Thứ tư 20/05/2026 07:30
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về chế định giám đốc thẩm, tái thẩm trong tố tụng hình sự

Bàn về chế định giám đốc thẩm, tái thẩm trong tố tụng hình sự

Tóm tắt: Bài viết bàn về một số vướng mắc, bất cập trong quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) về chế định giám đốc thẩm, tái thẩm, từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này trong thời gian tới.

Abstract: The article discusses some problems and inadequacies in the provisions of the 2015 Criminal Procedure Code (amended and supplemented in 2021) on the institution of cassation and revision, from there, proposing some solutions to improve the law on this issue in the coming time.

1. Một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về chế định giám đốc thẩm, tái thẩm

Thứ nhất, về tính chất của giám đốc thẩm, tái thẩm:

“Giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án”[1].

“Tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án, quyết định đó”[2].

Như vậy, thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) nhằm khắc phục những sai lầm, thiếu sót trong việc xử lý vụ án của các Tòa án mà bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án hoặc bị kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án, quyết định đó. Hay nói cách khác, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định giám đốc thẩm, tái thẩm là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, về căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm:

Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong các căn cứ: (i) Kết luận trong bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; (ii) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án; (iii) Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật[3].

Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong các căn cứ: (i) Có căn cứ chứng minh lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản, lời dịch của người phiên dịch, bản dịch thuật có những điểm quan trọng không đúng sự thật; (ii) Có tình tiết mà điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm do không biết được mà kết luận không đúng làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án; (iii) Vật chứng, biên bản về hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, biên bản hoạt động tố tụng khác hoặc những chứng cứ, tài liệu, đồ vật khác trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật; (iv) Những tình tiết khác làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án[4].

Căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm là những yêu cầu cơ bản có tính nguyên tắc do pháp luật quy định bắt buộc người có thẩm quyền kháng nghị phải tuân thủ khi ra quyết định kháng nghị một bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Thứ ba, về thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm:

Theo quy định tại Điều 373 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, những người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm gồm: (i) Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. (ii) Chánh án Tòa án quân sự trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự khu vực. (iii) Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.

Theo quy định tại Điều 400 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, những người có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm gồm: (i) Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. (ii) Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự khu vực. (iii) Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.

Theo quy định trên, chủ thể có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm bao gồm cả Viện kiểm sát và Tòa án, còn quyền kháng nghị tái thẩm chỉ thuộc về Viện kiểm sát. Đây cũng là một điểm khác biệt giữa thủ tục tái thẩm và giám đốc thẩm. Có thể nói, so với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định một cách rõ ràng hơn về chủ thể có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.

Thứ tư, về thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm:

- Thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm:

+ Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị: Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật là không chấp nhận hoàn toàn kháng nghị. Nếu Hội đồng giám đốc thẩm chấp nhận một phần kháng nghị thì không thể giữ nguyên bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà rơi vào trường hợp sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp vụ án có nhiều người và kháng nghị cũng đối với nhiều người, Hội đồng giám đốc thẩm có thể chấp nhận kháng nghị đối với người này mà không chấp nhận kháng nghị đối với người khác thì cũng thuộc trường hợp sửa bản án chứ không thuộc trường hợp không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, vì suy cho cùng, bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật vẫn bị sửa.

+ Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm bị hủy, sửa không đúng pháp luật: Việc Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có thể hủy một phần hoặc toàn bộ bản án đó, đồng thời giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm bị hủy, sửa không đúng pháp luật.

+ Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại: Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại trong trường hợp: Việc điều tra xét hỏi tại phiên tòa phiến diện hoặc không đầy đủ; kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi điều tra, truy tố hoặc xét xử; có những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật Hình sự…

+ Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án: Việc Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án, có thể hủy một phần hoặc toàn bộ bản án đó và đình chỉ vụ án đối với một hoặc tất cả những người bị kết án tùy thuộc vào bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật sai lầm nhiều hay sai lầm ít. Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án nếu có một trong những căn cứ quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

+ Sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật: Khi xét kháng nghị, Hội đồng giám đốc thẩm cũng có quyền sửa bản án hoặc quyết định bị kháng nghị nếu xét thấy bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật có sai lầm; Hội đồng giám đốc thẩm không thể tăng hình phạt hoặc áp dụng điều khoản về tội nặng hơn nhưng có quyền sửa hình phạt và áp dụng điều, khoản của Bộ luật Hình sự về tội nhẹ hơn đối với người bị kháng nghị và cả những người không bị kháng nghị theo hướng đó. Tuy nhiên, việc Hội đồng giám đốc thẩm có quyền sửa hình phạt và áp dụng điều khoản Bộ luật Hình sự về tội nhẹ hơn đối với người bị kháng nghị và cả những người bị kháng nghị theo hướng đó nhưng chỉ đối với bản án bị kháng nghị.

- Thẩm quyền của Hội đồng tái thẩm: (i) Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị: Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị khi thấy những tình tiết mới được đưa ra không làm thay đổi nội dung của bản án. (ii) Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại. (iii) Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án.

2. Một số vướng mắc trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về chế định giám đốc thẩm, tái thẩm

2.1. Áp dụng căn cứ giám đốc thẩm, tái thẩm

Thứ nhất, về căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm:

- Kết luận trong bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án: Các tình tiết khách quan của vụ án là những sự kiện có thật diễn ra ngoài ý thức chủ quan của con người, tồn tại không phụ thuộc vào ý muốn của con người. Do đó, những tình tiết nào đã bị con người làm cho nó thay đổi theo ý muốn của con người thì không còn là tình tiết khách quan, trung thực của vụ án nữa.

Về kết luận trong bản án, hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về việc hiểu phần nào trong bản án của Tòa án là kết luận trong bản án. Cơ cấu của bản án gồm phần mở đầu, nội dung vụ án, nhận định và quyết định. Tuy nhiên, theo tác giả, kết luận trong bản án không chỉ là phần quyết định mà bao gồm từ phần mở đầu cho đến phần quyết định, trong đó, phần nhận định là phần kết luận rất quan trọng, bởi vì có nhận định đúng thì mới quyết định đúng. Đặc biệt, quan trọng nhất là phần quyết định của bản án. Hầu hết các bản án bị kháng nghị là do trong bản án, phần nhận định và quyết định không đúng với thực tế khách quan. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cũng đã có bản án bị kháng nghị chỉ vì trong bản án ghi người bị hại có mặt nhưng thực tế, người bị hại không có mặt tại phiên tòa. Việc ghi người bị hại có mặt tại phiên tòa là một kết luận không phù hợp với thực tế khách quan.

Đối với các quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án không chỉ bao gồm các quyết định của Tòa án mà còn bao gồm cả các quyết định của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát… Nếu các quyết định này không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án thì cũng là căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm.

- Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án: Có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi điều tra, truy tố hoặc xét xử là trường hợp Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định bắt buộc phải tiến hành hoặc tiến hành theo thủ tục tố tụng đó nhưng cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng bỏ qua hoặc không thực hiện đúng, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi của bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc làm cho việc giải quyết vụ án thiếu khách quan, toàn diện.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được ban hành, tuy nhiên, đến nay, chưa có văn bản giải thích chính thức để đánh giá một cách rành mạch, phân biệt một cách rõ ràng ranh giới giữa vi phạm nghiêm trọng với vi phạm chưa tới mức nghiêm trọng. Theo tác giả, các trường hợp vi phạm thủ tục tố tụng được coi là nghiêm trọng phải kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm như: Ở giai đoạn điều tra (khởi tố không có yêu cầu của người bị hại, điều tra viên có hành vi bức cung, dùng nhục hình…); ở giai đoạn truy tố (truy tố người chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự, truy tố về một tội phạm nhẹ hơn tội mà bị cáo đã phạm nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm không phát hiện được hoặc có phát hiện ra nhưng Viện kiểm sát không thay đổi cáo trạng...); ở giai đoạn xét xử (xét xử sai thẩm quyền, việc giao các quyết định của Tòa án không đúng với quy định của pháp luật, thành phần hội đồng xét xử không đúng với quy định của pháp luật, bị cáo vắng mặt có lý do chính đáng nhưng Tòa án vẫn xét xử vắng mặt họ ở phiên tòa sơ thẩm, người bào chữa do cơ quan tiến hành tố tụng chỉ định vắng mặt nhưng vẫn xét xử, người bị hại vắng mặt trong trường hợp sự vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc xác định hành vi phạm tội của bị cáo nhưng Tòa án vẫn tiến hành xét xử, chủ tọa không đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử, biên bản nghị án phản ánh nội dung quyết định của hội đồng xét xử không đúng với phần quyết định của bản án đã tuyên tại Tòa…).

- Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật: Có những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật Hình sự là việc áp dụng sai điểm, khoản, điều luật của Bộ luật Hình sự dẫn đến xét xử bị cáo về tội nặng hơn hoặc tội nhẹ hơn, về khoản nặng hơn hoặc nhẹ hơn không đúng với nguyên tắc xử lý vụ án. Tuy nhiên, cũng có thể coi là sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật Hình sự nếu áp dụng đúng điểm, khoản, điều luật của Bộ luật Hình sự nhưng xử quá nhẹ hoặc xử quá nặng; buộc bồi thường không đúng...

Thứ hai, về căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm:

- Có căn cứ chứng minh lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản, lời dịch của người phiên dịch, bản dịch thuật có những điểm quan trọng không đúng sự thật.

- Có tình tiết mà điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm do không biết được mà kết luận không đúng làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án.

- Vật chứng, biên bản về hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, biên bản hoạt động tố tụng khác hoặc những chứng cứ, tài liệu, đồ vật khác trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật: Khi vật chứng, biên bản điều tra, biên bản các hoạt động tố tụng khác hoặc những tài liệu khác trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật sẽ dẫn đến việc Tòa án sẽ ra bản án hoặc quyết định không đúng căn cứ pháp luật, khiến cho vụ án bị xét xử sai.

- Những tình tiết khác làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án: Những tình tiết khác làm cho việc giải quyết vụ án không đúng sự thật là những tình tiết mới ngoài các tình tiết được liệt kê trên đây. Tuy nhiên, các tình tiết này cũng phải là các tình tiết có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó.

Nguyên nhân của tình trạng trên là do Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã nêu những căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm nhưng cho đến nay, chưa có sự giải thích chính thức về nội dung của các căn cứ trên. Ngoài ra, một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về chế định giám đốc thẩm, tái thẩm cũng còn có những quy định chưa phù hợp với thực tiễn.

2.2. Vướng mắc về thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm

- Về thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm: Hội đồng giám đốc thẩm có thẩm quyền trong việc “sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật”. Tác giả cho rằng, quy định Hội đồng giám đốc thẩm có thẩm quyền sửa bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật là không hợp lý bởi vì giám đốc thẩm không phải một cấp xét xử. Đối tượng của giám đốc thẩm là các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Khi có kháng nghị, Hội đồng giám đốc thẩm sẽ xem xét, đánh giá các bản án, quyết định này có vi phạm pháp luật hay không, mức độ vi phạm như thế nào để đưa ra cách thức giải quyết. Vì vậy, khi phát hiện, có thể yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử lại mới phù hợp yêu cầu thực tiễn hiện nay.

- Về thẩm quyền của Hội đồng tái thẩm: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không quy định căn cứ để Hội đồng tái thẩm tuyên hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm hủy, sửa không đúng pháp luật. Vấn đề này dẫn đến, nếu phát hiện bản án của Tòa sơ thẩm hoặc phúc thẩm trước đó đã đúng, thì Hội đồng tái thẩm chỉ có thể quyết định hủy án để điều tra, xét xử lại chứ không được giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm trước đó.

Đối với thẩm quyền không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị khi áp dụng phát sinh trường hợp, không thể giữ nguyên bản án vì khi tiến hành tái thẩm người bị kết án theo hướng không có lợi chết, nếu kháng nghị không có căn cứ, Hội đồng tái thẩm sẽ không chấp nhận kháng nghị nhưng không giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà phải đình chỉ vụ án đối với người bị kết án đã chết. Vì vậy, trong trường hợp này, nên chăng có quy định loại trừ trường hợp Hội đồng tái thẩm có thể hủy bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án?

3. Giải pháp hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về chế định giám đốc thẩm, tái thẩm

Một là, liên ngành Tư pháp trung ương cần nhanh chóng ban hành thông tư hướng dẫn áp dụng nội dung các chế định giám đốc thẩm, tái thẩm. Trong đó, tập trung hướng dẫn về căn cứ, thời hạn, đối tượng của chế định giám đốc thẩm, tái thẩm nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Hai là, nghiên cứu, tổng kết và sửa đổi căn cứ của chế định giám đốc thẩm, cụ thể là sửa đổi Điều 371 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 theo hướng, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án bị kháng nghị khi có một trong các căn cứ sau: (i) Kết luận trong bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với những chứng cứ của vụ án; (ii) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của người tham gia tố tụng; (iii) Có sai phạm nghiêm trọng trong việc áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Dân sự.

Ba là, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung về thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm.

- Về thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm: Nhằm bảo đảm nguyên tắc xét xử hai cấp, đồng thời thể hiện tính chất đặc biệt của thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự nên cân nhắc bỏ quy định tại khoản 5 Điều 388 và Điều 393 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về thẩm quyền sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Hội đồng giám đốc thẩm, thay vào đó là thẩm quyền hủy án để điều tra, truy tố, xét xử lại.

- Về thẩm quyền của Hội đồng tái thẩm: Nghiên cứu bổ sung thêm thẩm quyền tuyênhủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm hủy, sửa không đúng pháp luật.

TS. Trần Thảo

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

[1]. Điều 370 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).

[2]. Điều 397 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).

[3]. Điều 371 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).

[4]. Điều 398 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 380), tháng 5/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: