Thứ tư 13/05/2026 21:10
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng hình sự và dân sự có liên quan đến việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, bài viết đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm phù hợp với thực tiễn giải quyết vụ án hình sự hiện nay.

1. Khái quát về nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là một trong những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Bên cạnh việc giải quyết vụ án hình sự, pháp luật Việt Nam cho phép Tòa án giải quyết các vấn đề dân sự liên quan đến tội phạm, bởi mọi người đều được pháp luật bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm. Do vậy, yêu cầu xét xử đối với vụ án hình sự không chỉ là giải quyết tốt về mặt hình sự mà cần giải quyết tốt cả vấn đề dân sự có liên quan.

Về bản chất, giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là trình tự, thủ tục giải quyết việc đòi bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra. Hành vi phạm tội xảy ra không chỉ xâm hại đến những quan hệ do pháp luật hình sự bảo vệ mà còn xâm hại đến các quan hệ dân sự nên có hai loại trách nhiệm được đặt ra khi giải quyết vụ án hình sự, đó là trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự. Trên thực tế, vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được xác định thành hai loại: (i) Vấn đề dân sự liên quan đến trách nhiệm hình sự, như giá trị tài sản bị chiếm đoạt, thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần mà những thiệt hại này là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt; (ii) Vấn đề dân sự không liên quan đến trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội, như các khoản tiền mai táng phí, tiền chi phí cho việc cứu chữa nạn nhân, tiền bồi dưỡng sức khỏe, tiền mất thu nhập, tiền trợ cấp cho người mà người bị hại khi còn sống phải trợ cấp, tổn thất về tinh thần…

Để tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết vấn đề bồi thường, bồi hoàn trong hoạt động tố tụng hình sự, bảo đảm việc giải quyết vụ án hình sự được nhanh chóng, kịp thời, toàn diện, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng, Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự như sau: “Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự. Trường hợp vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại, bồi hoàn mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì vấn đề dân sự có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự”. Như vậy, nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là những phương châm, định hướng chi phối toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự trong việc giải quyết các quan hệ về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tội phạm gây ra trong vụ án hình sự và có các đặc điểm sau:

Thứ nhất, nội dung của nguyên tắc thể hiện phương châm, định hướng của Đảng, Nhà nước về hoạt động tố tụng hình sự nói chung và về việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự nói riêng là nhân đạo, công bằng, dân chủ, kỷ cương và theo định hướng xã hội chủ nghĩa; thể hiện rõ quan điểm quyền, lợi ích chính đáng của con người là trung tâm của chính sách, pháp luật, bảo vệ quyền con người theo quy định của Hiến pháp, pháp luật.

Thứ hai, vấn đề dân sự trong vụ án hình sự chỉ được xác định trong phạm vi “trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” theo quy định tại Chương XX Bộ luật Dân sự năm 2015.

Thứ ba, phần dân sự trong vụ án hình sự phải được giải quyết cùng với xem xét về phần hình sự trong cùng vụ án hình sự. Chỉ được tách để giải quyết phần dân sự trong vụ án hình sự bằng một vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu, nếu chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự.

Thứ tư, để giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, cần áp dụng các nguyên tắc của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và các nguyên tắc của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để giải quyết. Điều đó có nghĩa rằng, Tòa án không áp dụng cứng nhắc các nguyên tắc trong tố tụng hình sự để xét xử vấn đề dân sự mà còn áp dụng các nguyên tắc của tố tụng dân sự nhằm bảo đảm quyền lợi cho các đương sự tham gia tố tụng như nguyên tắc bảo đảm sự bình đẳng giữa các đương sự, nguyên tắc bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự.

Thứ năm, thủ tục mở phiên hòa giải không phải là thủ tục bắt buộc mà Tòa án phải thực hiện khi chuẩn bị xét xử phiên tòa sơ thẩm vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. Trong thực tiễn xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn tạo điều kiện cho các bên tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự.

Điều 3 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Có thể thấy, nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự có ý nghĩa đối với việc bảo đảm tôn trọng các quyền con người, quyền cơ bản của công dân. Mọi hành vi gây thiệt hại đến tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức và xâm hại tới tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của cá nhân đều phải bồi thường và xử lý theo pháp luật.

2. Một số vướng mắc, bất cập

Hiện nay, pháp luật tố tụng của một số quốc gia không quy định việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là một nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng hình sự. Ở các nước theo hệ thống pháp luật Common Law mà đại diện điển hình là Vương quốc Anh, có sự phân biệt rõ ràng giữa pháp luật về hành vi gây thiệt hại ngoài hợp đồng và pháp luật về hình sự nên vấn đề dân sự phát sinh khi có hành vi phạm tội không được giải quyết theo Luật Tố tụng hình sự mà được giải quyết theo một vụ kiện dân sự khác. Bên cạnh đó, pháp luật của một số quốc gia khác như Cộng hòa Liên bang Nga, Trung Quốc, điển hình là Cộng hòa Pháp lại thừa nhận và cho phép khi xét xử một vụ án hình sự thì giải quyết vấn đề dân sự phát sinh do hành vi phạm tội gây ra trong cùng vụ án hình sự đó hoặc tách vấn đề dân sự ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự giống như pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.

Thực tiễn xét xử ở nước ta khi áp dụng nguyên tắc này còn một số vướng mắc, ảnh hưởng tới tính khách quan, công bằng không chỉ đối với những nội dung của trách nhiệm dân sự mà cả việc xác định trách nhiệm hình sự của những người tham gia tố tụng, cụ thể:

Thứ nhất, vướng mắc về trách nhiệm thu thập chứng cứ chứng minh vấn đề dân sự trong vụ án hình sự: Trong vụ án dân sự thông thường, về nguyên tắc thì nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình thuộc trách nhiệm của đương sự, trách nhiệm của bên đi kiện. Tuy nhiên, vấn đề dân sự phát sinh khi có hành vi phạm tội xảy ra được giải quyết trong vụ án hình sự nên trước hết phải tuân theo các nguyên tắc của tố tụng hình sự, do vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm điều tra, thu thập chứng cứ để làm sáng tỏ vụ án bao gồm cả việc điều tra, thu thập chứng cứ để làm rõ về phần trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự. Trường hợp các đương sự không cung cấp được chứng cứ về vấn đề dân sự mà những vấn đề dân sự này có liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của bị cáo thì cơ quan tiến hành tố tụng vẫn phải điều tra, làm rõ những thiệt hại đã xảy ra, trên cơ sở đó, xác định được mức bồi thường thiệt hại. Như vậy, ngoài việc phải chứng minh và giải quyết phần trách nhiệm hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng còn phải chứng minh và giải quyết phần trách nhiệm dân sự trong vụ án.

Trên thực tế, có nhiều trường hợp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát chỉ tập trung điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh tội phạm, trách nhiệm hình sự mà ít quan tâm thu thập tài liệu, chứng cứ để chứng minh, giải quyết phần dân sự phát sinh từ hành vi phạm tội. Các thiếu sót thường là tài liệu, chứng cứ dùng để chứng minh về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân, căn cứ xác định thiệt hại… Vì vậy, sau khi thụ lý hồ sơ vụ án, tùy trường hợp, Tòa án phải trả hồ sơ để Viện kiểm sát điều tra bổ sung hoặc yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc Tòa án phải tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ mới có đủ căn cứ giải quyết phần dân sự trong vụ án, gây chậm tiến độ giải quyết, xét xử vụ án, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng.

Thứ hai, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định nguyên tắc cơ bản buộc các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thực hiện một hoạt động tố tụng là giải quyết vấn đề dân sự đồng thời với việc giải quyết vụ án hình sự nhưng lại không quy định cách thức, trình tự, thủ tục cụ thể cho việc thực hiện quy định này. Chính vì vậy, về mặt thủ tục tố tụng, các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự có thể giải quyết theo nhận thức chủ quan, dẫn đến tình trạng áp dụng thủ tục giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự còn thiếu thống nhất.

Thứ ba, vấn đề dân sự trong vụ án hình sự chỉ có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự khi thỏa mãn các điều kiện: (i) Vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề dân sự nhưng chưa có điều kiện chứng minh; (ii) Việc tách vấn đề dân sự để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự. Mặc dù tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã đưa ra các khái niệm như “vấn đề dân sự trong vụ án hình sự”, “chưa có điều kiện chứng minh”, “không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự” nhưng không giải thích hay làm rõ về các khái niệm này nên những người tiến hành tố tụng có cách hiểu khác nhau theo nhận thức, trình độ, kinh nghiệm của cá nhân, thậm chí là theo ý chủ quan, cảm tính. Bên cạnh đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng chưa quy định rõ ai, cơ quan nào có quyền tách vấn đề dân sự trong vụ án hình sự để giải quyết.

Thứ tư, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 đã đưa ra khái niệm “người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án” nhưng nội hàm chưa cụ thể, rõ ràng nên các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng còn có những cách hiểu khác nhau, chưa thống nhất, còn có sự nhầm lẫn khi xác định tư cách tham gia tố tụng của những người này làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong quá trình giải quyết vấn đề dân sự. Đây là một trong những thiếu sót dễ dẫn đến một số trường hợp Viện kiểm sát, Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung, hủy, sửa án.

3. Một số kiến nghị

Một là, cần quy định rõ trong Bộ luật Tố tụng hình sự hoặc trong các văn bản hướng dẫn thi hành các khái niệm “giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự”, “chưa có điều kiện chứng minh”, “không ảnh hưởng tới việc giải quyết vụ án hình sự”, theo hướng: (i) Vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là những quan hệ về yêu cầu bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra hay nói cách khác là xét xử vấn đề dân sự trong vụ án hình sự chỉ trong phạm vi “trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” theo quy định tại Chương XX Bộ luật Dân sự năm 2015. (ii) Chưa có điều kiện chứng minh là trường hợp chưa xác định được người bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người bị hại và nguyên đơn dân sự chưa có yêu cầu; người bị hại, nguyên đơn dân sự hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có yêu cầu nhưng không cung cấp đầy đủ chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình; người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa và việc này gây trở ngại cho việc giải quyết phần dân sự. (iii) Không ảnh hưởng tới việc giải quyết vụ án hình sự là phần dân sự được tách ra không liên quan đến việc xác định cấu thành tội phạm, việc xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.

Hai là, cần hoàn thiện các quy phạm pháp luật về người tham gia tố tụng có liên quan trực tiếp đến việc giải quyết phần trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự để xác định đúng tư cách tham gia tố tụng, xác định đầy đủ người có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại (bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan). Đặc biệt, cần đưa ra khái niệm rõ ràng hơn về “nguyên đơn dân sự”, “người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án” trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nhằm bảo đảm xác định chính xác tư cách tham gia tố tụng của họ trong vụ án, theo hướng: (i) Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức gián tiếp bị thiệt hại về tài sản do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại. Trường hợp tội phạm trực tiếp xâm hại tới tài sản của cá nhân, cơ quan, tổ chức thì dù cá nhân, cơ quan, tổ chức đó có làm đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại hay không, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng vẫn phải xác định họ tham gia tố tụng với tư cách là bị hại. (ii) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức không phải là bị can, bị cáo, bị hại nhưng khi giải quyết vụ án hình sự thì họ có quyền lợi, nghĩa vụ xuất phát từ bị can, bị cáo, bị hại.

Ba là, cần quy định rõ chủ thể có quyền tách vấn đề dân sự trong vụ án hình sự và việc tách vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được thực hiện ở giai đoạn nào của quá trình giải quyết vụ án. Bên cạnh đó, cũng cần quy định những người tham gia tố tụng cũng có quyền đề nghị tách vấn đề dân sự trong vụ án hình sự nhằm tôn trọng nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng trong tố tụng dân sự./.

Thượng tá, TS. Nguyễn Hồng Khánh

Phó Trưởng Khoa Luật, Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 403), tháng 4/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.

Theo dõi chúng tôi trên: