Thứ tư 09/09/2026 01:22
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bán đấu giá tài sản thi hành án - Một số vấn đề pháp lý cần hoàn thiện

Trong phạm vi bài viết, tác giả phân tích những khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn áp dụng pháp luật về đấu giá tài sản thi hành án, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến vấn đề này.

Khoản 2 Điều 5 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 quy định: “Đấu giá tài sản là hình thức bán tài sản có từ hai người trở lên tham gia đấu giá theo nguyên tắc, trình tự và thủ tục được quy định tại Luật này, trừ trường hợp quy định tại Điều 49 của Luật này”. Có thể thấy, bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự là hình thức mua bán đặc biệt, công khai đối với tài sản thi hành án, theo nguyên tắc và trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, người mua trả giá dựa trên giá khởi điểm do cơ quan thi hành án xác định, người nào trả giá cao nhất sẽ được quyền mua tài sản đấu giá[1]. Trong hoạt động thi hành án dân sự, việc bán đấu giá tài sản được thực hiện trong hai trường hợp: Trường hợp thứ nhất là việc chấp hành viên thực hiện ký hợp đồng bán đấu giá với tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp hoặc Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản thuộc Sở Tư pháp[2]; trường hợp thứ hai là chấp hành viên tự mình thực hiện việc bán đấu giá tài sản nhằm mục đích thu tiền để tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và các cơ quan có thẩm quyền khác. Việc bán đấu giá tài sản của chấp hành viên cũng như việc ký kết hợp đồng bán đấu giá tài sản thi hành án được thực hiện theo các quy định tại Luật Đấu giá tài sản năm 2016; các điều 101, 102, 103, 104 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014, năm 2022 (Luật Thi hành án dân sự); Điều 27 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 của Chính phủ (Nghị định số 62/2015/NĐ-CP); Điều 5 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 01/8/2016 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự (Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC).

Mặc dù, Luật Đấu giá tài sản năm 2016, Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có quy định tương đối cụ thể về việc bán đấu giá tài sản thi hành án, tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định liên quan đến bán đấu giá tài sản thi hành án vẫn còn gặp nhiều vướng mắc, cần được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện. Cụ thể:

Một là, về việc lựa chọn tổ chức bán đấu giá tài sản thi hành án:

Điều 56 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 quy định việc lựa chọn tổ chức đấu giá phải được công khai trên Trang thông tin điện tử của mình và Trang thông tin điện tử chuyên ngành về bán đấu giá tài sản. Điều 101 Luật Thi hành án dân sự quy định: “Việc ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản được tiến hành trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày định giá”. Hướng dẫn cụ thể về nội dung này, Thông tư số 02/2022/TT-BTP ngày 08/02/2022 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản (Thông tư số 02/2022/TT-BTP) và Quy trình lựa chọn tổ chức thẩm định giá, đấu giá tài sản để thi hành án kèm theo Quyết định số 1079/QĐ-TCTHADS ngày 25/12/2020 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự đã quy định cụ thể về thời gian tiến hành thông báo và lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản thi hành án. Theo đó, sau khi có quyết định của người có thẩm quyền về việc đấu giá tài sản, người có tài sản đấu giá thông báo công khai trên Trang thông tin điện tử của mình và Cổng thông tin điện tử quốc gia về đấu giá tài sản về việc lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản với đầy đủ tiêu chí quy định tại Điều 3 và Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư số 02/2022/TT-BTP. Người có tài sản đấu giá thông báo công khai việc lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản trong thời hạn ít nhất là 03 ngày làm việc trước ngày quyết định lựa chọn, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Luật Thi hành án dân sự quy định trong thời hạn 10 ngày kể từ khi định giá tài sản phải ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản. Thực tiễn cho thấy, thời hạn như trên là quá ngắn, không đủ thời gian để chấp hành viên thực hiện thông báo và cho các đương sự thỏa thuận[3]. Trên thực tế, trong 10 ngày làm việc kể từ ngày định giá, chấp hành viên phải tiến hành “cùng lúc” ba công việc: Cho đương sự thỏa thuận lựa chọn tổ chức đấu giá; thông báo công khai về việc bán đấu giá; lựa chọn tổ chức bán đấu giá. Đây là một khoảng thời gian quá ngắn, rất khó khăn trong quá trình thực hiện, hơn nữa, việc quy định như trên dẫn đến bị chồng lấn về thời hạn, vì ngày định giá đã được dùng để xác định mốc thời gian cho đương sự thỏa thuận về tổ chức bán đấu giá (trong thời hạn 05 ngày làm việc)[4], nay lại dùng để xác định việc ký hợp đồng đấu giá của chấp hành viên là chưa phù hợp. Mặt khác, trong trường hợp có nhiều tổ chức đăng ký tham gia đấu giá thì chấp hành viên phải thực hiện chấm điểm tổ chức đấu giá theo các tiêu chí đã được quy định để lựa chọn tổ chức đấu giá[5]. Do đó, tác giả đề nghị sửa đổi quy định tại khoản 2 Điều 101 Luật Thi hành án dân sự theo hướng tăng thời hạn từ 10 ngày lên 15 ngày hoặc sửa đổi cách tính thời hạn, cụ thể như: “Việc ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản được tiến hành trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được kết quả thẩm định giá”.

Hai là, về việc giám sát hoạt động của tổ chức bán đấu giá và giải quyết khiếu nại, tố cáo:

Sau khi chấp hành viên ký kết hợp đồng bán đấu giá tài sản thi hành án với tổ chức bán đấu giá thì tổ chức bán đấu giá sẽ độc lập thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật như thông báo, niêm yết, bán hồ sơ… và cơ quan thi hành án dân sự chỉ giám sát việc thực hiện trên hồ sơ tài liệu do tổ chức bán đấu giá cung cấp. Do đó, trường hợp tổ chức bán đấu giá có hành vi tiêu cực khi bán đấu giá tài sản như hạn chế người mua hồ sơ tham gia đấu giá, không thông báo công khai rõ ràng, thông đồng với người tham gia mua tài sản… nhằm cố tình bán đấu giá không thành[6] để giảm giá tài sản thi hành án thì cơ quan thi hành án rất khó phát hiện và xử lý được. Do đó, cần tăng cường hơn nữa tính chủ động của chấp hành viên trong việc giám sát hoạt động của tổ chức bán đấu giá và quy định rõ ràng, chặt chẽ hơn về trách nhiệm cũng như chế tài xử lý đối với đơn vị đấu giá trong phối hợp với cơ quan thi hành án trong tổ chức bán đấu giá tài sản thi hành án.

Bên cạnh đó, về thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến tổ chức thẩm định giá, bán đấu giá tài sản hiện nay vẫn chưa có quy định pháp luật rõ ràng, dẫn đến tình trạng khi đương sự nộp đơn khiếu nại về việc thẩm định giá, bán đấu giá tài sản thi hành án, việc tách bạch trách nhiệm giải quyết khiếu nại của cơ quan thi hành án và tổ chức đấu giá còn nhiều lúng túng. Trong thực tiễn, có những việc khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của tổ chức đấu giá nhưng tổ chức đấu giá lại yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự giải quyết và ngược lại… dẫn đến khó khăn trong tổ chức thi hành án.

Ba là, về thủ tục bán đấu giá tài sản thi hành án:

Thủ tục bán đấu giá tài sản thi hành án hiện nay được thực hiện theo trình tự, thủ tục chung về bán đấu giá tài sản thi hành án. Tuy nhiên, với những tính chất riêng của tài sản thi hành án, cần có những quy định rõ hơn về hướng xử lý đối với trường hợp phát sinh trong thực tiễn, cụ thể như:

- Trường hợp chỉ có một người đăng ký mua hoặc chỉ có một người tham gia trả giá: Luật Đấu giá tài sản năm 2016 chưa quy định trường hợp chỉ có một người đăng ký mua hoặc chỉ có một người tham gia trả giá trong lần bán đấu giá đầu tiên thì có được coi là bán đấu giá không thành hay không. Tuy nhiên, Tổng cục Thi hành án dân sự đã có Công văn số 1447/TCTHADS-NV2 ngày 10/5/2023 về việc hướng dẫn áp dụng khoản 1 Điều 49 Luật Đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự. Theo quy định tại khoản 1 Điều 49 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 thì việc đấu giá tài sản trong trường hợp chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá, một người tham gia đấu giá, một người trả giá, một người chấp nhận giá chỉ được tiến hành sau khi đã tổ chức cuộc đấu giá lần đầu nhưng không thành. Điều 52 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 quy định các trường hợp đấu giá không thành, trong đó có trường hợp chưa tổ chức cuộc đấu giá (đã hết thời hạn đăng ký mà không có người đăng ký tham gia đấu giá) và trường hợp đã tổ chức cuộc đấu giá (tại cuộc đấu giá không có người trả giá). Tuy nhiên, xét về hiệu lực của văn bản, vẫn cần phải tiếp tục luật hóa quy định này trong quá trình hoàn thiện thể chế.

- Trường hợp người trúng đấu giá không nhận tài sản: Luật Thi hành án dân sự không có quy định giải thích thế nào là người trúng đấu giá, người mua được tài sản đấu giá trong thi hành án dân sự. Theo quy định tại Điều 5 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 thì “người trúng đấu giá” là cá nhân, tổ chức trả giá cao nhất so với giá khởi điểm hoặc bằng giá khởi điểm trong trường hợp không có người trả giá cao hơn giá khởi điểm khi đấu giá theo phương thức trả giá lên; cá nhân, tổ chức chấp nhận mức giá khởi điểm hoặc mức giá đã giảm trong trường hợp đấu giá theo phương thức đặt giá xuống. “Người mua được tài sản đấu giá” là người trúng đấu giá và ký kết hợp đồng mua bán tài sản đấu giá hoặc được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt kết quả đấu giá tài sản.

Theo đó, có thể hiểu, người trúng đấu giá tài sản thi hành án là cá nhân, tổ chức đã trả giá cao nhất theo phương thức trả giá lên[7]. Người mua được tài sản đấu giá thi hành án là người đã trúng đấu giá tài sản thi hành án và ký kết hợp đồng mua bán tài sản đấu giá hoặc được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt kết quả đấu giá tài sản. Người trúng đấu giá, người mua được tài sản bán đấu giá có thể là tổ chức, cá nhân và chỉ xuất hiện khi tài sản thi hành án được đưa vào bán đấu giá.

Điều 27 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định về bán đấu giá và xử lý kết quả bán đấu giá tài sản thi hành án, tuy nhiên, pháp luật thi hành án dân sự chưa quy định trường hợp giao tài sản bán đấu giá thành cho người mua trúng đấu giá mà họ không nhận tài sản thì trong thời gian chờ xử lý tiếp theo, tài sản đó được giao cho ai quản lý. Do đó, tác giả đề nghị bổ sung quy định tại khoản 3 Điều 27 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP về việc giao bảo quản thi hành án đối với trường hợp này.

Bốn là, về xử lý tài sản bán đấu giá không thành:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 104 Luật Thi hành án dân sự, trường hợp người được thi hành án không đồng ý nhận tài sản để thi hành án thì chấp hành viên ra quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá. Nếu giá trị tài sản đã giảm bằng hoặc thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được thi hành án vẫn không nhận để trừ vào số tiền được thi hành án thì tài sản được giao lại cho người phải thi hành án quản lý, sử dụng. Thực tiễn cho thấy, mức giảm giá “bằng hoặc thấp hơn chi phí cưỡng chế” vẫn tạo nên thời gian thực hiện quá dài và không hiệu quả, nhất là đối với những tài sản có giá trị lớn. Trên thực tế có những vụ việc cơ quan thi hành án dân sự đã bán đấu giá, hạ giá hàng chục lần mà vẫn không có người đăng ký mua, người được thi hành án cũng không nhận tài sản để trừ vào tiền được thi hành án… Do đó, đa số quan điểm cho rằng, việc bán đấu giá tài sản thi hành án cần khống chế về số lần bán đấu giá, hạ giá tài sản hoặc xác định một mốc giá trị tương ứng với nghĩa vụ phải thi hành án sao cho phù hợp để có thể nhanh chóng giải quyết dứt điểm vụ việc.

Mặt khác, về thời điểm người được thi hành án có quyền nhận tài sản cũng nên có sự sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Theo quy định tại Điều 104 Luật Thi hành án dân sự, từ sau lần giảm giá thứ hai trở đi mà không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì người được thi hành án có quyền nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án. Thực tiễn cho thấy, quy định như trên vẫn làm kéo dài thời gian tổ chức thi hành án (vì tối thiểu là phải sau ba lần bán đấu giá mà không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì mới đáp ứng đủ điều kiện này)[8]. Do đó, nên quy định ngay từ khi có kết quả thẩm định giá, nếu người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án thì cần công nhận quyền nhận tài sản của họ, như vậy sẽ rút ngắn được thời gian tổ chức thi hành án[9].

Về thủ tục tác nghiệp khi giao lại tài sản cho người phải thi hành án trong trường hợp giá trị tài sản đã giảm bằng hoặc thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được thi hành án vẫn không nhận để trừ vào số tiền được thi hành án[10], hiện nay, pháp luật vẫn chưa có quy định việc giao lại này được thực hiện bằng quyết định hay bằng biên bản. Đồng thời, có thu hồi quyết định kê biên, xử lý tài sản này hay không và nếu người phải thi hành án không còn tài sản khác để thi hành án thì có phân loại hồ sơ là chưa có điều kiện thi hành án hay không? Có ý kiến cho rằng, nên áp dụng tương tự khoản 3 Điều 4 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC để ra quyết định thu hồi quyết định cưỡng chế, kê biên, xử lý tài sản theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 37 Luật Thi hành án dân sự[11] (trường hợp kê biên, xử lý tài sản cầm cố, thế chấp để thi hành án). Đồng thời, áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, ngăn chặn chuyển dịch đối với tài sản này. Nếu người phải thi hành án không có tài sản nào khác để thi hành án thì nên phân loại hồ sơ vào diện chưa có điều kiện thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 44a Luật Thi hành án dân sự[12], do còn có những quan điểm khác nhau nên cần có quy định hướng dẫn cụ thể hơn về vấn đề này.

Trong bối cảnh việc thi hành án ngày càng phát sinh nhiều và tăng cao về giá trị như hiện nay, việc hoàn thiện các quy định pháp luật về đấu giá tài sản thi hành án là rất quan trọng và cần thiết, góp phần rút ngắn thời gian, tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành án.

ThS. Hoàng Thị Thanh Hoa

Khoa Đào tạo các chức danh thi hành án dân sự, Học viện Tư pháp

[1]. Xem thêm: Bùi Thị Thu Hiền, Bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sỹ, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014.

[2]. Điều 101 Luật Thi hành án dân sự.

[3]. Theo Báo cáo số 234/BC-TKDLCN ngày 12/10/2020 cua Trung tâm Thống kê, quản lý dữ liệu và ứng dụng công nghệ thông tin, Tổng cục Thi hành án dân sự về kết quả thi hành án dân sự 12 tháng năm 2020; năm 2020, tổng số việc phải thi hành là 885.833 việc, tương ứng với số tiền trên 293.869 tỷ đồng.

[4]. Điều 98 Luật Thi hành án dân sự.

[5]. Điều 7, Điều 8 Quy trình lựa chọn tổ chức thẩm định giá, đấu giá tài sản để thi hành án.

[6]. Khoản 1 Điều 52 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 quy định: “Các trường hợp đấu giá không thành bao gồm: a) Đã hết thời hạn đăng ký mà không có người đăng ký tham gia đấu giá”.

[7]. Điều 58 Luật Đấu giá tài sản năm 2016.

[8]. Khoản 1 Điều 104 Luật Thi hành án dân sự.

[9]. Xem thêm: Hoàng Thị Thanh Hoa, Hồ Quân Chính, Nguyễn Văn Nghĩa, Bình luận Luật Thi hành án Dân sự, Nxb. Tư pháp, 2019, tr. 498.

[10]. khoản 3 Điều 104 Luật Thi hành án dân sự.

[11]. Khoản 3 Điều 4 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC quy định: Trường hợp kê biên, xử lý tài sản để đảm bảo thi hành án theo quy định tại Điều 90 Luật Thi hành án dân sự mà giá của tài sản sau khi giảm giá không lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án thì người có thẩm quyền ra quyết định về thi hành án có trách nhiệm ra ngay quyết định thu hồi quyết định cưỡng chế, kê biên, xử lý tài sản theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 37 Luật Thi hành án dân sự. Đồng thời, có văn bản yêu cầu người nhận cầm cố, nhận thế chấp thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC.

[12]. Xem thêm: Hoàng Thị Thanh Hoa, Hồ Quân Chính, Nguyễn Văn Nghĩa, Bình luận Luật Thi hành án dân sự, Nxb. Tư pháp, 2019, tr. 498.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 390), tháng 10/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: