Chủ nhật 03/05/2026 15:46
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm thực hiện quyền được thông tin của công dân nhằm góp phần phòng, chống tham nhũng

Quyền tiếp cận thông tin là một quyền dân sự, chính trị quan trọng của công dân, có vai trò, ý nghĩa quan trọng. Quyền tiếp cận thông tin góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch trong tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước, qua đó góp phần phòng, chống tham nhũng. Bảo đảm thực hiện quyền được thông tin tạo cơ sở cho việc giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, trách nhiệm của cán bộ, công chức trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Bên cạnh đó, bảo đảm thực hiện quyền được thông tin góp phần thực hiện đầy đủ các quyền dân sự, chính trị khác của công dân.

Để bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của người dân, mỗi quốc gia tùy thuộc vào thể chế và các khuôn khổ chính sách của mình, đưa ra các bảo đảm khác nhau. Tuy nhiên, về cơ bản, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân được thực hiện ở một số nội dung sau:

Thứ nhất, bảo đảm về mặt chính trị, pháp lý

Đây là những yếu tố quan trọng, là tiền đề cho việc quy định và thực hiện quyền được thông tin của người dân trên thực tiễn. Quyền được thông tin là một quyền dân sự - chính trị của người dân, được ghi nhận trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế và quốc gia. Để có cơ sở cho việc quy định trong Hiến pháp và các đạo luật, trước hết cần nhận thức đúng đắn về vai trò, ý nghĩa của quyền này, từ phía các chủ thể của quyền lực chính trị. Và hiện nay, với xu thế dân chủ hóa đời sống xã hội, quyền được thông tin của người dân là một cấu thành quan trọng của quyền tự do thông tin, cùng với quyền tự do báo chí, tự do lập hội, tự do ngôn luận,… đã tạo thành những giá trị quan trọng, không thể thiếu trong một xã hội phát triển. Ở nước ta, ngay từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Đảng ta đã nhận thức được vai trò quan trọng của quyền được thông tin của người dân trong đời sống chính trị - xã hội của đất nước. Trên cơ sở đó, đã có những ghi nhận và thực hiện các quy định về vấn đề này.

Trên cơ sở nhận thức về mặt chính trị, quyền được thông tin cần được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản luật. Đây chính là những cơ sở pháp lý nhằm bảo đảm cho quyền được thông tin của người dân. Việc xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ thể chế, chính sách về vấn đề này chính là việc triển khai thực hiện cơ bản việc quản lý nhà nước về quyền được thông tin của người dân. Bảo đảm pháp lý về vấn đề này được thể hiện ở một số nội dung cụ thể như:

(i) Quy định đầy đủ, chặt chẽ các quyền, nghĩa vụ của người dân và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức trong việc thực hiện quyền được thông tin của người dân thông qua việc công khai, minh bạch tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước và trách nhiệm giải trình. Với mỗi hình thức, cần quy định cụ thể về nội dung thông tin, hình thức công khai, trình tự, thủ tục thực hiện việc giải trình, quyền và nghĩa vụ của các bên có liên quan,… Trong một nhà nước pháp quyền, pháp luật là tối thượng, các quyền, nghĩa vụ của người dân và trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan nhà nước cần được xác lập một cách rõ ràng, minh bạch trong các văn bản pháp luật. Với xu hướng mở rộng dân chủ hiện nay, Nhà nước chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép và người dân được làm những gì mà pháp luật không cấm. Do đó, các quy định về quyền và nghĩa vụ của người dân cũng cần được quy định theo hướng mở như vậy. Các quy định về quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức cần được xác lập chặt chẽ, có các biện pháp giám sát trong quá trình quy định cũng như tổ chức thực hiện các quy định về vấn đề này, trong đó có sự giám sát của người dân, của xã hội.

(ii) Quy định các biện pháp xử lý các vi phạm về quyền được thông tin của công dân. Đây là một nội dung quan trọng trong bảo đảm pháp lý của quyền được thông tin của người dân. Các biện pháp xử lý tùy thuộc vào tính chất, nội dung của hành vi vi phạm mà có các chế tài tương ứng, có thể là xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính, hoặc cao hơn là xử lý hình sự. Bản thân các quy định về biện pháp xử lý có thể được quy định trong cùng một văn bản về quyền được thông tin của người dân hoặc có thể được quy định rải rác trong nhiều văn bản pháp lý điều chỉnh các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực khác nhau. Các biện pháp xử lý cũng có thể được quy định trong một văn bản pháp luật chuyên biệt, như luật về xử lý vi phạm hành chính, luật xử lý các hành vi phạm tội.

Trong quá trình quy định về các vấn đề này, ngoài các yêu cầu về chính trị, pháp lý trong nước còn có việc bảo đảm tuân thủ, phù hợp với các cam kết của quốc gia trong việc thực hiện các điều ước quốc tế mà quốc gia tham gia ký kết hoặc phê chuẩn. Hiện nay, có nhiều văn bản pháp lý quốc tế có chứa đựng những nội dung có liên quan đến quyền được thông tin của người dân như: Công ước Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng, Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966,…

Thứ hai, nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức trong việc thực hiện bảo vệ quyền con người, quyền công dân nói chung và quyền được thông tin nói riêng

Các bảo đảm về mặt pháp lý giúp hình thành hệ thống các nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức trong khi tổ chức thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên, một mặt khác cũng rất quan trọng, ảnh hưởng đến kết quả thực hiện các quy định pháp luật về vấn đề này, đó chính là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước mà cụ thể là cán bộ, công chức trong việc thực thi các quy định pháp luật về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Tăng tính trách nhiệm của các cơ quan này khi thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến bảo đảm quyền được thông tin của công dân được thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong đó có giáo dục, tuyên truyền nâng cao ý thức của các cán bộ, công chức. Bên cạnh đó, cần tăng cường các thiết chế kiểm tra, giám sát trong hệ thống và ngoài xã hội đối với việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của các cán bộ, công chức. Hiện nay, ở nhiều quốc gia đã quy định về trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước nhằm tăng tính trách nhiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, công vụ của các cơ quan nhà nước. Theo đó, bản thân các cơ quan này phải có trách nhiệm giải trình khi có yêu cầu đối với các vấn đề thuộc quyền quản lý nhà nước của mình. Việc giải trình bao gồm giải thích, làm rõ bản chất của sự việc và trách nhiệm của cơ quan, của cá nhân đối với sự việc xảy ra và hướng khắc phục. Ngoài các quy định và bảo đảm mang tính pháp lý, việc nâng cao tính trách nhiệm thông qua các quy tắc đạo đức nghề nghiệp, quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức cũng là một biện pháp quan trọng. Trong pháp luật về công chức, công vụ hay pháp luật về phòng, chống tham nhũng của một số quốc gia đã hình thành các chế định về vấn đề này. Và rõ ràng, tính trách nhiệm thuộc về phạm trù ý thức, đạo đức nhiều hơn. Do đó, vấn đề này cần được quan tâm và làm tốt, nhằm tăng tính trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các cán bộ, công chức trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được giao, trong đó có bảo đảm thực hiện quyền được thông tin của người dân.

Thứ ba, bảo đảm quyền khiếu nại, khiếu kiện khi có sự vi phạm quyền được thông tin của người dân

Quyền khiếu nại, tố cáo là một quyền tự do dân chủ quan trọng của người dân. Đây được coi là một quyền đặc biệt, quyền để bảo vệ quyền. Cũng giống như quyền được thông tin, quyền khiếu nại, tố cáo chỉ được thừa nhận và bảo đảm thực hiện trong một nhà nước dân chủ. Quyền khiếu nại, tố cáo là phương thức quan trọng để người dân bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình cũng như của người khác khi có cơ sở cho rằng có hành vi vi phạm pháp luật làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình cũng như của các chủ thể khác. Quyền khiếu nại, tố cáo cũng là phương thức để người dân tham gia vào quản lý nhà nước, thực hiện giám sát tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Khi có sự cho rằng, các cơ quan nhà nước hoặc các chủ thể khác có sự xâm phạm đến quyền và lợi ích của mình (khiếu nại) hoặc của người khác (tố cáo) thì người dân có thể sử dụng các quyền này để bảo vệ. Pháp luật của các quốc gia và trong các điều ước quốc tế ghi nhận quyền khiếu nại, tố cáo của người dân nhằm bảo vệ quyền được thông tin. Đây chính là những phương thức bảo vệ quyền được sử dụng nhiều nhất, trong đó bao gồm cả việc bảo vệ quyền được thông tin. Với các vi phạm chưa đến mức xử lý hình sự, thì việc sử dụng quyền khiếu nại, tố cáo giúp người dân bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp một cách nhanh nhất. Trong trường hợp có những vi phạm lớn hơn, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ, lúc đó, các cơ quan tư pháp sẽ thực hiện theo những thủ tục tố tụng tư pháp. Cũng như các quyền khác, quyền được thông tin của người dân cũng cần được bảo đảm thông qua quy định cho phép người dân thực hiện khiếu nại, tố cáo. Đây chính là một phương thức bảo đảm quan trọng, cần thiết nhằm bảo đảm thực hiện quyền được thông tin của người dân.

Việc bảo đảm thực hiện quyền được thông tin của người dân thông qua thủ tục khiếu nại, tố cáo được thực hiện tương tự như trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp khác. Các quy định về khiếu nại, tố cáo có thể được quy định trong văn bản pháp luật về quyền được thông tin của người dân hay trong một đạo luật riêng biệt về vấn đề này. Điều này tùy thuộc vào kỹ thuật lập pháp của mỗi quốc gia.

Thứ tư, bảo đảm xử lý các vi phạm quyền được thông tin của công dân

Việc quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ và các trình tự, thủ tục nhằm bảo đảm thực hiện quyền được thông tin của người dân. Bên cạnh đó, cần phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật các hành vi vi phạm nhằm bảo đảm cho việc tôn trọng và bảo vệ quyền được thông tin của người dân. Việc vi phạm quyền được thông tin của công dân thường bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính và bồi thường thiệt hại do tính chất, mức độ gây hậu quả của nó. Tuy nhiên, việc vi phạm này cũng có thể bị xử lý hình sự nếu xâm phạm vào các quan hệ pháp luật được luật hình sự bảo vệ. Bảo đảm thực hiện quyền được thông tin của người dân thông qua phương thức này được thể hiện ở một số nội dung sau: (i) Quy định cụ thể các hành vi vi phạm với tính chất, mức độ cụ thể tương ứng với các chế tài; (ii) Thực hiện việc phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm bằng các chế tài tương ứng với tính chất, mức độ vi phạm của hành vi; và (iii) Thực hiện việc thi hành các quyết định xử lý, trong đó bao gồm cả việc khôi phục các quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể bị xâm hại. Việc thực hiện xử lý các vi phạm quyền được thông tin của người dân được thực hiện bởi các chủ thể khác nhau tùy thuộc vào mức độ hành vi vi phạm. Với mỗi thủ tục có những nguyên tắc, trình tự, thủ tục riêng biệt (thủ tục hành chính, thủ tục tư pháp,…). Và để bảo đảm việc xử lý các vi phạm được đúng đắn, khách quan thì công khai, minh bạch và bảo đảm quyền được thông tin của công dân trong chính quá trình xử lý các vi phạm về vấn đề này cũng cần được đặt ra.

Hiện nay, theo xu hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền và mở rộng dân chủ, việc xử lý các hành vi vi phạm luôn được đòi hỏi thực hiện bằng thủ tục tư pháp bên cạnh thủ tục hành chính thông thường. Điều này tạo cơ hội cho việc xử lý các hành vi vi phạm một cách đúng đắn, khách quan bởi một thiết chế độc lập. Bảo đảm xử lý đúng đắn các vi phạm quyền được thông tin của người dân là một trong những bảo đảm quan trọng, giúp cho các chủ thể có liên quan khi thực hiện thực sự tôn trọng và thực hiện đúng đắn các quy định về vấn đề này.

Thứ năm, giám sát việc thực hiện quyền được thông tin

Giám sát là một phương diện hoạt động quan trọng trong quản lý của bất kỳ chủ thể nào. Giám sát nhằm theo dõi, xem xét và phát hiện những vi phạm của chủ thể bị giám sát trong việc tuân thủ, thực hiện đúng các quy định đề ra. Trong quản lý nhà nước, giám sát là một hoạt động của quản lý, giúp thủ trưởng cơ quan nắm được việc chấp hành của các cán bộ, công chức trong bộ máy hay giúp cơ quan cấp trên nắm bắt được các kết quả hoạt động của cơ quan cấp dưới, qua đó sẽ kịp thời phát hiện và chấn chỉnh các sai phạm nếu có.

Trong thực hiện pháp luật nói chung và trong việc bảo đảm thực hiện các quyền con người, quyền công dân nói riêng, giám sát là một nội dung quan trọng, cần thiết. Việc giám sát giúp cho việc tổ chức thực hiện quyền được đúng đắn, tránh việc xâm phạm tới các quyền cơ bản của công dân. Thông thường, hoạt động giám sát được thực hiện bởi hai phương thức, giám sát mang tính quyền lực nhà nước và giám sát xã hội. Mỗi loại hình giám sát đều có những ưu điểm và những mặt hạn chế nhất định. Trong bối cảnh hiện nay, các nhà nước đều thiết kế cả hai loại hình giám sát song song, trong đó, hoạt động giám sát xã hội, giám sát của cộng đồng, các tổ chức xã hội và người dân luôn có xu hướng được coi trọng, mở rộng và có tiếng nói mạnh mẽ trong việc bảo vệ các quyền con người, quyền công dân.

Hệ thống các cơ quan thực hiện giám sát mang tính quyền lực nhà nước thường được giao cho các cơ quan đại diện như Quốc hội (Nghị viện), Hội đồng nhân dân, các tổ chức giám sát chuyên trách,… Việc thực hiện giám sát của các cơ quan này thường gắn với việc kiểm tra. Ở một số nước, cơ quan thanh tra, kiểm toán cũng thực hiện việc giám sát hành chính hoặc giám sát tài chính. Các cơ quan này thực hiện kiểm tra, giám sát theo kế hoạch, định kỳ với những phạm vi đối tượng cụ thể. Do vậy, các quyền con người, quyền công dân nói chung và quyền được thông tin của người dân nói riêng cần được đề cập tới trong các chương trình, nội dung giám sát.

Giám sát xã hội là một phương thức để người dân thực hiện quyền lực nhân dân của mình. Giám sát xã hội mang tính phát hiện, tư vấn và phản biện. Các kết quả giám sát được phản ánh với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, xử lý. Giám sát xã hội được thực hiện với nhiều chủ thể khác nhau, như báo chí, các tổ chức xã hội dân sự, người dân. Mỗi chủ thể thực hiện giám sát ở phạm vi khác nhau, với những đối tượng khác nhau tùy thuộc vào mục tiêu hành động của mình. Giám sát xã hội có những ưu điểm lớn mà giám sát mang tính quyền lực nhà nước không có, đó là tính rộng rãi, phổ biến của hoạt động giám sát, mọi sự vi phạm của các cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức đều dễ bị phát hiện do quần chúng nhân dân ở khắp nơi. Với tính chất như vậy, đây là một phương thức quan trọng, hiệu quả nhằm bảo đảm cho quyền được thông tin của người dân được thực hiện.

Thứ sáu, dân chủ hóa trong các lĩnh vực của đời sống xã hội đất nước

Quyền được thông tin là một quyền dân chủ, do vậy, bảo đảm quyền được thông tin không gì hiệu quả bằng việc xây dựng môi trường dân chủ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, để các quyền tự do dân chủ của người dân được thực hiện. Môi trường dân chủ và việc thực hiện các quyền con người, quyền công dân có mối quan hệ biện chứng, tương hỗ. Môi trường dân chủ là cơ sở để bảo đảm các quyền con người, quyền công dân được thực hiện và việc thực hiện các quyền con người, quyền công dân chính là các hoạt động cụ thể góp phần hình thành và xây dựng một xã hội dân chủ, một Nhà nước dân chủ.

“Thông tin là oxy của nền dân chủ”, bảo đảm quyền được thông tin của người dân chính là bảo đảm oxy cho nền dân chủ, để nền dân chủ “sống”, “tồn tại” được. Thông tin được bảo đảm là nền tảng, cơ sở để người dân thực hiện các quyền dân chủ của mình. Một xã hội dân chủ được hiểu là xã hội bảo đảm các quyền con người, quyền công dân, các quyền tự do, dân chủ được bảo đảm thực hiện, trong đó có quyền được thông tin của người dân. Khi xây dựng một Nhà nước dân chủ, người dân được tham gia một cách sâu rộng vào quá trình hình thành, vận hành bộ máy nhà nước và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, được bảo đảm những quyền tự do về thân thể, chỗ ở, tư tưởng,…

Một xã hội dân chủ, các quyền của người dân được đề cao và các hoạt động của cơ quan nhà nước đều nhằm bảo đảm thực hiện các quyền của người dân. Nhà nước tạo các cơ chế để bảo đảm thực hiện các quyền của người dân, bằng việc quy định trách nhiệm, các nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể cho các cơ quan nhà nước, cho cán bộ, công chức bên cạnh các quyền và nghĩa vụ của người dân. Người dân được sử dụng những công cụ pháp lý để bảo vệ các quyền tự do dân chủ của mình khi bị xâm hại. Thực hiện dân chủ trên các mặt của đời sống xã hội tạo sự dân chủ một cách đồng bộ, toàn diện, không có “khoảng tối” cho sự lạm quyền, lợi dụng quyền hạn để trục lợi. Dân chủ trên tất cả các mặt của đời sống xã hội giúp cho người dân tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, qua đó, thực hiện việc tiếp cận thông tin về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước một cách đầy đủ và toàn diện.

ThS. Trần Văn Long

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: