Thứ hai 13/04/2026 08:43
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về một số nhóm tội phạm khi sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự

Bộ luật Hình sự là một trong những đạo luật quan trọng của nước ta, có ảnh hưởng lớn đối với xã hội và ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân. Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã có những đóng góp to lớn trong quá trình giữ gìn trật tự, an ninh và công bằng xã hội.

Tuy nhiên, sau 15 năm thi hành, cho đến nay cùng với sự phát triển của xã hội, của quá trình hội nhập kinh tế, quốc tế Bộ luật Hình sự đã bộc lộ những bất cập, hạn chế. Nhiều chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước cần phải được cụ thể hóa vào trong luật, bộ luật, nhất là việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992, đạo luật gốc của nước ta. Hiến pháp năm 2013 có nhiều điểm mới quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, về kinh tế, văn hóa, giáo dục, môi trường, về tổ chức bộ máy nhà nước... đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự cho phù hợp với Hiến pháp mới.

Bên cạnh đó, nước ta đã tham gia ký kết nhiều điều ước quốc tế như Công ước về quyền con người, Công ước phòng, chống tham nhũng, Công ước Chống tra tấn... đòi hỏi phải nội luật hóa vào pháp luật trong nước. Từ đó cho thấy việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự là cần thiết và một trong những nội dung quan trọng cần sửa đổi, bổ sung lần này là nhóm các tội xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân, các tội xâm phạm về chức vụ và các tội xâm phạm hoạt động tư pháp.

1. Nhóm các tội xâm phạm các quyền tự do dân chủ của công dân

Bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là một trong trong những tư tưởng chủ đạo đã được khẳng định mạnh mẽ trong Hiến Pháp năm 2013. Điều 12 Hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ, Việt Nam tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc và các điều ước Quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việt Nam là một trong những nước sớm phê chuẩn Công ước quốc tế về nhân quyền. Với nguyên tắc đó, trong bản Hiến pháp mới vấn đề quyền con người, quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định tại Chương II, từ Điều 14 đến Điều 49. Đây là cơ sở hiến định cho việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự, theo đó sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự lần này cần tiếp tục kế thừa những quy định phù hợp, loại bỏ những quy định lạc hậu, trái với Hiến pháp, đồng thời bổ sung những quy định mới nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Bộ luật Hình sự sửa đổi cần phải tạo ra một khung pháp lý mạnh mẽ, hữu hiệu để đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm phạm quyền tự do dân chủ của con người. Xuất phát từ yêu cầu bảo vệ quyền con người của Hiến pháp năm 2013 và thực tiễn đấu tranh phòng, chống các tội phạm xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân trong thời gian qua. Theo đó, các nhà lập pháp cần nghiên cứu, tiếp tục duy trì những tội danh đang còn phát huy tác dụng, vẫn phù hợp với thực tế và tiến hành sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành theo hướng cụ thể hơn, rõ ràng hơn nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này trong giai đoạn hiện nay và trong thời gian tới, thực hiện tốt hơn việc bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của công dân Việt Nam và cả các quyền tự do dân chủ của cá nhân khác không phải là công dân Việt Nam đang sinh sống, làm ăn, học tập ở nước ta, góp phần làm cho pháp luật hình sự nước ta phù hợp với các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên.

Trong Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã dành 01 chương riêng (Chương XIII) với 09 điều (từ Điều 123 đến Điều 130 và Điều 132) quy định về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân. Các quy định này đã góp phần bảo vệ được quyền tự do, dân chủ của công dân trong thời gian qua, tuy nhiên so với tinh thần của Hiến pháp năm 2013 thì có một số vấn đề bất cập:

Thứ nhất, Bộ luật Hình sự năm 1999 mặc dù Chương XIII là chương quy định về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân nhưng trong đó đề cập cả đến những tội xâm phạm các nhóm quyền khác như tội buộc người lao động, cán bộ, công chức thôi việc trái pháp luật (Điều 128), đây là tội xâm phạm quyền lao động thuộc nhóm quyền kinh tế. Ngược lại, có một số tội thực chất là xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể của con người nhưng không được bao quát trong chương này mà lại quy định ở chương tội phạm khác, ví dụ: Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134), tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật (Điều 303)... Do đó, trong Bộ luật Hình sự sửa đổi cần phải rà soát, cân nhắc đưa các tội danh xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân về một mối, những tội danh không phù hợp nên chuyển sang các chương khác để đảm bảo tính thống nhất, tính logic trong bộ luật.

Thứ hai, mặc dù tên Chương XIII của Bộ luật Hình sự năm 1999 là các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân nhưng chủ yếu các quyền tự do, dân chủ mà các tội phạm trong chương này bị xâm hại lại gắn với cá nhân, không kể cá nhân đó là công dân Việt Nam hay là người nước ngoài hay người không quốc tịch sinh sống trên đất nước Việt Nam như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, về chỗ ở; quyền bí mật cá nhân, thư tín, điện thoại, điện tín; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền khiếu nại, tố cáo... Chỉ có một số ít quyền tự do dân chù là gắn liền với cá nhân với tư cách là công dân mà thông thường là các quyền về chính trị như quyền bầu cử, quyền ứng cử; quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, hội họp... Theo Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 mà Việt Nam là thành viên thì các quyền về dân sự và chính trị đều thuộc về cá nhân (trong đó bao gồm cả công dân lẫn cá nhân không phải là công dân của một quốc gia). Chỉ có ba nhóm quyền gắn với công dân, đó là quyền tham gia điều hành các công việc xã hội; quyền bầu cư, ứng cử và quyền được tiếp cận với các dịch vụ công ở đất nước mình trên cơ sở bình đẳng (Điều 25 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966). Do đó, các nhà lập pháp cũng nên cân nhắc để điều chỉnh tên gọi của Chương XIII cho phù hợp.

Thứ ba, Bộ luật Hình sự hiện hành chưa có quy định để xử lý đối với trường hợp vi phạm nghiêm trọng một số quyền tự do, dân chủ của công dân mặc dù các quyền này đã được Hiến pháp năm 1992 ghi nhận, đến nay tiếp tục được khẳng định tại Hiến pháp năm 2013 như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; quyền biểu tình, quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân, đây là một trong những quyền dân chủ trực tiếp hiến định quan trọng của công dân. Do vậy, cần nghiên cứu, bổ sung vào Bộ luật Hình sự các quy định để xử lý về hình sự đối với những hành vi xâm phạm đến các quyền này.

Thứ tư, các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân là xâm phạm các quyền cơ bản, quan trọng của con người, của công dân như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, chỗ ở; quyền bí mật thư tín, điện tín; quyền bầu cử, ứng cử... đòi hỏi phải được xử lý nghiêm mới đáp ứng được yêu cầu bảo vệ nhóm quyền này. Theo quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành, nhìn chung, các biện pháp xử lý đối với các nhóm tội này chưa tương xứng với tầm quan trọng và yêu cầu bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của công dân. Cụ thể như tội bắt, giữ hoặc giam người pháp luật tại Điều 123: Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm; phạm tội thuộc một trong các trường hợp có tổ chức, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, đối với người thi hành công vụ, phạm tội nhiều lần, đối với nhiều người thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm; phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm... Như vậy, hành vi phạm tội này được đánh giá là rất nghiêm trọng với mức hình phạt cao nhất là 10 năm tù, mức hình phạt đó là nhẹ, chưa tương xứng với tầm quan trọng và yêu cầu bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của công dân. Ngoài ra, tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 132) được đánh giá là tội nghiêm trọng với mức hình phạt là 5 năm tù, còn lại 07 tội khác từ Điều 124 đến Điều 130 đều thuộc loại tội ít nghiêm trọng với mức hình phạt cao nhất là 02 năm hoặc 03 năm tù... trong khi đó chính sách xử lý đối với nhóm tội xâm phạm quyền sở hữu thì nghiêm khắc. Do đó, cần nghiên cứu, điều chỉnh chính sách xử lý đối với những nhóm tội phạm này cần nghiêm khắc hơn để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và phù hợp với tăng cường bảo vệ quyền con người, quyền dân chủ của công dân.

Ngoài ra, Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận một số quyền tự do, dân chủ mới như quyền bí mật các hình thức trao đổi thông tin riêng ngoài hình thức thư tín, điện thoại, điện tín, quyền tiếp cận thông tin... đây là những quyền tự do dân chủ hiến định quan trọng, đòi hỏi phải có cơ chế bảo vệ bằng pháp luật đặc biệt là pháp luật hình sự. Vì vậy, trong Bộ luật Hình sự mới nên bổ sung những quy định về vấn đề này.

2. Nhóm các tội phạm về chức vụ

Đấu tranh phòng, chống tham nhũng là một trong những vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Đã có nhiều biện pháp nhận diện, phòng ngừa, phát hiện và xử lý nạn tham nhũng được ban hành và thực hiện. Tuy nhiên, hiện nay cùng với sự phát triển của xã hội, hội nhập quốc tế mạnh mẽ, các tội phạm về chức vụ cũng có những thay đổi theo chiều hướng gia tăng về số lượng và phức tạp về tính chất vụ việc. Nhiều hành vi phạm tội mới xuất hiện mà chưa được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Thêm vào đó, Việt Nam cũng tham gia Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng, do đó đòi hỏi việc phải nội luật hóa nội dung của Công ước mà Việt Nam đã cam kết. Vì vậy, việc sửa đổi Bộ luật Hình sự hiện hành nên nghiên cứu, bổ sung Chương XXI về các tội xâm phạm về chức vụ.

Có ý kiến cho rằng trong chương các tội phạm về chức vụ nên quy định thêm hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước. Trong Bộ luật Hình sự năm 1985 (sửa đổi, bổ sung năm 1997) đã quy định về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 137a) nhưng Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản thành một tội danh độc lập mà đưa thành một tình tiết tăng nặng tại khoản 2 Điều 142 về tội sử dụng trái phép tài sản. Tại khoản 9 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định tội "lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi", vì vậy nên tách hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước thành một tội danh độc lập, để đảm bảo tính tương đồng giữa Bộ luật Hình sự và Luật Phòng, chống tham nhũng.

Hiện nay, Bộ luật Hình sự chỉ dừng lại ở việc quy định các tội phạm tham nhũng trong khu vực công mà chưa có những quy định về tội phạm tham nhũng trong khu vực tư. Tuy nhiên, trong Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng mà Việt Nam là thành viên yêu cầu các quốc gia thành viên cần thiết phải tăng cường các biện pháp đấu tranh chống tham nhũng không chỉ trong lĩnh vực công mà cả trong lĩnh vực tư. Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự cũng cần nghiên cứu về việc mở rộng phạm vi tham nhũng ra khu vực tư để phù hợp với nội dung của công ước quốc tế về chống tham nhũng mà Việt Nam đã cam kết.

Ngoài ra, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, các quốc gia khác nhau trên thế giới, các tổ chức quốc tế, tổ chức phi Chính phủ đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta thông qua các hoạt động hợp tác, hỗ trợ, viện trợ, tài trợ... Việc một người nào đó vì vụ lợi mà đưa hối lộ công chức nước ngoài hay tổ chức quốc tế công để dành những ưu thế trong các hoạt động nêu trên cũng đã xảy ra trong thực tiễn, vì vậy, để bảo đảm sự cạnh tranh lành mạnh, sự công bằng trong xã hội và giữ gìn quan hệ với các nước nên bổ sung hành vi đưa hối lộ cho công chức nước ngoài, công chức làm việc tại các tổ chức quốc tế công vào Bộ luật Hình sự.

3. Nhóm các tội xâm phạm hoạt động tư pháp

Trên tinh thần Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đặt ra yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự nghiêm khắc hơn đối với những tội phạm là người có thẩm quyền trong thực thi pháp luật, những người lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội và Hiến pháp năm 2013 về quyền tư pháp và hoạt động tư pháp, đồng thời để khắc phục những điểm hạn chế, bất cập trong thực tiễn cần phải tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự về nhóm các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm hiện nay.

Điều 292 Bộ luật Hình sự hiện hành về khái niệm tội xâm phạm hoạt động tư pháp thì "các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử và thi hành án trong việc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân". Khái niệm tội xâm phạm hoạt động tư pháp theo Điều 292 chỉ trong phạm vi hoạt động của các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử, thi hành án. Có ý kiến cho rằng ngoài phạm vi hoạt động tư pháp như vậy thì cần bao gồm cả hoạt động tương trợ tư pháp, trong hoạt động hội nhập quốc tế hiện nay hoạt động tương trợ tư pháp ngày càng được tăng cường và những hành vi vi phạm nghiêm trọng trong hoạt động này cũng cần phải được xử lý, ví dụ như hành vi thiếu trách nhiệm để người đang bị dẫn độ trốn hoặc tha trái phép người bị dẫn độ hoặc khai báo gian dối, từ chối khai báo, mua chuộc, cưỡng ép người khác khai báo gian dối trong hoạt động thực hiện ủy thác tư pháp...

Vấn đề loại trừ trách nhiệm hình sự đối với tội không tố giác tội phạm, có ý kiến cho rằng mặc dù Bộ luật Hình sự hiện hành đã có quy định loại trừ trách nhiệm hình sự cho người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh, chị em, ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội nhưng chưa triệt để (người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh, chị, em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về việc không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng). Xuất phát từ đạo lý truyền thống gia đình thì cần phải loại trừ hoàn toàn trách nhiệm hình sự đối với người không tố giác bất kỳ loại tội phạm nào, kể cả tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác nếu người đó là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh, chị, em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội, đồng thời bổ sung thêm quy định loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên không tố giác bất kỳ tội phạm nào. Việc loại trừ hoàn toàn trách nhiệm hình sự đối với người không tố giác bất kỳ loại tội phạm nào, kể cả tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác nếu người đó là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh, chị, em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội như vậy sẽ ảnh hưởng đến quá trình truy cứu, xét xử tội phạm, giữ gìn sự công bằng trong xã hội và an ninh quốc gia. Vì vậy, loại trừ trách nhiệm hình sự cho người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh, chị, em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội nhưng chưa triệt để (trừ tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội đặc biệt nghiêm trọng) như Bộ luật Hình sự hiện hành là phù hợp, không nên loại trừ hoàn toàn đối với mọi loại tội phạm.

Với đối tượng không tố giác tội phạm là người chưa thành niên cũng cần phải có sự nghiên cứu kỹ và tìm hiểu kinh nghiệm của các quốc gia khác. Trong thời đại ngày nay, sự trưởng thành của các em rất nhanh chóng cả về thể chất lẫn tinh thần, nhận thức và sự hiểu biết xã hội. Do vậy, việc loại trừ trách nhiệm hình sự đối với hành vi không tố giác tội phạm là người chưa thành niên cũng nên cân nhắc và có giới hạn.

Việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự có ý nghĩa quan trọng đối với việc giữ gìn trật tự, đảm bảo sự công bằng trong xã hội. Trọng trách này đặt lên vai của các nhà lập pháp. Vì vậy, các nhà lập pháp cần phải có sự đầu tư, nghiên cứu kỹ lưỡng để sau khi hoàn thành, Bộ luật Hình sự mới không những đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn mà còn có tính dự báo trong tương lai, để Bộ luật Hình sự có sức sống dài lâu trên thực tiễn.

Nguyễn Thị Vinh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Theo dõi chúng tôi trên: