Thứ năm 30/04/2026 09:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý theo Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017

Chủ thể thực hiện TGPL là hai lực lượng chính đó là chủ thể trong nhà nước và chủ thể ngoài nhà nước. Cách phân loại này dựa trên cơ sở nguồn tài chính chi trả cho hoạt động, vận hành của từng đối tượng chủ thể. Đối với các Trung tâm TGPL và các trợ giúp viên pháp lý, chủ thể này là do nhà nước thành lập, nhà nước phải sử dụng nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước để chi trả cho hoạt động vận hành của các chủ thể này và họ là các cơ quan đơn vị sự nghiệp, họ là viên chức và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước.


1. Khái niệm về chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý

Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã tạo hành lang pháp lý quan trọng thúc đẩy công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) phát triển, đáp ứng nhu cầu trợ giúp pháp lý, góp phần nâng cao nhận thức của người dân về pháp luật TGPL nói riêng, cũng như các quy định của pháp luật nói chung. TGPL là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL trong vụ việc TGPL, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật.

2. Các quy định về chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý theo Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017

Chủ thể thực hiện TGPL là những thực thể được Nhà nước thành lập, công nhận để họ triển khai, thực hiện những công việc liên quan đến việc TGPL cho những đối tượng được TGPL. Theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý, chủ thể thực hiện TGPL bao gồm: Tổ chức thực hiện TGPL[1] và người thực hiện TGPL[2].

Tổ chức thực hiện TGPL gồm: Trung tâm TGPL nhà nước và Chi nhánh của Trung tâm; Trung tâm TGPL nhà nước là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Tư pháp, do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định thành lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu, trụ sở và tài khoản riêng. Biên chế và kinh phí hoạt động của Trung tâm TGPL nhà nước do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định[3].

Tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật tham gia TGPL phải đăng ký bằng văn bản về phạm vi, hình thức, lĩnh vực TGPL với Sở Tư pháp nơi đã cấp Giấy đăng ký hoạt động. Đăng ký tham gia TGPL được thực hiện theo mẫu thống nhất và phù hợp với phạm vi, hình thức, lĩnh vực pháp luật được ghi trong Giấy đăng ký hoạt động. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật khi tham gia TGPL gồm: (i) Được thực hiện TGPL trong phạm vi Giấy đăng ký tham gia TGPL, phối hợp với Trung tâm TGPL nhà nước hoặc Chi nhánh của Trung tâm để thực hiện có hiện quả vụ việc TGPL; (ii) Được đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến vụ việc TGPL để phục vụ thực hiện TGPL; (iii) Được giới thiệu người có yêu cầu TGPL đến Trung tâm TGPL nhà nước hoặc Chi nhánh của Trung tâm để được TGPL, từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý trong những trường hợp quy định tại Luật Trợ giúp pháp lý; (iv) Được Nhà nước hỗ trợ bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng TGPL cho đội ngũ người tham gia TGPL; (v) Chịu trách nhiệm trước pháp luật và phải bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra trong khi thực hiện TGPL; (vi) Chịu sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thực hiện chế độ báo cáo, thống kê về TGPL cho Sở Tư pháp nơi đăng ký; giải quyết tranh chấp trong TGPL theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý và quy định khác của pháp luật có liên quan; được kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những vấn đề liên quan đến thi hành pháp luật phát sinh trong quá trình thực hiện TGPL.

Người thực hiện TGPL là luật sư, trợ giúp viên pháp lý; cộng tác viên của Trung tâm TGPL nhà nước (sau đây gọi là cộng tác viên); tư vấn viên pháp luật làm việc trong tổ chức tư vấn pháp luật (sau đây gọi là tư vấn viên pháp luật). Người thuộc một trong các trường hợp sau đây thì không được tham gia TGPL: Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị kết án mà chưa được xóa án tích hoặc đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục hoặc quản chế hành chính; mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; bị xử lý kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc mà chưa hết thời hạn ba năm, kể từ ngày quyết định buộc thôi việc có hiệu lực; đang bị tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề luật sư; bị thu hồi Giấy chứng nhận Tư vấn viên pháp luật.

Trợ giúp viên pháp lý được xác định là lực lượng của Nhà nước giữ vị trí trung tâm của chế định người thực hiện TGPL để thực hiện vai trò nòng cốt của Nhà nước trong việc thực hiện và tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý. Đây là lực lượng được Nhà nước giao nhiệm vụ chịu trách nhiệm chính trong việc thực hiện TGPL. Trợ giúp viên pháp lý là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, có Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ TGPL, có thời gian làm công tác pháp luật từ hai năm trở lên, có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý theo đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp. Như vậy, chỉ có Trung tâm TGPL nhà nước, Chi nhánh của Trung tâm mới có trợ giúp viên pháp lý, các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý khác sẽ không có trợ giúp viên pháp lý và không phải tất cả những cán bộ, công chức làm việc tại Trung tâm TGPL nhà nước, Chi nhánh của Trung tâm đều là trợ giúp viên pháp lý. Trợ giúp viên pháp lý là một ngạch viên chức nhà nước nên toàn bộ hoạt động của trợ giúp viên pháp lý sẽ được điều chỉnh bởi quy định của pháp luật dành cho viên chức nhà nước. Vì vậy, ngoài các quyền và nghĩa vụ dành cho người thực hiện trợ giúp pháp lý, họ sẽ có các quyền và thực hiện các nghĩa vụ của viên chức nhà nước theo quy định của Luật Viên chức.

Cộng tác viên trợ giúp pháp lý là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt, có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, tự nguyện tham gia TGPL mà không thuộc một trong các trường hợp bị cấm theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý thì được Giám đốc Sở Tư pháp xem xét, công nhận và cấp thẻ cộng tác viên trong các trường hợp sau đây: Người có bằng cử nhân luật; người có bằng đại học khác làm việc trong các ngành, nghề có liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, đây là trường hợp những người đã có bằng cử nhân luật nhưng họ lại thỏa mãn đồng thời hai điều kiện, đó là có bằng đại học khác và đang làm việc trong các ngành nghề có liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân như ngành địa chính, tài chính, môi trường, văn hóa, giáo dục, lao động, thương binh và xã hội, làm việc trong các cơ quan bảo vệ pháp luật, trong các tổ chức chính trị - xã hội...; người thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi có bằng trung cấp luật hoặc có thời gian làm công tác pháp luật từ ba năm trở lên hoặc có kiến thức pháp luật và có uy tín trong cộng đồng. Cộng tác viên tham gia TGPL theo sự phân công của Giám đốc Trung tâm TGPL nhà nước. Cộng tác viên không phải là luật sư chỉ tham gia TGPL bằng hình thức tư vấn pháp luật. Khi tham gia TGPL, cộng tác viên được hưởng chế độ bồi dưỡng và chi phí hành chính theo quy định của pháp luật.

Luật sư tham gia trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về luật sư, tham gia TGPL với tư cách cộng tác viên của Trung tâm TGPL nhà nước theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý. Luật sư thực hiện TGPL là những người được phép hành nghề luật sư theo quy định của pháp luật về luật sư. Luật sư tham gia thực hiện TGPL theo quy định của pháp luật về luật sư[4]. Luật sư không được từ chối thực hiện nghĩa vụ trợ giúp pháp lý trừ trường hợp có lý do chính đáng. Liên đoàn Luật sư Việt Nam hướng dẫn về thời gian, cách thức, hình thức thực hiện TGPL; hình thức xử lý kỷ luật đối với luật sư vi phạm nghĩa vụ TGPL; định kỳ hàng năm đánh giá về hoạt động TGPL của luật sư, báo cáo Bộ Tư pháp[5]. Khi thực hiện TGPL miễn phí luật sư phải tận tâm với người được trợ giúp như đối với khách hàng trong những vụ việc có thù lao.

Như vậy, chủ thể thực hiện TGPL là hai lực lượng chính đó là chủ thể trong nhà nước và chủ thể ngoài nhà nước. Cách phân loại này dựa trên cơ sở nguồn tài chính chi trả cho hoạt động, vận hành của từng đối tượng chủ thể. Đối với các Trung tâm TGPL và các trợ giúp viên pháp lý, chủ thể này là do nhà nước thành lập, nhà nước phải sử dụng nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước để chi trả cho hoạt động vận hành của các chủ thể này và họ là các cơ quan đơn vị sự nghiệp, họ là viên chức và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Đối với các tổ chức ký hợp đồng với Sở Tư pháp các tỉnh, các cộng tác viên, luật sư… đây là các chủ thể không phải Nhà nước thành lập mà là các chủ thể được Nhà nước công nhận. Toàn bộ các nguồn tài chính để chi trả cho các hoạt động vận hành của các chủ thể này là tự họ phải bỏ ra bằng nguồn tài chính của chính họ, Nhà nước không phải bỏ ra khoản tài chính nào từ ngân sách nhà nước và họ cũng không phải là viên chức nhà nước. Đây chính là sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố chi phối, yếu tố chủ lực của Nhà nước và yếu tố xã hội hóa nguồn lực xã hội cho công tác TGPL.

Theo Báo cáo đánh giá kết quả 05 năm triển khai Đề án đổi mới công tác TGPL giai đoạn 2015 - 2025[6], với mục tiêu Đề án đặt ra, các quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã nâng tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý ngang bằng với tiêu chuẩn của luật sư, đồng thời, còn có quy định chuyển tiếp, trong vòng 05 năm kể từ ngày 01/01/2018 người bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý phải có chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư, nếu không sẽ bị thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý. Từ năm 2018 đến nay, Bộ Tư pháp đã tổ chức kiểm tra hết tập sự TGPL; tổ chức nhiều lớp bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp trợ giúp viên pháp lý hạng II và tổ chức thăng hạng chức danh nghề nghiệp trợ giúp viên pháp lý hạng II. Ngoài ra, từ năm 2017 đến nay, theo Quyết định số 32/2016/QĐ-TTg ngày 08/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ, ngân sách trung ương đã hỗ trợ kinh phí để thực hiện tập huấn tăng cường năng lực cho người thực hiện TGPL và hỗ trợ cho các viên chức của Trung tâm tại các địa phương có huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn tham gia khóa đào tạo nghề luật sư. Hàng năm, ở trung ương và địa phương đã tổ chức nhiều lớp tập huấn kỹ năng TGPL với nhiều hình thức đa dạng trong các lĩnh vực tố tụng hình sự, dân sự, hành chính; kỹ năng TGPL cho người khuyết tật có khó khăn về tài chính; kỹ năng TGPL cho nạn nhân bạo lực phụ nữ, trẻ em gái... cho đội ngũ người thực hiện TGPL để trang bị cho các trợ giúp viên pháp lý nói riêng và người thực hiện TGPL nói chung kiến thức, kỹ năng nhằm nâng cao năng lực người thực hiện TGPL. Huy động nguồn lực xã hội hóa công tác TGPL, đặc biệt là sự tham gia thực hiện TGPL của luật sư là một trong những chủ thể ảnh hưởng rất lớn đến công tác TGPL. Chính vì điều này, Bộ Tư pháp đã tham mưu Chính phủ ban hành quy định tăng mức bồi dưỡng thực hiện vụ việc tham gia tố tụng cho luật sư, tổ chức ký hợp đồng thực hiện TGPL. Đặc biệt, thể chế hóa tinh thần đổi mới về việc huy động luật sư có kinh nghiệm, trình độ, các tổ chức hành nghề luật sư có uy tín tham gia thực hiện TGPL để người dân có quyền tiếp cận dịch vụ TGPL có chất lượng. Bên cạnh việc đăng ký tham gia TGPL, Luật Trợ giúp pháp lý quy định thêm cơ chế ký hợp đồng và được chi trả thù lao khi thực hiện TGPL đã tạo thêm cơ hội, thu hút được những tổ chức chất lượng tham gia cung cấp dịch vụ TGPL[7]. Hiện nay, các Sở Tư pháp đã công bố danh sách người thực hiện TGPL và tổ chức thực hiện TGPL tại địa phương, đăng tải trên trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp và gửi Bộ Tư pháp để tổng hợp, đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ Tư pháp. Triển khai các quy định nêu trên, các địa phương đã tích cực xây dựng kế hoạch ký hợp đồng với luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật, lựa chọn những tổ chức, cá nhân có đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của pháp luật để ký hợp đồng. Tính đến hết năm 2019, trên toàn quốc có 24 tổ chức ký hợp đồng thực hiện TGPL với các Sở Tư pháp thực hiện TGPL (trong đó có 16 tổ chức hành nghề luật sư, 08 tổ chức tư vấn pháp luật); 174 tổ chức đăng ký tham gia TGPL với các Sở Tư pháp (trong đó có 143 tổ chức hành nghề luật sư, 31 tổ chức tư vấn pháp luật); 533 luật sư và 132 cộng tác viên ký hợp đồng thực hiện TGPL với các Trung tâm TGPL nhà nước. Bên cạnh đó, để đẩy mạnh đa dạng hóa chủ thể tham gia TGPL, Bộ Tư pháp và Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã ký Quy chế phối hợp số 4617/QCPH/BTP-LĐLSVN ngày 28/12/2016 về hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư, quy định có nội dung phối hợp trong việc giới thiệu và lựa chọn luật sư tham gia TGPL, đánh giá chất lượng TGPL. Căn cứ vào Quy chế phối hợp này, Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố phối hợp hoặc chỉ đạo Trung tâm TGPL nhà nước trong phạm vi thẩm quyền của mình phối hợp với Đoàn luật sư xây dựng quy chế phối hợp trong công tác TGPL với những hoạt động cụ thể phù hợp với điều kiện thực tiễn của các địa phương. Ngoài ra, Bộ Tư pháp cũng đã ký kết với các chương trình phối hợp với Hội Luật gia Việt Nam giai đoạn 2018 - 2023, với Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh giai đoạn 2018 - 2022..., trong đó có phối hợp trong việc thông tin, giới thiệu người được TGPL đến Trung tâm TGPL nhà nước.

3. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chủ thể trợ giúp pháp lý

Thứ nhất, chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý trong nhà nước cần phải được kiện toàn và nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực để đáp ứng nhu cầu, đòi hỏi của những đối tượng được TGPL với mục đích hướng đến là Nhà nước giảm dần sự tham gia trực tiếp vào các vụ việc TGPL thông qua các trợ giúp viên pháp lý, tăng cường và dần tập trung vào thực hiện công tác quản lý, vận hành, xây dựng hành lang pháp lý để làm nền tảng, động lực cho các chủ thể trong xã hội, đáp ứng những điều kiện nhất định thì sẽ được tham gia vào các hoạt động TGPL nhưng vẫn đảm bảo chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trong hoạt động TGPL.

Thứ hai, huy động và phát huy tối đa nguồn lực xã hội hóa chủ thể thực hiện TGPL, đặc biệt chủ thể thực hiện TGPL là luật sư. Ngoài việc đáp ứng các điều kiện về trình độ năng lực và chuyên môn thì các luật sư đã có sẵn những nền tảng về cơ sở vật chất, nguồn thu nhập và các yếu tố khác trong quá trình thực hiện nghề nghiệp chuyên môn. Mặt khác, bản thân các luật sư đã và đang thực hiện nhiệm vụ chính trị theo sự phân công của Nhà nước là có trách nhiệm tham gia các vụ án hình sự theo chỉ định của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với những vụ án bắt buộc phải có luật sư bào chữa. Các vụ việc này về bản chất cũng chính là hoạt động TGPL.

Thứ ba, cần đặt nhân tố trung tâm trong hoạt động TGPL đó chính là những đối tượng được thụ hưởng hoạt động TGPL. Đối tượng được TGPL cần được hưởng dịch vụ pháp lý tốt nhất, cần được sử dụng với chất lượng cao nhất, được đáp ứng nhu cầu thuận tiện, dễ dàng, tránh hình thức, tránh các thủ tục hành chính không cần thiết và được đối xử bình đẳng, công bằng. Chính vì vậy, chủ thể thực TGPL phải luôn đặt mình vào điều kiện của họ để trau dồi, hoàn chỉnh, nâng cao trình độ, thực hiện tối đa trách nhiệm của mình thì mới có thể tạo được niềm tin, sự tin tưởng của những đối tượng được TGPL.

Mặc dù còn một số hạn chế cần khắc phục nhưng có thể thấy, các quy định của pháp luật về chủ thể thực hiện TGPL theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã đảm bảo tính phù hợp với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, sự đồng bộ, tương thích, thống nhất với hệ thống pháp luật trong nước cũng như về sự tương thích, phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia. Đồng thời, các quy định về chủ thể thực hiện TGPL đảm bảo tính khả thi, phù hợp thực tiễn của Việt Nam.

ThS. LS. Nguyễn Văn Hà
Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội



[1]. Xem: Điều 10 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.

[2]. Xem: Điều 17 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.

[3]. Xem: Điều 11 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.

[4]. Điểm d khoản 2 Điều 21, khoản 10 Điều 65 và điểm đ khoản 2 Điều 67 của Luật Luật sư năm 2012.

[5]. Quyết định số 93/QĐ-BTV ngày 09/10/2014 của Liên đoàn Luật sư Việt Nam ban hành quy định thực hiện nghĩa vụ trợ giúp pháp lý của luật sư.

[6]. Bộ Tư pháp (2020), Báo cáo đánh giá một số kết quả 05 năm triển khai đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý giai đoạn 2015 - 2025, Hà Nội.

[7]. Nghị định số 144/2017/NĐ-CP ngày 15/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý đã quy định các chế độ, chính sách đối với trợ giúp viên pháp lý và thù lao, chi phí thực hiện vụ việc cho người thực hiện TGPL khác và các tổ chức ký hợp đồng thực hiện TGPL.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: