phạm tới các quyền cơ bản của công dân. Thông thường, hoạt động giám sát được thực hiện bởi hai phương thức, giám sát mang tính quyền lực nhà nước và giám sát xã hội. Mỗi loại hình giám sát đều có những ưu điểm và những mặt hạn chế nhất định. Trong bối cảnh hiện nay, các nhà nước đều thiết kế cả hai loại hình giám sát song song, trong đó, hoạt động giám sát xã hội, giám sát của cộng đồng, các tổ chức xã hội và người dân luôn có xu hướng được coi trọng, mở rộng và có tiếng nói mạnh mẽ trong việc bảo vệ các quyền con người, quyền công dân.

Hệ thống các cơ quan thực hiện giám sát mang tính quyền lực nhà nước thường được giao cho các cơ quan đại diện như Quốc hội (Nghị viện), Hội đồng nhân dân, các tổ chức giám sát chuyên trách,… Việc thực hiện giám sát của các cơ quan này thường gắn với việc kiểm tra. Ở một số nước, cơ quan thanh tra, kiểm toán cũng thực hiện việc giám sát hành chính hoặc giám sát tài chính. Các cơ quan này thực hiện kiểm tra, giám sát theo kế hoạch, định kỳ với những phạm vi đối tượng cụ thể. Do vậy, các quyền con người, quyền công dân nói chung và quyền được thông tin của người dân nói riêng cần được đề cập tới trong các chương trình, nội dung giám sát.

Giám sát xã hội là một phương thức để người dân thực hiện quyền lực nhân dân của mình. Giám sát xã hội mang tính phát hiện, tư vấn và phản biện. Các kết quả giám sát được phản ánh với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, xử lý. Giám sát xã hội được thực hiện với nhiều chủ thể khác nhau, như báo chí, các tổ chức xã hội dân sự, người dân. Mỗi chủ thể thực hiện giám sát ở phạm vi khác nhau, với những đối tượng khác nhau tùy thuộc vào mục tiêu hành động của mình. Giám sát xã hội có những ưu điểm lớn mà giám sát mang tính quyền lực nhà nước không có, đó là tính rộng rãi, phổ biến của hoạt động giám sát, mọi sự vi phạm của các cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức đều dễ bị phát hiện do quần chúng nhân dân ở khắp nơi. Với tính chất như vậy, đây là một phương thức quan trọng, hiệu quả nhằm bảo đảm cho quyền được thông tin của người dân được thực hiện.

Thứ sáu, dân chủ hóa trong các lĩnh vực của đời sống xã hội đất nước

Quyền được thông tin là một quyền dân chủ, do vậy, bảo đảm quyền được thông tin không gì hiệu quả bằng việc xây dựng môi trường dân chủ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, để các quyền tự do dân chủ của người dân được thực hiện. Môi trường dân chủ và việc thực hiện các quyền con người, quyền công dân có mối quan hệ biện chứng, tương hỗ. Môi trường dân chủ là cơ sở để bảo đảm các quyền con người, quyền công dân được thực hiện và việc thực hiện các quyền con người, quyền công dân chính là các hoạt động cụ thể góp phần hình thành và xây dựng một xã hội dân chủ, một Nhà nước dân chủ.

“Thông tin là oxy của nền dân chủ”, bảo đảm quyền được thông tin của người dân chính là bảo đảm oxy cho nền dân chủ, để nền dân chủ “sống”, “tồn tại” được. Thông tin được bảo đảm là nền tảng, cơ sở để người dân thực hiện các quyền dân chủ của mình. Một xã hội dân chủ được hiểu là xã hội bảo đảm các quyền con người, quyền công dân, các quyền tự do, dân chủ được bảo đảm thực hiện, trong đó có quyền được thông tin của người dân. Khi xây dựng một Nhà nước dân chủ, người dân được tham gia một cách sâu rộng vào quá trình hình thành, vận hành bộ máy nhà nước và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, được bảo đảm những quyền tự do về thân thể, chỗ ở, tư tưởng,…

Một xã hội dân chủ, các quyền của người dân được đề cao và các hoạt động của cơ quan nhà nước đều nhằm bảo đảm thực hiện các quyền của người dân. Nhà nước tạo các cơ chế để bảo đảm thực hiện các quyền của người dân, bằng việc quy định trách nhiệm, các nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể cho các cơ quan nhà nước, cho cán bộ, công chức bên cạnh các quyền và nghĩa vụ của người dân. Người dân được sử dụng những công cụ pháp lý để bảo vệ các quyền tự do dân chủ của mình khi bị xâm hại. Thực hiện dân chủ trên các mặt của đời sống xã hội tạo sự dân chủ một cách đồng bộ, toàn diện, không có “khoảng tối” cho sự lạm quyền, lợi dụng quyền hạn để trục lợi. Dân chủ trên tất cả các mặt của đời sống xã hội giúp cho người dân tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, qua đó, thực hiện việc tiếp cận thông tin về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước một cách đầy đủ và toàn diện.

ThS. Trần Văn Long

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: