Thứ hai 07/09/2026 04:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý theo Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017

Chủ thể thực hiện TGPL là hai lực lượng chính đó là chủ thể trong nhà nước và chủ thể ngoài nhà nước. Cách phân loại này dựa trên cơ sở nguồn tài chính chi trả cho hoạt động, vận hành của từng đối tượng chủ thể. Đối với các Trung tâm TGPL và các trợ giúp viên pháp lý, chủ thể này là do nhà nước thành lập, nhà nước phải sử dụng nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước để chi trả cho hoạt động vận hành của các chủ thể này và họ là các cơ quan đơn vị sự nghiệp, họ là viên chức và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước.


1. Khái niệm về chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý

Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã tạo hành lang pháp lý quan trọng thúc đẩy công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) phát triển, đáp ứng nhu cầu trợ giúp pháp lý, góp phần nâng cao nhận thức của người dân về pháp luật TGPL nói riêng, cũng như các quy định của pháp luật nói chung. TGPL là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL trong vụ việc TGPL, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật.

2. Các quy định về chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý theo Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017

Chủ thể thực hiện TGPL là những thực thể được Nhà nước thành lập, công nhận để họ triển khai, thực hiện những công việc liên quan đến việc TGPL cho những đối tượng được TGPL. Theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý, chủ thể thực hiện TGPL bao gồm: Tổ chức thực hiện TGPL[1] và người thực hiện TGPL[2].

Tổ chức thực hiện TGPL gồm: Trung tâm TGPL nhà nước và Chi nhánh của Trung tâm; Trung tâm TGPL nhà nước là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Tư pháp, do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định thành lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu, trụ sở và tài khoản riêng. Biên chế và kinh phí hoạt động của Trung tâm TGPL nhà nước do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định[3].

Tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật tham gia TGPL phải đăng ký bằng văn bản về phạm vi, hình thức, lĩnh vực TGPL với Sở Tư pháp nơi đã cấp Giấy đăng ký hoạt động. Đăng ký tham gia TGPL được thực hiện theo mẫu thống nhất và phù hợp với phạm vi, hình thức, lĩnh vực pháp luật được ghi trong Giấy đăng ký hoạt động. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật khi tham gia TGPL gồm: (i) Được thực hiện TGPL trong phạm vi Giấy đăng ký tham gia TGPL, phối hợp với Trung tâm TGPL nhà nước hoặc Chi nhánh của Trung tâm để thực hiện có hiện quả vụ việc TGPL; (ii) Được đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến vụ việc TGPL để phục vụ thực hiện TGPL; (iii) Được giới thiệu người có yêu cầu TGPL đến Trung tâm TGPL nhà nước hoặc Chi nhánh của Trung tâm để được TGPL, từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý trong những trường hợp quy định tại Luật Trợ giúp pháp lý; (iv) Được Nhà nước hỗ trợ bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng TGPL cho đội ngũ người tham gia TGPL; (v) Chịu trách nhiệm trước pháp luật và phải bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra trong khi thực hiện TGPL; (vi) Chịu sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thực hiện chế độ báo cáo, thống kê về TGPL cho Sở Tư pháp nơi đăng ký; giải quyết tranh chấp trong TGPL theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý và quy định khác của pháp luật có liên quan; được kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những vấn đề liên quan đến thi hành pháp luật phát sinh trong quá trình thực hiện TGPL.

Người thực hiện TGPL là luật sư, trợ giúp viên pháp lý; cộng tác viên của Trung tâm TGPL nhà nước (sau đây gọi là cộng tác viên); tư vấn viên pháp luật làm việc trong tổ chức tư vấn pháp luật (sau đây gọi là tư vấn viên pháp luật). Người thuộc một trong các trường hợp sau đây thì không được tham gia TGPL: Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị kết án mà chưa được xóa án tích hoặc đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục hoặc quản chế hành chính; mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; bị xử lý kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc mà chưa hết thời hạn ba năm, kể từ ngày quyết định buộc thôi việc có hiệu lực; đang bị tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề luật sư; bị thu hồi Giấy chứng nhận Tư vấn viên pháp luật.

Trợ giúp viên pháp lý được xác định là lực lượng của Nhà nước giữ vị trí trung tâm của chế định người thực hiện TGPL để thực hiện vai trò nòng cốt của Nhà nước trong việc thực hiện và tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý. Đây là lực lượng được Nhà nước giao nhiệm vụ chịu trách nhiệm chính trong việc thực hiện TGPL. Trợ giúp viên pháp lý là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, có Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ TGPL, có thời gian làm công tác pháp luật từ hai năm trở lên, có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý theo đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp. Như vậy, chỉ có Trung tâm TGPL nhà nước, Chi nhánh của Trung tâm mới có trợ giúp viên pháp lý, các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý khác sẽ không có trợ giúp viên pháp lý và không phải tất cả những cán bộ, công chức làm việc tại Trung tâm TGPL nhà nước, Chi nhánh của Trung tâm đều là trợ giúp viên pháp lý. Trợ giúp viên pháp lý là một ngạch viên chức nhà nước nên toàn bộ hoạt động của trợ giúp viên pháp lý sẽ được điều chỉnh bởi quy định của pháp luật dành cho viên chức nhà nước. Vì vậy, ngoài các quyền và nghĩa vụ dành cho người thực hiện trợ giúp pháp lý, họ sẽ có các quyền và thực hiện các nghĩa vụ của viên chức nhà nước theo quy định của Luật Viên chức.

Cộng tác viên trợ giúp pháp lý là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt, có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, tự nguyện tham gia TGPL mà không thuộc một trong các trường hợp bị cấm theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý thì được Giám đốc Sở Tư pháp xem xét, công nhận và cấp thẻ cộng tác viên trong các trường hợp sau đây: Người có bằng cử nhân luật; người có bằng đại học khác làm việc trong các ngành, nghề có liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, đây là trường hợp những người đã có bằng cử nhân luật nhưng họ lại thỏa mãn đồng thời hai điều kiện, đó là có bằng đại học khác và đang làm việc trong các ngành nghề có liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân như ngành địa chính, tài chính, môi trường, văn hóa, giáo dục, lao động, thương binh và xã hội, làm việc trong các cơ quan bảo vệ pháp luật, trong các tổ chức chính trị - xã hội...; người thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi có bằng trung cấp luật hoặc có thời gian làm công tác pháp luật từ ba năm trở lên hoặc có kiến thức pháp luật và có uy tín trong cộng đồng. Cộng tác viên tham gia TGPL theo sự phân công của Giám đốc Trung tâm TGPL nhà nước. Cộng tác viên không phải là luật sư chỉ tham gia TGPL bằng hình thức tư vấn pháp luật. Khi tham gia TGPL, cộng tác viên được hưởng chế độ bồi dưỡng và chi phí hành chính theo quy định của pháp luật.

Luật sư tham gia trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về luật sư, tham gia TGPL với tư cách cộng tác viên của Trung tâm TGPL nhà nước theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý. Luật sư thực hiện TGPL là những người được phép hành nghề luật sư theo quy định của pháp luật về luật sư. Luật sư tham gia thực hiện TGPL theo quy định của pháp luật về luật sư[4]. Luật sư không được từ chối thực hiện nghĩa vụ trợ giúp pháp lý trừ trường hợp có lý do chính đáng. Liên đoàn Luật sư Việt Nam hướng dẫn về thời gian, cách thức, hình thức thực hiện TGPL; hình thức xử lý kỷ luật đối với luật sư vi phạm nghĩa vụ TGPL; định kỳ hàng năm đánh giá về hoạt động TGPL của luật sư, báo cáo Bộ Tư pháp[5]. Khi thực hiện TGPL miễn phí luật sư phải tận tâm với người được trợ giúp như đối với khách hàng trong những vụ việc có thù lao.

Như vậy, chủ thể thực hiện TGPL là hai lực lượng chính đó là chủ thể trong nhà nước và chủ thể ngoài nhà nước. Cách phân loại này dựa trên cơ sở nguồn tài chính chi trả cho hoạt động, vận hành của từng đối tượng chủ thể. Đối với các Trung tâm TGPL và các trợ giúp viên pháp lý, chủ thể này là do nhà nước thành lập, nhà nước phải sử dụng nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước để chi trả cho hoạt động vận hành của các chủ thể này và họ là các cơ quan đơn vị sự nghiệp, họ là viên chức và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Đối với các tổ chức ký hợp đồng với Sở Tư pháp các tỉnh, các cộng tác viên, luật sư… đây là các chủ thể không phải Nhà nước thành lập mà là các chủ thể được Nhà nước công nhận. Toàn bộ các nguồn tài chính để chi trả cho các hoạt động vận hành của các chủ thể này là tự họ phải bỏ ra bằng nguồn tài chính của chính họ, Nhà nước không phải bỏ ra khoản tài chính nào từ ngân sách nhà nước và họ cũng không phải là viên chức nhà nước. Đây chính là sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố chi phối, yếu tố chủ lực của Nhà nước và yếu tố xã hội hóa nguồn lực xã hội cho công tác TGPL.

Theo Báo cáo đánh giá kết quả 05 năm triển khai Đề án đổi mới công tác TGPL giai đoạn 2015 - 2025[6], với mục tiêu Đề án đặt ra, các quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã nâng tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý ngang bằng với tiêu chuẩn của luật sư, đồng thời, còn có quy định chuyển tiếp, trong vòng 05 năm kể từ ngày 01/01/2018 người bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý phải có chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư, nếu không sẽ bị thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý. Từ năm 2018 đến nay, Bộ Tư pháp đã tổ chức kiểm tra hết tập sự TGPL; tổ chức nhiều lớp bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp trợ giúp viên pháp lý hạng II và tổ chức thăng hạng chức danh nghề nghiệp trợ giúp viên pháp lý hạng II. Ngoài ra, từ năm 2017 đến nay, theo Quyết định số 32/2016/QĐ-TTg ngày 08/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ, ngân sách trung ương đã hỗ trợ kinh phí để thực hiện tập huấn tăng cường năng lực cho người thực hiện TGPL và hỗ trợ cho các viên chức của Trung tâm tại các địa phương có huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn tham gia khóa đào tạo nghề luật sư. Hàng năm, ở trung ương và địa phương đã tổ chức nhiều lớp tập huấn kỹ năng TGPL với nhiều hình thức đa dạng trong các lĩnh vực tố tụng hình sự, dân sự, hành chính; kỹ năng TGPL cho người khuyết tật có khó khăn về tài chính; kỹ năng TGPL cho nạn nhân bạo lực phụ nữ, trẻ em gái... cho đội ngũ người thực hiện TGPL để trang bị cho các trợ giúp viên pháp lý nói riêng và người thực hiện TGPL nói chung kiến thức, kỹ năng nhằm nâng cao năng lực người thực hiện TGPL. Huy động nguồn lực xã hội hóa công tác TGPL, đặc biệt là sự tham gia thực hiện TGPL của luật sư là một trong những chủ thể ảnh hưởng rất lớn đến công tác TGPL. Chính vì điều này, Bộ Tư pháp đã tham mưu Chính phủ ban hành quy định tăng mức bồi dưỡng thực hiện vụ việc tham gia tố tụng cho luật sư, tổ chức ký hợp đồng thực hiện TGPL. Đặc biệt, thể chế hóa tinh thần đổi mới về việc huy động luật sư có kinh nghiệm, trình độ, các tổ chức hành nghề luật sư có uy tín tham gia thực hiện TGPL để người dân có quyền tiếp cận dịch vụ TGPL có chất lượng. Bên cạnh việc đăng ký tham gia TGPL, Luật Trợ giúp pháp lý quy định thêm cơ chế ký hợp đồng và được chi trả thù lao khi thực hiện TGPL đã tạo thêm cơ hội, thu hút được những tổ chức chất lượng tham gia cung cấp dịch vụ TGPL[7]. Hiện nay, các Sở Tư pháp đã công bố danh sách người thực hiện TGPL và tổ chức thực hiện TGPL tại địa phương, đăng tải trên trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp và gửi Bộ Tư pháp để tổng hợp, đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ Tư pháp. Triển khai các quy định nêu trên, các địa phương đã tích cực xây dựng kế hoạch ký hợp đồng với luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật, lựa chọn những tổ chức, cá nhân có đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của pháp luật để ký hợp đồng. Tính đến hết năm 2019, trên toàn quốc có 24 tổ chức ký hợp đồng thực hiện TGPL với các Sở Tư pháp thực hiện TGPL (trong đó có 16 tổ chức hành nghề luật sư, 08 tổ chức tư vấn pháp luật); 174 tổ chức đăng ký tham gia TGPL với các Sở Tư pháp (trong đó có 143 tổ chức hành nghề luật sư, 31 tổ chức tư vấn pháp luật); 533 luật sư và 132 cộng tác viên ký hợp đồng thực hiện TGPL với các Trung tâm TGPL nhà nước. Bên cạnh đó, để đẩy mạnh đa dạng hóa chủ thể tham gia TGPL, Bộ Tư pháp và Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã ký Quy chế phối hợp số 4617/QCPH/BTP-LĐLSVN ngày 28/12/2016 về hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư, quy định có nội dung phối hợp trong việc giới thiệu và lựa chọn luật sư tham gia TGPL, đánh giá chất lượng TGPL. Căn cứ vào Quy chế phối hợp này, Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố phối hợp hoặc chỉ đạo Trung tâm TGPL nhà nước trong phạm vi thẩm quyền của mình phối hợp với Đoàn luật sư xây dựng quy chế phối hợp trong công tác TGPL với những hoạt động cụ thể phù hợp với điều kiện thực tiễn của các địa phương. Ngoài ra, Bộ Tư pháp cũng đã ký kết với các chương trình phối hợp với Hội Luật gia Việt Nam giai đoạn 2018 - 2023, với Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh giai đoạn 2018 - 2022..., trong đó có phối hợp trong việc thông tin, giới thiệu người được TGPL đến Trung tâm TGPL nhà nước.

3. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chủ thể trợ giúp pháp lý

Thứ nhất, chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý trong nhà nước cần phải được kiện toàn và nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực để đáp ứng nhu cầu, đòi hỏi của những đối tượng được TGPL với mục đích hướng đến là Nhà nước giảm dần sự tham gia trực tiếp vào các vụ việc TGPL thông qua các trợ giúp viên pháp lý, tăng cường và dần tập trung vào thực hiện công tác quản lý, vận hành, xây dựng hành lang pháp lý để làm nền tảng, động lực cho các chủ thể trong xã hội, đáp ứng những điều kiện nhất định thì sẽ được tham gia vào các hoạt động TGPL nhưng vẫn đảm bảo chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trong hoạt động TGPL.

Thứ hai, huy động và phát huy tối đa nguồn lực xã hội hóa chủ thể thực hiện TGPL, đặc biệt chủ thể thực hiện TGPL là luật sư. Ngoài việc đáp ứng các điều kiện về trình độ năng lực và chuyên môn thì các luật sư đã có sẵn những nền tảng về cơ sở vật chất, nguồn thu nhập và các yếu tố khác trong quá trình thực hiện nghề nghiệp chuyên môn. Mặt khác, bản thân các luật sư đã và đang thực hiện nhiệm vụ chính trị theo sự phân công của Nhà nước là có trách nhiệm tham gia các vụ án hình sự theo chỉ định của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với những vụ án bắt buộc phải có luật sư bào chữa. Các vụ việc này về bản chất cũng chính là hoạt động TGPL.

Thứ ba, cần đặt nhân tố trung tâm trong hoạt động TGPL đó chính là những đối tượng được thụ hưởng hoạt động TGPL. Đối tượng được TGPL cần được hưởng dịch vụ pháp lý tốt nhất, cần được sử dụng với chất lượng cao nhất, được đáp ứng nhu cầu thuận tiện, dễ dàng, tránh hình thức, tránh các thủ tục hành chính không cần thiết và được đối xử bình đẳng, công bằng. Chính vì vậy, chủ thể thực TGPL phải luôn đặt mình vào điều kiện của họ để trau dồi, hoàn chỉnh, nâng cao trình độ, thực hiện tối đa trách nhiệm của mình thì mới có thể tạo được niềm tin, sự tin tưởng của những đối tượng được TGPL.

Mặc dù còn một số hạn chế cần khắc phục nhưng có thể thấy, các quy định của pháp luật về chủ thể thực hiện TGPL theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã đảm bảo tính phù hợp với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, sự đồng bộ, tương thích, thống nhất với hệ thống pháp luật trong nước cũng như về sự tương thích, phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia. Đồng thời, các quy định về chủ thể thực hiện TGPL đảm bảo tính khả thi, phù hợp thực tiễn của Việt Nam.

ThS. LS. Nguyễn Văn Hà
Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội



[1]. Xem: Điều 10 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.

[2]. Xem: Điều 17 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.

[3]. Xem: Điều 11 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.

[4]. Điểm d khoản 2 Điều 21, khoản 10 Điều 65 và điểm đ khoản 2 Điều 67 của Luật Luật sư năm 2012.

[5]. Quyết định số 93/QĐ-BTV ngày 09/10/2014 của Liên đoàn Luật sư Việt Nam ban hành quy định thực hiện nghĩa vụ trợ giúp pháp lý của luật sư.

[6]. Bộ Tư pháp (2020), Báo cáo đánh giá một số kết quả 05 năm triển khai đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý giai đoạn 2015 - 2025, Hà Nội.

[7]. Nghị định số 144/2017/NĐ-CP ngày 15/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý đã quy định các chế độ, chính sách đối với trợ giúp viên pháp lý và thù lao, chi phí thực hiện vụ việc cho người thực hiện TGPL khác và các tổ chức ký hợp đồng thực hiện TGPL.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.

Theo dõi chúng tôi trên: