Thứ năm 16/04/2026 05:10
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm thực hiện quyền được thông tin của công dân nhằm góp phần phòng, chống tham nhũng

Quyền tiếp cận thông tin là một quyền dân sự, chính trị quan trọng của công dân, có vai trò, ý nghĩa quan trọng. Quyền tiếp cận thông tin góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch trong tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước, qua đó góp phần phòng, chống tham nhũng. Bảo đảm thực hiện quyền được thông tin tạo cơ sở cho việc giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, trách nhiệm của cán bộ, công chức trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Bên cạnh đó, bảo đảm thực hiện quyền được thông tin góp phần thực hiện đầy đủ các quyền dân sự, chính trị khác của công dân.

Để bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của người dân, mỗi quốc gia tùy thuộc vào thể chế và các khuôn khổ chính sách của mình, đưa ra các bảo đảm khác nhau. Tuy nhiên, về cơ bản, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân được thực hiện ở một số nội dung sau:

Thứ nhất, bảo đảm về mặt chính trị, pháp lý

Đây là những yếu tố quan trọng, là tiền đề cho việc quy định và thực hiện quyền được thông tin của người dân trên thực tiễn. Quyền được thông tin là một quyền dân sự - chính trị của người dân, được ghi nhận trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế và quốc gia. Để có cơ sở cho việc quy định trong Hiến pháp và các đạo luật, trước hết cần nhận thức đúng đắn về vai trò, ý nghĩa của quyền này, từ phía các chủ thể của quyền lực chính trị. Và hiện nay, với xu thế dân chủ hóa đời sống xã hội, quyền được thông tin của người dân là một cấu thành quan trọng của quyền tự do thông tin, cùng với quyền tự do báo chí, tự do lập hội, tự do ngôn luận,… đã tạo thành những giá trị quan trọng, không thể thiếu trong một xã hội phát triển. Ở nước ta, ngay từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Đảng ta đã nhận thức được vai trò quan trọng của quyền được thông tin của người dân trong đời sống chính trị - xã hội của đất nước. Trên cơ sở đó, đã có những ghi nhận và thực hiện các quy định về vấn đề này.

Trên cơ sở nhận thức về mặt chính trị, quyền được thông tin cần được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản luật. Đây chính là những cơ sở pháp lý nhằm bảo đảm cho quyền được thông tin của người dân. Việc xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ thể chế, chính sách về vấn đề này chính là việc triển khai thực hiện cơ bản việc quản lý nhà nước về quyền được thông tin của người dân. Bảo đảm pháp lý về vấn đề này được thể hiện ở một số nội dung cụ thể như:

(i) Quy định đầy đủ, chặt chẽ các quyền, nghĩa vụ của người dân và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức trong việc thực hiện quyền được thông tin của người dân thông qua việc công khai, minh bạch tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước và trách nhiệm giải trình. Với mỗi hình thức, cần quy định cụ thể về nội dung thông tin, hình thức công khai, trình tự, thủ tục thực hiện việc giải trình, quyền và nghĩa vụ của các bên có liên quan,… Trong một nhà nước pháp quyền, pháp luật là tối thượng, các quyền, nghĩa vụ của người dân và trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan nhà nước cần được xác lập một cách rõ ràng, minh bạch trong các văn bản pháp luật. Với xu hướng mở rộng dân chủ hiện nay, Nhà nước chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép và người dân được làm những gì mà pháp luật không cấm. Do đó, các quy định về quyền và nghĩa vụ của người dân cũng cần được quy định theo hướng mở như vậy. Các quy định về quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức cần được xác lập chặt chẽ, có các biện pháp giám sát trong quá trình quy định cũng như tổ chức thực hiện các quy định về vấn đề này, trong đó có sự giám sát của người dân, của xã hội.

(ii) Quy định các biện pháp xử lý các vi phạm về quyền được thông tin của công dân. Đây là một nội dung quan trọng trong bảo đảm pháp lý của quyền được thông tin của người dân. Các biện pháp xử lý tùy thuộc vào tính chất, nội dung của hành vi vi phạm mà có các chế tài tương ứng, có thể là xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính, hoặc cao hơn là xử lý hình sự. Bản thân các quy định về biện pháp xử lý có thể được quy định trong cùng một văn bản về quyền được thông tin của người dân hoặc có thể được quy định rải rác trong nhiều văn bản pháp lý điều chỉnh các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực khác nhau. Các biện pháp xử lý cũng có thể được quy định trong một văn bản pháp luật chuyên biệt, như luật về xử lý vi phạm hành chính, luật xử lý các hành vi phạm tội.

Trong quá trình quy định về các vấn đề này, ngoài các yêu cầu về chính trị, pháp lý trong nước còn có việc bảo đảm tuân thủ, phù hợp với các cam kết của quốc gia trong việc thực hiện các điều ước quốc tế mà quốc gia tham gia ký kết hoặc phê chuẩn. Hiện nay, có nhiều văn bản pháp lý quốc tế có chứa đựng những nội dung có liên quan đến quyền được thông tin của người dân như: Công ước Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng, Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966,…

Thứ hai, nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức trong việc thực hiện bảo vệ quyền con người, quyền công dân nói chung và quyền được thông tin nói riêng

Các bảo đảm về mặt pháp lý giúp hình thành hệ thống các nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức trong khi tổ chức thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên, một mặt khác cũng rất quan trọng, ảnh hưởng đến kết quả thực hiện các quy định pháp luật về vấn đề này, đó chính là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước mà cụ thể là cán bộ, công chức trong việc thực thi các quy định pháp luật về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Tăng tính trách nhiệm của các cơ quan này khi thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến bảo đảm quyền được thông tin của công dân được thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong đó có giáo dục, tuyên truyền nâng cao ý thức của các cán bộ, công chức. Bên cạnh đó, cần tăng cường các thiết chế kiểm tra, giám sát trong hệ thống và ngoài xã hội đối với việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của các cán bộ, công chức. Hiện nay, ở nhiều quốc gia đã quy định về trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước nhằm tăng tính trách nhiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, công vụ của các cơ quan nhà nước. Theo đó, bản thân các cơ quan này phải có trách nhiệm giải trình khi có yêu cầu đối với các vấn đề thuộc quyền quản lý nhà nước của mình. Việc giải trình bao gồm giải thích, làm rõ bản chất của sự việc và trách nhiệm của cơ quan, của cá nhân đối với sự việc xảy ra và hướng khắc phục. Ngoài các quy định và bảo đảm mang tính pháp lý, việc nâng cao tính trách nhiệm thông qua các quy tắc đạo đức nghề nghiệp, quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức cũng là một biện pháp quan trọng. Trong pháp luật về công chức, công vụ hay pháp luật về phòng, chống tham nhũng của một số quốc gia đã hình thành các chế định về vấn đề này. Và rõ ràng, tính trách nhiệm thuộc về phạm trù ý thức, đạo đức nhiều hơn. Do đó, vấn đề này cần được quan tâm và làm tốt, nhằm tăng tính trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các cán bộ, công chức trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được giao, trong đó có bảo đảm thực hiện quyền được thông tin của người dân.

Thứ ba, bảo đảm quyền khiếu nại, khiếu kiện khi có sự vi phạm quyền được thông tin của người dân

Quyền khiếu nại, tố cáo là một quyền tự do dân chủ quan trọng của người dân. Đây được coi là một quyền đặc biệt, quyền để bảo vệ quyền. Cũng giống như quyền được thông tin, quyền khiếu nại, tố cáo chỉ được thừa nhận và bảo đảm thực hiện trong một nhà nước dân chủ. Quyền khiếu nại, tố cáo là phương thức quan trọng để người dân bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình cũng như của người khác khi có cơ sở cho rằng có hành vi vi phạm pháp luật làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình cũng như của các chủ thể khác. Quyền khiếu nại, tố cáo cũng là phương thức để người dân tham gia vào quản lý nhà nước, thực hiện giám sát tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Khi có sự cho rằng, các cơ quan nhà nước hoặc các chủ thể khác có sự xâm phạm đến quyền và lợi ích của mình (khiếu nại) hoặc của người khác (tố cáo) thì người dân có thể sử dụng các quyền này để bảo vệ. Pháp luật của các quốc gia và trong các điều ước quốc tế ghi nhận quyền khiếu nại, tố cáo của người dân nhằm bảo vệ quyền được thông tin. Đây chính là những phương thức bảo vệ quyền được sử dụng nhiều nhất, trong đó bao gồm cả việc bảo vệ quyền được thông tin. Với các vi phạm chưa đến mức xử lý hình sự, thì việc sử dụng quyền khiếu nại, tố cáo giúp người dân bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp một cách nhanh nhất. Trong trường hợp có những vi phạm lớn hơn, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ, lúc đó, các cơ quan tư pháp sẽ thực hiện theo những thủ tục tố tụng tư pháp. Cũng như các quyền khác, quyền được thông tin của người dân cũng cần được bảo đảm thông qua quy định cho phép người dân thực hiện khiếu nại, tố cáo. Đây chính là một phương thức bảo đảm quan trọng, cần thiết nhằm bảo đảm thực hiện quyền được thông tin của người dân.

Việc bảo đảm thực hiện quyền được thông tin của người dân thông qua thủ tục khiếu nại, tố cáo được thực hiện tương tự như trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp khác. Các quy định về khiếu nại, tố cáo có thể được quy định trong văn bản pháp luật về quyền được thông tin của người dân hay trong một đạo luật riêng biệt về vấn đề này. Điều này tùy thuộc vào kỹ thuật lập pháp của mỗi quốc gia.

Thứ tư, bảo đảm xử lý các vi phạm quyền được thông tin của công dân

Việc quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ và các trình tự, thủ tục nhằm bảo đảm thực hiện quyền được thông tin của người dân. Bên cạnh đó, cần phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật các hành vi vi phạm nhằm bảo đảm cho việc tôn trọng và bảo vệ quyền được thông tin của người dân. Việc vi phạm quyền được thông tin của công dân thường bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính và bồi thường thiệt hại do tính chất, mức độ gây hậu quả của nó. Tuy nhiên, việc vi phạm này cũng có thể bị xử lý hình sự nếu xâm phạm vào các quan hệ pháp luật được luật hình sự bảo vệ. Bảo đảm thực hiện quyền được thông tin của người dân thông qua phương thức này được thể hiện ở một số nội dung sau: (i) Quy định cụ thể các hành vi vi phạm với tính chất, mức độ cụ thể tương ứng với các chế tài; (ii) Thực hiện việc phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm bằng các chế tài tương ứng với tính chất, mức độ vi phạm của hành vi; và (iii) Thực hiện việc thi hành các quyết định xử lý, trong đó bao gồm cả việc khôi phục các quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể bị xâm hại. Việc thực hiện xử lý các vi phạm quyền được thông tin của người dân được thực hiện bởi các chủ thể khác nhau tùy thuộc vào mức độ hành vi vi phạm. Với mỗi thủ tục có những nguyên tắc, trình tự, thủ tục riêng biệt (thủ tục hành chính, thủ tục tư pháp,…). Và để bảo đảm việc xử lý các vi phạm được đúng đắn, khách quan thì công khai, minh bạch và bảo đảm quyền được thông tin của công dân trong chính quá trình xử lý các vi phạm về vấn đề này cũng cần được đặt ra.

Hiện nay, theo xu hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền và mở rộng dân chủ, việc xử lý các hành vi vi phạm luôn được đòi hỏi thực hiện bằng thủ tục tư pháp bên cạnh thủ tục hành chính thông thường. Điều này tạo cơ hội cho việc xử lý các hành vi vi phạm một cách đúng đắn, khách quan bởi một thiết chế độc lập. Bảo đảm xử lý đúng đắn các vi phạm quyền được thông tin của người dân là một trong những bảo đảm quan trọng, giúp cho các chủ thể có liên quan khi thực hiện thực sự tôn trọng và thực hiện đúng đắn các quy định về vấn đề này.

Thứ năm, giám sát việc thực hiện quyền được thông tin

Giám sát là một phương diện hoạt động quan trọng trong quản lý của bất kỳ chủ thể nào. Giám sát nhằm theo dõi, xem xét và phát hiện những vi phạm của chủ thể bị giám sát trong việc tuân thủ, thực hiện đúng các quy định đề ra. Trong quản lý nhà nước, giám sát là một hoạt động của quản lý, giúp thủ trưởng cơ quan nắm được việc chấp hành của các cán bộ, công chức trong bộ máy hay giúp cơ quan cấp trên nắm bắt được các kết quả hoạt động của cơ quan cấp dưới, qua đó sẽ kịp thời phát hiện và chấn chỉnh các sai phạm nếu có.

Trong thực hiện pháp luật nói chung và trong việc bảo đảm thực hiện các quyền con người, quyền công dân nói riêng, giám sát là một nội dung quan trọng, cần thiết. Việc giám sát giúp cho việc tổ chức thực hiện quyền được đúng đắn, tránh việc xâm phạm tới các quyền cơ bản của công dân. Thông thường, hoạt động giám sát được thực hiện bởi hai phương thức, giám sát mang tính quyền lực nhà nước và giám sát xã hội. Mỗi loại hình giám sát đều có những ưu điểm và những mặt hạn chế nhất định. Trong bối cảnh hiện nay, các nhà nước đều thiết kế cả hai loại hình giám sát song song, trong đó, hoạt động giám sát xã hội, giám sát của cộng đồng, các tổ chức xã hội và người dân luôn có xu hướng được coi trọng, mở rộng và có tiếng nói mạnh mẽ trong việc bảo vệ các quyền con người, quyền công dân.

Hệ thống các cơ quan thực hiện giám sát mang tính quyền lực nhà nước thường được giao cho các cơ quan đại diện như Quốc hội (Nghị viện), Hội đồng nhân dân, các tổ chức giám sát chuyên trách,… Việc thực hiện giám sát của các cơ quan này thường gắn với việc kiểm tra. Ở một số nước, cơ quan thanh tra, kiểm toán cũng thực hiện việc giám sát hành chính hoặc giám sát tài chính. Các cơ quan này thực hiện kiểm tra, giám sát theo kế hoạch, định kỳ với những phạm vi đối tượng cụ thể. Do vậy, các quyền con người, quyền công dân nói chung và quyền được thông tin của người dân nói riêng cần được đề cập tới trong các chương trình, nội dung giám sát.

Giám sát xã hội là một phương thức để người dân thực hiện quyền lực nhân dân của mình. Giám sát xã hội mang tính phát hiện, tư vấn và phản biện. Các kết quả giám sát được phản ánh với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, xử lý. Giám sát xã hội được thực hiện với nhiều chủ thể khác nhau, như báo chí, các tổ chức xã hội dân sự, người dân. Mỗi chủ thể thực hiện giám sát ở phạm vi khác nhau, với những đối tượng khác nhau tùy thuộc vào mục tiêu hành động của mình. Giám sát xã hội có những ưu điểm lớn mà giám sát mang tính quyền lực nhà nước không có, đó là tính rộng rãi, phổ biến của hoạt động giám sát, mọi sự vi phạm của các cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức đều dễ bị phát hiện do quần chúng nhân dân ở khắp nơi. Với tính chất như vậy, đây là một phương thức quan trọng, hiệu quả nhằm bảo đảm cho quyền được thông tin của người dân được thực hiện.

Thứ sáu, dân chủ hóa trong các lĩnh vực của đời sống xã hội đất nước

Quyền được thông tin là một quyền dân chủ, do vậy, bảo đảm quyền được thông tin không gì hiệu quả bằng việc xây dựng môi trường dân chủ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, để các quyền tự do dân chủ của người dân được thực hiện. Môi trường dân chủ và việc thực hiện các quyền con người, quyền công dân có mối quan hệ biện chứng, tương hỗ. Môi trường dân chủ là cơ sở để bảo đảm các quyền con người, quyền công dân được thực hiện và việc thực hiện các quyền con người, quyền công dân chính là các hoạt động cụ thể góp phần hình thành và xây dựng một xã hội dân chủ, một Nhà nước dân chủ.

“Thông tin là oxy của nền dân chủ”, bảo đảm quyền được thông tin của người dân chính là bảo đảm oxy cho nền dân chủ, để nền dân chủ “sống”, “tồn tại” được. Thông tin được bảo đảm là nền tảng, cơ sở để người dân thực hiện các quyền dân chủ của mình. Một xã hội dân chủ được hiểu là xã hội bảo đảm các quyền con người, quyền công dân, các quyền tự do, dân chủ được bảo đảm thực hiện, trong đó có quyền được thông tin của người dân. Khi xây dựng một Nhà nước dân chủ, người dân được tham gia một cách sâu rộng vào quá trình hình thành, vận hành bộ máy nhà nước và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, được bảo đảm những quyền tự do về thân thể, chỗ ở, tư tưởng,…

Một xã hội dân chủ, các quyền của người dân được đề cao và các hoạt động của cơ quan nhà nước đều nhằm bảo đảm thực hiện các quyền của người dân. Nhà nước tạo các cơ chế để bảo đảm thực hiện các quyền của người dân, bằng việc quy định trách nhiệm, các nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể cho các cơ quan nhà nước, cho cán bộ, công chức bên cạnh các quyền và nghĩa vụ của người dân. Người dân được sử dụng những công cụ pháp lý để bảo vệ các quyền tự do dân chủ của mình khi bị xâm hại. Thực hiện dân chủ trên các mặt của đời sống xã hội tạo sự dân chủ một cách đồng bộ, toàn diện, không có “khoảng tối” cho sự lạm quyền, lợi dụng quyền hạn để trục lợi. Dân chủ trên tất cả các mặt của đời sống xã hội giúp cho người dân tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, qua đó, thực hiện việc tiếp cận thông tin về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước một cách đầy đủ và toàn diện.

ThS. Trần Văn Long

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: