Thứ hai 25/05/2026 15:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự vẫn còn là điểm nghẽn

Trong những năm qua, công tác bán đấu giá tài sản đã giúp ích rất nhiều cho công tác thi hành án dân sự, góp phần vào việc giải quyết số lượng án tồn đọng ở các cơ quan thi hành án và nhất là giá trị tài sản của người phải thi hành án được đấu giá tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì hiện nay, vẫn còn những khó khăn, vướng mắc nhất định trong công tác bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự.

Bài viết này tập trung phân tích đặc điểm của bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự, những vướng mắc thường gặp liên quan đến bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự và làm rõ nguyên nhân dẫn đến thực trạng này; từ đó, đưa ra những giải pháp mang tính gợi mở để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự.


Đấu giá là một trong những hình thức mua bán tài sản phổ biến trong nền kinh tế thị trường. Tại nhiều nước trên thế giới, hoạt động đấu giá tài sản đã có lịch sử hình thành và phát triển hàng trăm năm. Ở nước ta, hoạt động đấu giá tài sản được hình thành từ việc bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự theo quy định của Pháp lệnh về thi hành án dân sự năm 1989 và đã phát triển thành dịch vụ bán đấu giá tài sản chuyên nghiệp vào năm 1996, thông qua việc Chính phủ ban hành Nghị định số 86/1996/NĐ-CP ngày 19/12/1996 về việc ban hành quy chế bán đấu giá tài sản, văn bản pháp lý chuyên ngành đầu tiên điều chỉnh hoạt động bán đấu giá tài sản[1]. Hoạt động bán đấu giá tài sản được quy định tại nhiều văn bản luật và chủ yếu áp dụng đối với tài sản nhà nước, tài sản thi hành án, tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính... nhằm bảo đảm cho việc xử lý các tài sản này được công khai, minh bạch, khách quan, giảm thiểu các tiêu cực trong việc xử lý tài sản[2]. Thời gian qua, công tác bán đấu giá tài sản đã góp phần quan trọng trong các giao dịch dân sự nói chung và trong việc tổ chức thi hành án dân sự nói riêng, tuy nhiên, so với yêu cầu, thì công tác bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự vẫn còn có những hạn chế, cần phải có giải pháp tháo gỡ. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin đề cập đến một số khía cạnh như sau:

1. Về đặc điểm của bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự

Khác với việc bán đấu giá tài sản thông thường, việc bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự có một số đặc điểm, đặc thù đó là:

Thứ nhất, về chủ thể, trong nguyên lý chung của bán đấu giá tài sản thì người bán đấu giá tài sản là doanh nghiệp có chức năng bán đấu giá tài sản hoặc trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản; người yêu cầu bán đấu giá có thể là chủ sở hữu của tài sản bán đấu giá, bên nhận bảo đảm tài sản đấu giá, cơ quan thi hành án; người tham gia đấu giá là người được quyền tham gia trả giá khi cuộc bán đấu giá tài sản được tiến hành, bao gồm những người đã đăng ký đấu giá, nộp lệ phí tham gia đấu giá và có tên trong danh sách đấu giá; người mua tài sản đấu giá là người trả giá cao nhất trong số những người tham gia đấu giá với điều kiện giá mua tài sản mà họ đã trả bằng hoặc cao hơn giá khởi điểm. Tuy nhiên, trong việc bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự thì người yêu cầu bán đấu giá không phải là chủ sở hữu của tài sản bán đấu giá mà là cơ quan thi hành án (khi họ không tự nguyện). Đây chính là yếu tố chi phối, tác động nhiều đến quá trình bán đấu giá và việc thực hiện các trình tự thủ tục bán đấu giá.

Thứ hai, việc bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự thực hiện theo trình tự thủ tục thi hành án dân sự và mang tính cưỡng bức. Theo đó, sau khi hết thời gian luật định, người phải thi hành án, có tài sản, không tự nguyện thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự tiến hành kê biên để bán đấu giá, mà không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người có tài sản là muốn hay không muốn bán. Trong trường hợp này, về phía người được thi hành án mong muốn việc bán đấu giá nhanh chóng thành công để bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực thực thi và bản thân nhanh chóng nhận được tài sản. Còn về phía người phải thi hành án (là người có tài sản bị mang ra bán đấu giá), thì mang tâm lý bị ép buộc, cưỡng chế, nên thường có tâm lý chây ì, cố tình gây khó khăn, cản trở cho quá trình bán đấu giá tài sản thi hành án. Hệ quả là, việc bán đấu giá có thể phát sinh tranh chấp giữa những người tham gia đấu giá, người có tài sản bán đấu giá với tổ chức cung cấp dịch vụ bán đấu giá, với cơ quan thi hành án dân sự và chấp hành viên ngay từ đầu cho đến khi bàn giao tài sản bán đấu giá. Do có nhiều bên tham gia trong quá trình bán đấu giá tài sản thi hành án, việc bán đấu giá tài sản thi hành án phức tạp và có thể gặp vướng mắc, nên pháp luật quy định trình tự, thủ tục bán đấu giá khá chặt chẽ và cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên tham gia. Quá trình bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự đòi hỏi những cá nhân, tổ chức có thẩm quyền liên quan thực hiện trách nhiệm phải công tâm, khách quan, tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật, đồng thời, có sự phối hợp chặt chẽ, kịp thời với những người sở hữu tài sản bị bán đấu giá, người mua được tài sản bán đấu giá và người được thi hành án, để nhanh chóng giải quyết những vướng mắc nảy sinh trong quá trình thực hiện công việc này. Kể cả, sau khi quá trình bán đấu giá tài sản diễn ra thành công, thì người đang sở hữu tài sản bán đấu giá tìm mọi cách cản trở, không bàn giao tài sản đã bán đấu giá, khiến cho người mua được tài sản bán đấu giá khá vất vả trong quá trình trở thành chủ sở hữu hợp pháp của tài sản.

Thứ ba, có sự tham gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quan hệ bán đấu giá tài sản. Khác với việc bán đấu giá tài sản thông thường đó là người có tài sản có thể tự mình tổ chức bán đấu giá, nhưng cũng có thể bán thông qua tổ chức trung gian làm dịch vụ bán đấu giá. Còn bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự, thì ngoài bên có tài sản bán đấu giá (người phải thi hành án) và tổ chức làm dịch vụ đấu giá, thì cơ quan thi hành án dân sự và chấp hành viên là người có vai trò quan trọng. Sự tham gia của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên thể hiện ở việc quyết định lựa chọn tổ chức bán đấu giá tài sản, ở việc ký hợp đồng dịch vụ đấu giá... Trong một số trường hợp, chấp hành viên còn tự mình đứng ra trực tiếp bán đấu giá tài sản phải thi hành án, nếu tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có tài sản bán để thi hành án dân sự chưa có tổ chức bán đấu giá hoặc có nhưng tổ chức bán đấu giá từ chối ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản hoặc đối với tài sản là động sản có giá trị nhỏ.

2. Những vướng mắc thường gặp liên quan đến bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự

Thực tiễn cho thấy, có nhiều khó khăn, vướng mắc liên quan đến bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự, trong đó ngoại trừ lý do thị trường và tình hình tài chính, thì có lẽ khó khăn lớn nhất chính là tâm lý của khách hàng ngại mua tài sản thi hành án. Trên thực tế, do tâm lý e ngại của khách hàng khi mua tài sản bán đấu giá để thi hành án, nên nhiều cuộc bán đấu giá không thành do không có khách hàng đăng ký tham gia. Nhiều trường hợp có đủ lực, tài chính, rất có nguyện vọng mua được tài sản, nhưng sau khi tham khảo hồ sơ bán đấu giá tài sản (nhất là tài sản lại là bất động sản) và biết đây là tài sản thi hành án thì khách hàng đều có chung một tâm lý là băn khoăn. Có người băn khoăn vì không muốn vướng víu đến tài sản do nghĩ đến sự “hên”, “xui”; có người băn khoăn vì có những trường hợp khách hàng khi đi xem tài sản hoặc ngay cả cán bộ của tổ chức bán đấu giá đến làm thủ tục bán đấu giá đã bị chủ nhà, người phải thi hành án không phối hợp, dọa nạt, xua đuổi... Ngoài khó khăn trên, trong thực tế, có trường hợp tài sản đã được bán đấu giá thành nhưng không giao được tài sản do có tranh chấp, chống đối quyết liệt, không chịu bàn giao tài sản của người đang quản lý tài sản, dẫn đến vụ việc kéo dài nhiều tháng, nhiều năm vẫn không nhận được nhà, gây cho khách hàng nhiều bức xúc. Chính vì vậy, trong thực tế có nhiều vụ việc hạ giá nhiều lần nhưng vẫn không bán được tài sản thi hành án. Hệ quả là, có điều kiện nhưng trên thực tế vẫn không thi hành án được.

3. Nguyên nhân và giải pháp cho những vướng mắc trong hoạt động bán đầu giá tài sản trong thi hành án dân sự

3.1. Về nguyên nhân, có thể lý giải nguyên nhân dẫn đến khó khăn, vướng mắc liên quan đến bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự, trong đó có nguyên nhân từ cơ chế, pháp luật liên quan đến bán đấu giá tài sản, cụ thể:

Thứ nhất, liên quan đến pháp luật thi hành án dân sự. Theo quy định tại Điều 101 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 về việc bán tài sản đã kê biên như sau:

“1. Tài sản đã kê biên được bán theo các hình thức sau đây:

a) Bán đấu giá;

b) Bán không qua thủ tục đấu giá.

2. Việc bán đấu giá đối với tài sản kê biên là động sản có giá trị từ trên 10.000.000 đồng và bất động sản do tổ chức bán đấu giá thực hiện.

Đương sự có quyền thoả thuận về tổ chức bán đấu giá trong thời hạn không quá 5 ngày làm việc, kể từ ngày định giá. Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản với tổ chức bán đấu giá do đương sự thoả thuận. Trường hợp đương sự không thoả thuận được thì chấp hành viên lựa chọn tổ chức bán đấu giá để ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản.

Việc ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản được tiến hành trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày định giá.

Việc bán đấu giá đối với động sản phải được thực hiện trong thời hạn là 30 ngày, đối với bất động sản là 45 ngày, kể từ ngày ký hợp đồng.

3. Chấp hành viên bán đấu giá tài sản kê biên trong các trường hợp sau đây:

a) Tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có tài sản chưa có tổ chức bán đấu giá hoặc có nhưng tổ chức bán đấu giá từ chối ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản;

b) Động sản có giá trị từ 2.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Việc bán đấu giá đối với động sản phải được thực hiện trong thời hạn là 30 ngày, đối với bất động sản là 45 ngày, kể từ ngày định giá hoặc từ ngày nhận được văn bản của tổ chức bán đấu giá từ chối bán đấu giá.

4. Chấp hành viên bán không qua thủ tục bán đấu giá đối với tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng hoặc tài sản tươi sống, mau hỏng.

Việc bán tài sản phải được thực hiện trong thời hạn không quá 5 ngày làm việc, kể từ ngày kê biên.

5. Trước khi mở cuộc bán đấu giá 1 ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá.

Người phải thi hành án có trách nhiệm hoàn trả phí tổn thực tế, hợp lý cho người đăng ký mua tài sản. Mức phí tổn do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.

6. Thủ tục bán đấu giá được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản”.

Với những quy định nêu trên cho thấy, pháp luật về thi hành án dân sự đã quy định khá chặt chẽ về thủ tục bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự. Tuy nhiên, vấn đề ở chỗ, theo Điều 58 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định về bảo quản tài sản thi hành án thì: “1. Việc bảo quản tài sản thi hành án được thực hiện bằng một trong các hình thức sau đây:

a) Giao cho người phải thi hành án, người thân thích của người phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 40 của Luật này hoặc người đang sử dụng, bảo quản;

b) Cá nhân, tổ chức có điều kiện bảo quản;

c) Bảo quản tại kho của cơ quan thi hành án dân sự.

2. Tài sản là kim khí quý, đá quý, tiền hoặc giấy tờ có giá được bảo quản tại Kho bạc nhà nước.

3. Việc giao bảo quản tài sản phải được lập biên bản ghi rõ loại tài sản, tình trạng tài sản, giờ, ngày, tháng, năm giao; họ, tên chấp hành viên, đương sự, người được giao bảo quản, người làm chứng, nếu có; quyền, nghĩa vụ của người được giao bảo quản tài sản và có chữ ký của các bên. Trường hợp có người từ chối ký thì phải ghi vào biên bản và nêu rõ lý do.

Người được giao bảo quản tài sản quy định tại điểm b khoản 1 Điều này được trả thù lao và được thanh toán chi phí bảo quản tài sản. Thù lao và chi phí bảo quản tài sản do người phải thi hành án chịu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Biên bản giao bảo quản tài sản được giao cho đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người được giao bảo quản tài sản hoặc người đang sử dụng, bảo quản tài sản và lưu hồ sơ thi hành án.

5. Người được giao bảo quản tài sản vi phạm quy định của pháp luật trong việc bảo quản tài sản thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”.

Với việc giao cho người phải thi hành án, người thân thích của người phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 40 của Luật này hoặc người đang sử dụng, bảo quản thì về nguyên tắc có những ưu điểm như: Thuận lợi trong việc bảo quản, trông coi, khai thác lợi ích từ tài sản; việc kê biên tài sản sẽ ít gặp phải sự chống đối của người có tài sản vì tâm lý chưa bị mất ngay tài sản; có thêm thời gian để các cơ quan chức năng tìm kiếm chỗ ở cho người có tài sản... Tuy nhiên, so với tình hình thực tế thì có thể coi đây là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến khó khăn, phức tạp cho quá trình bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự, cụ thể: (i) Làm cho việc bán đấu giá không phản ánh trung thực giá trị của tài sản đưa ra bán đấu giá vì: Do người bán đấu giá đang quản lý tài sản, trong khi đó họ đang mang tâm lý bị ép buộc, cưỡng chế, nên thường chây ì, cố tình gây khó khăn, cản trở, không tạo điều kiện cho người có nhu cầu mua tài sản, xem tài sản, chưa kể họ còn tìm cách thông tin không đúng sự thật về tài sản, làm cho người có nhu cầu mua không muốn mua hoặc nếu mua thì không trả giá đúng với giá trị thực của tài sản. Có trường hợp, tuy xác định giá trị thực của tài sản, nhưng vì người có tài sản đang quản lý, nên không biết khi nào có thể cưỡng chế được họ ra khỏi nhà để nhận được tài sản nên việc tính toán, trừ hao là không dễ dàng; (ii) Một vụ việc nhưng bị cưỡng chế hai lần: Trên thực tế, hầu hết các vụ việc khi kê biên, bán đấu giá đã phải áp dụng biện pháp cưỡng chế, trong đó nhiều trường hợp đã phải huy động lực lượng. Đến khi tổ chức bán đấu giá thành lại một lần nữa phải cưỡng chế giao nhà, khi đó sẽ phải dùng lực lượng lớn. Như vậy, vừa gây ra tốn kém, mất thời gian, dễ bị tổn thương. Chưa kể với quy định này tạo ra tâm lý của người phải thi hành án đó là tìm mọi cách để khiếu nại, tố cáo, nhờ vả, cầu cứu, gây khó khăn trở ngại cho quá trình thi hành án; (iii) Hạn chế tối đa người tham gia mua tài sản: Thực tế, có nhiều người có nhu cầu, nguyện vọng mua tài sản đấu giá trong thi hành án dân sự. Tuy nhiên, do ngại rủi ro, không biết lúc nào lấy được tài sản, dẫn đến hoang mang, không muốn mua tài sản bán đấu giá liên quan đến thi hành án dân sự; (iv) Các cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên, các cơ quan có liên quan khó có thể thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 27 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự thì: “3. Người mua được tài sản bán đấu giá phải nộp tiền vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự trong thời hạn không quá 15 ngày, kể từ ngày đấu giá thành. Trong thời hạn không quá 30 ngày, trường hợp khó khăn, phức tạp thì không quá 60 ngày, kể từ ngày người mua được tài sản nộp đủ tiền, cơ quan thi hành án dân sự phải tổ chức việc giao tài sản cho người mua được tài sản, trừ trường hợp có sự kiện bất khả kháng. Tổ chức bán đấu giá tài sản có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong việc giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá. Tổ chức, cá nhân cản trở, can thiệp trái pháp luật dẫn đến việc chậm giao tài sản bán đấu giá thành mà gây thiệt hại cho người mua được tài sản bán đấu giá thì phải bồi thường.

4. Cơ quan thi hành án dân sự thực hiện việc thanh toán tiền thi hành án theo quy định tại Điều 47 Luật Thi hành án dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá. Trong thời gian chưa giao được tài sản, cơ quan thi hành án dân sự làm thủ tục đứng tên gửi số tiền đó vào ngân hàng theo hình thức gửi tiền có kỳ hạn 01 tháng cho đến khi giao được tài sản, phần lãi tiền gửi được cộng vào số tiền gửi ban đầu để thi hành án; trường hợp không giao được tài sản thì phần lãi tiền gửi thuộc về người mua được tài sản bán đấu giá, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định khác. Trường hợp đến hạn theo hợp đồng bán đấu giá tài sản mà không giao được tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá thì người này có quyền yêu cầu hủy bỏ hợp đồng”. Với quy định như trên và với việc người phải thi hành án hoặc người thân của họ đang quản lý tài sản thì hầu như không thể thực hiện được đúng thời hạn.

Thứ hai, pháp luật bán đấu giá tài sản và các văn bản có liên quan. Theo quy định hiện hành thì cá nhân có đủ năng lực hành vi dân sự (từ 18 tuổi trở lên), không bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (theo quy định từ Điều 23 đến Điều 25 Bộ luật Dân sự năm 2005), tổ chức đủ tư cách pháp nhân (Điều 94 Bộ luật Dân sự năm 2005) là có đủ điều kiện tham gia mua bán đấu giá tài sản (kể cả tài sản thi hành án dân sự). Tuy nhiên, vấn đề khá quan trọng hiện nay đó là việc xác định những tài sản nào được đưa ra để bán đấu giá, lại chưa được quy định thật rõ ràng, dẫn đến những bất cập, cụ thể:

(i)Trường hợp người phải thi hành án không giao nộp giấy tờ sở hữu nhà đất, nhưng tài sản đó vẫn được xác định là đủ điều kiện để đưa ra bán đấu giá, hệ quả là: Chủ cũ (người phải thi hành án) lợi dụng giấy tờ sở hữu cũ để cản trở việc thực hiện quyền của chủ sử dụng, chủ sở hữu hợp pháp của người mua đấu giá như: Làm đơn từ khiếu nại có tranh chấp tại nhà đất đã được bán đấu giá để cản trở chủ mới (người mua đấu giá) thực hiện việc cho thuê, chuyển nhượng... đối với nhà đất đã mua.

(ii) Chưa quy định chặt chẽ, dẫn đến tài sản khi đã đưa ra bán đấu giá tài sản vẫn coi là bị tranh chấp. Vấn đề này xuất phát từ lý do, các văn bản pháp luật không có quy định cụ thể và các cơ quan quản lý hành chính nhà nước về đất đai cũng không có cơ sở, căn cứ nào để xác định cụ thể trường hợp nào thì được coi là “có tranh chấp về quyền sử dụng đất”. Tất cả đều chỉ căn cứ vào cơ sở duy nhất đó là “có đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai của người dân” và không cần đánh giá đơn đó có cơ sở, có căn cứ pháp luật hay không? Người làm đơn đó có quyền sử dụng hoặc có căn cứ về việc được quyền sử dụng thửa đất đó hay không. Hệ quả là, người mua đấu giá nhà đất bị chủ cũ gây khó dễ trong việc thực hiện các quyền lợi hợp pháp của mình, mặc dù đã được Nhà nước công nhận qua việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới, ngoài việc tổ chức cưỡng chế để được nhận nhà đất đã mua do người phải thi hành án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan liên tục làm đơn khiếu kiện, tranh chấp để cản trở chủ mới thực hiện các quyền của người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở như cho thuê, chuyển nhượng.

3.2. Giải pháp: Từ phân tích tình hình thực tế những vấn đề nêu trên, chúng tôi cho rằng, có nhiều giải pháp trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự. Tuy nhiên, giải pháp cơ bản vẫn là giải pháp liên quan đến pháp luật, trong đó:

Thứ nhất, đối với pháp luật thi hành án dân sự: Như trên chúng tôi đã phân tích, một trong những vấn đề vướng mắc mà các cơ quan thi hành án dân sự đang gặp phải đó là các quy định của pháp luật về thi hành án và bán đấu giá tài sản hiện hành không phù hợp, vì tài sản bán đấu giá là tài sản vẫn do người phải thi hành án hoặc do người thứ ba quản lý. Do vậy, chúng tôi cho rằng cần quy định cụ thể tài sản trước khi đưa ra bán đấu giá phải là tài sản mà cơ quan thi hành án dân sự đang quản lý hoặc một cơ quan thứ ba quản lý, không thể giao cho người phải thi hành án dân sự và người thân thích của họ quản lý. Có như vậy mới khắc phục được tình trạng bán đấu giá không có người mua (do sợ rủi ro), tránh thiệt hại cho người có tài sản (nhiều người mua dẫn đến không bị ép giá, giảm giá) rút ngắn thời gian, đẩy nhanh tiến độ thi hành án (chỉ bán một lần hoặc hai lần là đã thực hiện xong), giảm khó khăn áp lực cho cơ quan thi hành án dân sự (hạn chế sai phạm, dành nhiều thời gian cho các vụ việc khác).

Thứ hai, đối với các văn bản pháp luật có liên quan: Hiện nay, Quốc hội đang chuẩn bị ban hành Luật Đấu giá tài sản. Một trong những vấn đề mà chúng tôi cho rằng để luật này có tính khả thi, phát huy hiệu quả trong cuộc sống, thì cần phải có quy định riêng, đặc thù cho việc bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự. Điều này xuất phát từ những đặc thù riêng biệt của trình tự, thủ tục thi hành án dân sự, đặc điểm đặc trưng của tài sản. Không nên có quy định chung thủ tục bán đấu giá cưỡng bức (như trong thi hành án dân sự) với việc bán đấu giá tài sản tự nguyện như tài sản thông thường khác.

TS. Nguyễn Quang Thái & Đào Thị Thúy Lan
Cục Thi hành án dân sự TP. Hà Nội
Học Viện Quốc Phòng

Tài liệu tham khảo:

[1]. Pháp lệnh về Thi hành án dân sự ngày 28/8/1989 quy định về bán đấu giá tài sản đã kê biên để thi hành án. Đến năm 1995, Bộ luật Dân sự được Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 8 thông qua, trong đó có quy định về bán đấu giá tài sản và giao Chính phủ ban hành quy chế bán đấu giá.

[2]. Đấu giá tài sản được quy định tại các văn bản pháp luật như Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Đất đai, Luật Thương mại, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Quản lý và sử dụng tài sản nhà nước.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: