Thứ bảy 13/12/2025 13:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về một số nhóm tội phạm khi sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự

Bộ luật Hình sự là một trong những đạo luật quan trọng của nước ta, có ảnh hưởng lớn đối với xã hội và ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân. Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã có những đóng góp to lớn trong quá trình giữ gìn trật tự, an ninh và công bằng xã hội.

Tuy nhiên, sau 15 năm thi hành, cho đến nay cùng với sự phát triển của xã hội, của quá trình hội nhập kinh tế, quốc tế Bộ luật Hình sự đã bộc lộ những bất cập, hạn chế. Nhiều chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước cần phải được cụ thể hóa vào trong luật, bộ luật, nhất là việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992, đạo luật gốc của nước ta. Hiến pháp năm 2013 có nhiều điểm mới quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, về kinh tế, văn hóa, giáo dục, môi trường, về tổ chức bộ máy nhà nước... đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự cho phù hợp với Hiến pháp mới.

Bên cạnh đó, nước ta đã tham gia ký kết nhiều điều ước quốc tế như Công ước về quyền con người, Công ước phòng, chống tham nhũng, Công ước Chống tra tấn... đòi hỏi phải nội luật hóa vào pháp luật trong nước. Từ đó cho thấy việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự là cần thiết và một trong những nội dung quan trọng cần sửa đổi, bổ sung lần này là nhóm các tội xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân, các tội xâm phạm về chức vụ và các tội xâm phạm hoạt động tư pháp.

1. Nhóm các tội xâm phạm các quyền tự do dân chủ của công dân

Bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là một trong trong những tư tưởng chủ đạo đã được khẳng định mạnh mẽ trong Hiến Pháp năm 2013. Điều 12 Hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ, Việt Nam tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc và các điều ước Quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việt Nam là một trong những nước sớm phê chuẩn Công ước quốc tế về nhân quyền. Với nguyên tắc đó, trong bản Hiến pháp mới vấn đề quyền con người, quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định tại Chương II, từ Điều 14 đến Điều 49. Đây là cơ sở hiến định cho việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự, theo đó sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự lần này cần tiếp tục kế thừa những quy định phù hợp, loại bỏ những quy định lạc hậu, trái với Hiến pháp, đồng thời bổ sung những quy định mới nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Bộ luật Hình sự sửa đổi cần phải tạo ra một khung pháp lý mạnh mẽ, hữu hiệu để đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm phạm quyền tự do dân chủ của con người. Xuất phát từ yêu cầu bảo vệ quyền con người của Hiến pháp năm 2013 và thực tiễn đấu tranh phòng, chống các tội phạm xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân trong thời gian qua. Theo đó, các nhà lập pháp cần nghiên cứu, tiếp tục duy trì những tội danh đang còn phát huy tác dụng, vẫn phù hợp với thực tế và tiến hành sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành theo hướng cụ thể hơn, rõ ràng hơn nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này trong giai đoạn hiện nay và trong thời gian tới, thực hiện tốt hơn việc bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của công dân Việt Nam và cả các quyền tự do dân chủ của cá nhân khác không phải là công dân Việt Nam đang sinh sống, làm ăn, học tập ở nước ta, góp phần làm cho pháp luật hình sự nước ta phù hợp với các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên.

Trong Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã dành 01 chương riêng (Chương XIII) với 09 điều (từ Điều 123 đến Điều 130 và Điều 132) quy định về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân. Các quy định này đã góp phần bảo vệ được quyền tự do, dân chủ của công dân trong thời gian qua, tuy nhiên so với tinh thần của Hiến pháp năm 2013 thì có một số vấn đề bất cập:

Thứ nhất, Bộ luật Hình sự năm 1999 mặc dù Chương XIII là chương quy định về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân nhưng trong đó đề cập cả đến những tội xâm phạm các nhóm quyền khác như tội buộc người lao động, cán bộ, công chức thôi việc trái pháp luật (Điều 128), đây là tội xâm phạm quyền lao động thuộc nhóm quyền kinh tế. Ngược lại, có một số tội thực chất là xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể của con người nhưng không được bao quát trong chương này mà lại quy định ở chương tội phạm khác, ví dụ: Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134), tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật (Điều 303)... Do đó, trong Bộ luật Hình sự sửa đổi cần phải rà soát, cân nhắc đưa các tội danh xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân về một mối, những tội danh không phù hợp nên chuyển sang các chương khác để đảm bảo tính thống nhất, tính logic trong bộ luật.

Thứ hai, mặc dù tên Chương XIII của Bộ luật Hình sự năm 1999 là các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân nhưng chủ yếu các quyền tự do, dân chủ mà các tội phạm trong chương này bị xâm hại lại gắn với cá nhân, không kể cá nhân đó là công dân Việt Nam hay là người nước ngoài hay người không quốc tịch sinh sống trên đất nước Việt Nam như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, về chỗ ở; quyền bí mật cá nhân, thư tín, điện thoại, điện tín; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền khiếu nại, tố cáo... Chỉ có một số ít quyền tự do dân chù là gắn liền với cá nhân với tư cách là công dân mà thông thường là các quyền về chính trị như quyền bầu cử, quyền ứng cử; quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, hội họp... Theo Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 mà Việt Nam là thành viên thì các quyền về dân sự và chính trị đều thuộc về cá nhân (trong đó bao gồm cả công dân lẫn cá nhân không phải là công dân của một quốc gia). Chỉ có ba nhóm quyền gắn với công dân, đó là quyền tham gia điều hành các công việc xã hội; quyền bầu cư, ứng cử và quyền được tiếp cận với các dịch vụ công ở đất nước mình trên cơ sở bình đẳng (Điều 25 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966). Do đó, các nhà lập pháp cũng nên cân nhắc để điều chỉnh tên gọi của Chương XIII cho phù hợp.

Thứ ba, Bộ luật Hình sự hiện hành chưa có quy định để xử lý đối với trường hợp vi phạm nghiêm trọng một số quyền tự do, dân chủ của công dân mặc dù các quyền này đã được Hiến pháp năm 1992 ghi nhận, đến nay tiếp tục được khẳng định tại Hiến pháp năm 2013 như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; quyền biểu tình, quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân, đây là một trong những quyền dân chủ trực tiếp hiến định quan trọng của công dân. Do vậy, cần nghiên cứu, bổ sung vào Bộ luật Hình sự các quy định để xử lý về hình sự đối với những hành vi xâm phạm đến các quyền này.

Thứ tư, các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân là xâm phạm các quyền cơ bản, quan trọng của con người, của công dân như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, chỗ ở; quyền bí mật thư tín, điện tín; quyền bầu cử, ứng cử... đòi hỏi phải được xử lý nghiêm mới đáp ứng được yêu cầu bảo vệ nhóm quyền này. Theo quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành, nhìn chung, các biện pháp xử lý đối với các nhóm tội này chưa tương xứng với tầm quan trọng và yêu cầu bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của công dân. Cụ thể như tội bắt, giữ hoặc giam người pháp luật tại Điều 123: Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm; phạm tội thuộc một trong các trường hợp có tổ chức, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, đối với người thi hành công vụ, phạm tội nhiều lần, đối với nhiều người thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm; phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm... Như vậy, hành vi phạm tội này được đánh giá là rất nghiêm trọng với mức hình phạt cao nhất là 10 năm tù, mức hình phạt đó là nhẹ, chưa tương xứng với tầm quan trọng và yêu cầu bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của công dân. Ngoài ra, tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 132) được đánh giá là tội nghiêm trọng với mức hình phạt là 5 năm tù, còn lại 07 tội khác từ Điều 124 đến Điều 130 đều thuộc loại tội ít nghiêm trọng với mức hình phạt cao nhất là 02 năm hoặc 03 năm tù... trong khi đó chính sách xử lý đối với nhóm tội xâm phạm quyền sở hữu thì nghiêm khắc. Do đó, cần nghiên cứu, điều chỉnh chính sách xử lý đối với những nhóm tội phạm này cần nghiêm khắc hơn để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và phù hợp với tăng cường bảo vệ quyền con người, quyền dân chủ của công dân.

Ngoài ra, Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận một số quyền tự do, dân chủ mới như quyền bí mật các hình thức trao đổi thông tin riêng ngoài hình thức thư tín, điện thoại, điện tín, quyền tiếp cận thông tin... đây là những quyền tự do dân chủ hiến định quan trọng, đòi hỏi phải có cơ chế bảo vệ bằng pháp luật đặc biệt là pháp luật hình sự. Vì vậy, trong Bộ luật Hình sự mới nên bổ sung những quy định về vấn đề này.

2. Nhóm các tội phạm về chức vụ

Đấu tranh phòng, chống tham nhũng là một trong những vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Đã có nhiều biện pháp nhận diện, phòng ngừa, phát hiện và xử lý nạn tham nhũng được ban hành và thực hiện. Tuy nhiên, hiện nay cùng với sự phát triển của xã hội, hội nhập quốc tế mạnh mẽ, các tội phạm về chức vụ cũng có những thay đổi theo chiều hướng gia tăng về số lượng và phức tạp về tính chất vụ việc. Nhiều hành vi phạm tội mới xuất hiện mà chưa được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Thêm vào đó, Việt Nam cũng tham gia Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng, do đó đòi hỏi việc phải nội luật hóa nội dung của Công ước mà Việt Nam đã cam kết. Vì vậy, việc sửa đổi Bộ luật Hình sự hiện hành nên nghiên cứu, bổ sung Chương XXI về các tội xâm phạm về chức vụ.

Có ý kiến cho rằng trong chương các tội phạm về chức vụ nên quy định thêm hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước. Trong Bộ luật Hình sự năm 1985 (sửa đổi, bổ sung năm 1997) đã quy định về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 137a) nhưng Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản thành một tội danh độc lập mà đưa thành một tình tiết tăng nặng tại khoản 2 Điều 142 về tội sử dụng trái phép tài sản. Tại khoản 9 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định tội "lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi", vì vậy nên tách hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước thành một tội danh độc lập, để đảm bảo tính tương đồng giữa Bộ luật Hình sự và Luật Phòng, chống tham nhũng.

Hiện nay, Bộ luật Hình sự chỉ dừng lại ở việc quy định các tội phạm tham nhũng trong khu vực công mà chưa có những quy định về tội phạm tham nhũng trong khu vực tư. Tuy nhiên, trong Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng mà Việt Nam là thành viên yêu cầu các quốc gia thành viên cần thiết phải tăng cường các biện pháp đấu tranh chống tham nhũng không chỉ trong lĩnh vực công mà cả trong lĩnh vực tư. Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự cũng cần nghiên cứu về việc mở rộng phạm vi tham nhũng ra khu vực tư để phù hợp với nội dung của công ước quốc tế về chống tham nhũng mà Việt Nam đã cam kết.

Ngoài ra, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, các quốc gia khác nhau trên thế giới, các tổ chức quốc tế, tổ chức phi Chính phủ đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta thông qua các hoạt động hợp tác, hỗ trợ, viện trợ, tài trợ... Việc một người nào đó vì vụ lợi mà đưa hối lộ công chức nước ngoài hay tổ chức quốc tế công để dành những ưu thế trong các hoạt động nêu trên cũng đã xảy ra trong thực tiễn, vì vậy, để bảo đảm sự cạnh tranh lành mạnh, sự công bằng trong xã hội và giữ gìn quan hệ với các nước nên bổ sung hành vi đưa hối lộ cho công chức nước ngoài, công chức làm việc tại các tổ chức quốc tế công vào Bộ luật Hình sự.

3. Nhóm các tội xâm phạm hoạt động tư pháp

Trên tinh thần Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đặt ra yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự nghiêm khắc hơn đối với những tội phạm là người có thẩm quyền trong thực thi pháp luật, những người lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội và Hiến pháp năm 2013 về quyền tư pháp và hoạt động tư pháp, đồng thời để khắc phục những điểm hạn chế, bất cập trong thực tiễn cần phải tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự về nhóm các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm hiện nay.

Điều 292 Bộ luật Hình sự hiện hành về khái niệm tội xâm phạm hoạt động tư pháp thì "các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử và thi hành án trong việc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân". Khái niệm tội xâm phạm hoạt động tư pháp theo Điều 292 chỉ trong phạm vi hoạt động của các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử, thi hành án. Có ý kiến cho rằng ngoài phạm vi hoạt động tư pháp như vậy thì cần bao gồm cả hoạt động tương trợ tư pháp, trong hoạt động hội nhập quốc tế hiện nay hoạt động tương trợ tư pháp ngày càng được tăng cường và những hành vi vi phạm nghiêm trọng trong hoạt động này cũng cần phải được xử lý, ví dụ như hành vi thiếu trách nhiệm để người đang bị dẫn độ trốn hoặc tha trái phép người bị dẫn độ hoặc khai báo gian dối, từ chối khai báo, mua chuộc, cưỡng ép người khác khai báo gian dối trong hoạt động thực hiện ủy thác tư pháp...

Vấn đề loại trừ trách nhiệm hình sự đối với tội không tố giác tội phạm, có ý kiến cho rằng mặc dù Bộ luật Hình sự hiện hành đã có quy định loại trừ trách nhiệm hình sự cho người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh, chị em, ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội nhưng chưa triệt để (người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh, chị, em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về việc không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng). Xuất phát từ đạo lý truyền thống gia đình thì cần phải loại trừ hoàn toàn trách nhiệm hình sự đối với người không tố giác bất kỳ loại tội phạm nào, kể cả tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác nếu người đó là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh, chị, em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội, đồng thời bổ sung thêm quy định loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên không tố giác bất kỳ tội phạm nào. Việc loại trừ hoàn toàn trách nhiệm hình sự đối với người không tố giác bất kỳ loại tội phạm nào, kể cả tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác nếu người đó là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh, chị, em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội như vậy sẽ ảnh hưởng đến quá trình truy cứu, xét xử tội phạm, giữ gìn sự công bằng trong xã hội và an ninh quốc gia. Vì vậy, loại trừ trách nhiệm hình sự cho người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh, chị, em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội nhưng chưa triệt để (trừ tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội đặc biệt nghiêm trọng) như Bộ luật Hình sự hiện hành là phù hợp, không nên loại trừ hoàn toàn đối với mọi loại tội phạm.

Với đối tượng không tố giác tội phạm là người chưa thành niên cũng cần phải có sự nghiên cứu kỹ và tìm hiểu kinh nghiệm của các quốc gia khác. Trong thời đại ngày nay, sự trưởng thành của các em rất nhanh chóng cả về thể chất lẫn tinh thần, nhận thức và sự hiểu biết xã hội. Do vậy, việc loại trừ trách nhiệm hình sự đối với hành vi không tố giác tội phạm là người chưa thành niên cũng nên cân nhắc và có giới hạn.

Việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự có ý nghĩa quan trọng đối với việc giữ gìn trật tự, đảm bảo sự công bằng trong xã hội. Trọng trách này đặt lên vai của các nhà lập pháp. Vì vậy, các nhà lập pháp cần phải có sự đầu tư, nghiên cứu kỹ lưỡng để sau khi hoàn thành, Bộ luật Hình sự mới không những đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn mà còn có tính dự báo trong tương lai, để Bộ luật Hình sự có sức sống dài lâu trên thực tiễn.

Nguyễn Thị Vinh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.
Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Tóm tắt: Bài viết phân tích, làm rõ khái niệm người có ảnh hưởng, tình hình thực tiễn về mô hình quảng cáo thông qua người có ảnh hưởng và các hành vi quảng cáo gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới với những yêu cầu đặt ra về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như yêu cầu tháo gỡ những “điểm nghẽn”, “nút thắt” có nguyên nhân từ quy định của pháp luật hiện nay, việc hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật về thi hành án dân sự nói riêng là cấp thiết, đặc biệt, dự án Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) dự kiến được Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ họp thứ 10 vào tháng 10/2025. Trước bối cảnh đó, với vai trò là trụ cột, là nguồn lực chủ yếu để xây dựng và phát triển lực lượng sản xuất mới, đồng thời là đội ngũ tiên phong tham gia các lĩnh vực mới, thanh niên ngành thi hành án dân sự cần tiếp tục phát huy vai trò và trách nhiệm trong việc tham gia vào công tác hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự.

Theo dõi chúng tôi trên: