Thứ ba 28/07/2026 01:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về quy định miễn chấp hành hình phạt theo Bộ luật Hình sự năm 2015

Tóm tắt: Bài viết bàn về những bất cập của các quy định về miễn chấp hành hình phạt trong Bộ luật Hình sự năm 2015 và đưa ra một số đề xuất, kiến nghị cụ thể để hoàn thiện chế định này.

Tóm tắt: Bài viết bàn về những bất cập của các quy định về miễn chấp hành hình phạt trong Bộ luật Hình sự năm 2015 và đưa ra một số đề xuất, kiến nghị cụ thể để hoàn thiện chế định này.

Abstract: The paper is concerned with shortcomings of provisions on penalty execution exemption in the Criminal Code of 2015 and some concrete proposals, recommendations for completing this institution.


1. Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về miễn chấp hành hình phạt

Miễn chấp hành hình phạt (CHHP) quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015, được áp dụng đối với người bị kết án bằng loại hình phạt đã tuyên được đặt ra có thể đưa đến việc chấm dứt, hủy bỏ toàn bộ, phần còn lại hoặc không buộc phải chấp hành trong giai đoạn thi hành án hình sự. Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cho thấy các quy định hiện hành về miễn CHHP đã bộc lộ bất cập về tính hợp lý trong thực tiễn áp dụng, căn cứ khoa học và kỹ thuật lập pháp, theo chúng tôi cần phải tiếp tục hoàn thiện chế định này ở những vấn đề sau:

Một là, phân tích quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành về các trường hợp miễn CHHP cho thấy tính hợp lý về mặt cấu trúc của quy phạm chưa chặt chẽ, còn phân tán và không có sự đồng nhất bản chất pháp lý giữa sự liên kết của các biện pháp này. Ngoài ra, quy phạm mang tính định nghĩa trong Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn chưa được xây dựng, cách sắp xếp chế định này trong Chương IX (Thời hiệu thi hành bản án, miễn CHHP, giảm thời hạn CHHP) với các chế định khác có liên quan đến miễn CHHP nhưng chưa phản ánh hết nội hàm đã liệt kê như: (i) Án treo (Điều 65), (ii) Tha tù trước thời hạn có điều kiện (Điều 66), (iii) Hoãn CHHP tù; (iv) Tạm đình chỉ CHHP tù (Điều 68). Do đó, cần xây dựng thành một chế định độc lập, trong đó có khái niệm với những căn cứ và điều kiện về miễn CHHP cụ thể trong Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hai là, miễn CHHP được nhìn nhận dưới các tiêu chí của pháp luật Việt Nam trong sự so sánh với pháp luật một số nước trong việc thiết lập và cần thiết tính toán đến căn cứ, điều kiện được miễn khỏi sự trừng phạt nhưng phải bảo đảm không ảnh hưởng hoặc tác động đến an ninh, trật tự xã hội hoặc lợi ích của các nạn nhân nhằm tăng cường tính hiệu quả trong việc tha miễn khỏi sự trừng phạt của từng nhóm tội phạm (kể cả trường hợp tiếp nhận người bị kết án về Việt Nam CHHP tù). Ở cách tiếp cận này, tha tù trước thời hạn có điều kiện quy định tại Điều 66 Bộ luật Hình sự năm 2015, nhà làm luật hạn chế và không áp dụng đối với các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia; tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh hoặc các tội phạm cụ thể khác... Tuy nhiên, căn cứ để miễn CHHP theo Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015 về hình phạt tù có thời hạn đến 30 năm thì theo chiều hướng ngược lại, không giới hạn về một trong các tội thuộc nhóm tội này là chưa tương thích với những chế định khác nói trên.

Ba là, việc sửa đổi, bổ sung các thuật ngữ để thống nhất chung giữa khoản 2 và khoản 4 với khoản 3 trong Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015 đó là “chấp hành tốt pháp luật”. Lý giải điều này trên cơ sở căn cứ vào loại hình phạt áp dụng ở các điều luật có liên quan tương ứng với miễn CHHP. Người bị kết án với loại hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm (tội ít nghiêm trọng) là đối tượng được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt theo khoản 2 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015 khi có một trong những điều kiện bắt buộc là “chấp hành tốt pháp luật”. Trong khi đó, việc miễn CHHP tù có thời hạn trên 03 năm đến giới hạn tối đa của tù có thời hạn (tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng) là 30 năm tù cho thấy tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi tội phạm mà người bị kết án đã thực hiện rất cao. Tuy nhiên, nhà làm luật chỉ yêu cầu có một trong những điều kiện “đã lập công lớn” hoặc “mắc bệnh hiểm nghèo và người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa” mà bỏ qua yếu tố quan trọng nhất thể hiện ý thức chủ quan tích cực của người bị kết án “chưa chấp hành” về sự ăn năn, hối cải hay sự phản kháng, chống đối xã hội. Như vậy, quy định ở khoản 3 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015 là chưa phù hợp, tỉ lệ nghịch với sự thiết lập miễn CHHP toàn bộ hình phạt khi dựa vào phân loại tội phạm theo chiều hướng từ thấp đến cao.

Bốn là, việc bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự nói chung và trong Bộ luật Hình sự năm 2015 nói riêng trong đó có đối tượng thuộc nhóm người dễ bị tổn thương: Phụ nữ, người chưa thành niên, người cao tuổi, người khuyết tật trong chế định CHHP hay miễn CHHP vẫn chưa quan tâm đúng mức. Có thể nói Bộ luật Hình sự 2015 đã tập hợp hóa, pháp điển hóa các hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong thực tiễn xét xử khi lần đầu tiên xây dựng các quy phạm không chỉ phản ánh sự gia tăng TNHS là đối tượng tác động của tội phạm hoặc giảm nhẹ chúng khi thực hiện hành vi phạm tội đối với người từ 70 tuổi trở lên mà còn là điều kiện - đối tượng được tha tù trước thời hạn có điều kiện (Điều 66 Bộ luật Hình sự năm 2015). Tuy nhiên, đối chiếu với quy định tại Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người bị kết án từ 70 tuổi trở lên không thuộc đối tượng - là một trong những điều kiện để miễn CHHP cho loại hình phạt cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn đến 03 năm (ít nghiêm trọng) hoặc người bị kết án tù trên 03 năm không phân biệt loại tội bị kết án, mức hình phạt đã tuyên khi chưa chấp hành là chưa phù hợp với một trong những dạng miễn CHHP đã nêu. Do đó, bên cạnh những quy định hiện hành cần mở rộng hơn nữa người bị kết án thuộc nhóm (đối tượng) nói trên nghĩa là, ghi nhận chính thức những điều kiện đã phân tích vào Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét trong trường hợp miễn chấp hành toàn bộ hình phạt tại khoản 2 và khoản 3 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Năm là, quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa có sự đồng nhất nếu xét về tính chất, mức độ nguy hiểm theo phân loại tội phạm. Đối với loại hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm nếu có đủ điều kiện quy định thì được “miễn CHHP” mà không phải “miễn toàn bộ hình phạt” như khoản 3 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, cần thống nhất khoản 2 và khoản 3 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015 với quy định chung là “miễn chấp hành toàn bộ hình phạt”.

Sáu là, quy định khoản 1 Điều 67 Bộ luật Hình sự năm 2015 về hoãn CHHP tù và quy định tạm đình chỉ CHHP tù tại Điều 68 Bộ luật Hình sự năm 2015 là trùng khớp nhau về điều kiện áp dụng. Điều kiện hoãn và tạm đình chỉ CHHP tù được đặt chung một điều luật để dẫn chiếu tương tự là không chặt chẽ về mặt quy phạm. Khi căn cứ và điều kiện giống nhau được sử dụng cho hai trường hợp khác biệt “chưa chấp hành” (do hoãn CHHP tù) và “đang chấp hành” (được tạm đình chỉ CHHP tù) đã cho kết quả không tương thích về tình trạng pháp lý chỉ mức độ miễn chấp hành của người bị kết án. Hay nói cách khác, căn cứ và điều kiện chưa chấp hành” và “đang chấp hành” hình phạt do người bị kết án tạo ra như nhau đã không mang lại kết quả giống nhau khi xem xét tổng thể về miễn, hoãn, tạm đình chỉ CHHP tù.

Bảy là, phân tích quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về các trường hợp miễn CHHP cho thấy sự đa dạng và tính chất không đồng nhất của các biện pháp này, bao gồm: (i) Các biện pháp của pháp luật hình sự không liên quan đến TNHS, không phải là một phương tiện để thực hiện (các biện pháp y tế bắt buộc áp dụng đối với người mắc bệnh tâm thần); (ii) Các biện pháp của pháp luật hình sự (hiệu ứng) gắn liền với TNHS, đó là những phương tiện thực hiện của nó (về CHHP, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra, khấu trừ thu nhập, bắt buộc chữa bệnh). Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định thực hiện khấu trừ một phần thu nhập (tư pháp dân sự); bắt buộc chữa bệnh; án phí, kể cả phạt tiền là hình phạt bổ sung (trong một số trường hợp) phải thực hiện khi được miễn CHHP.

Tám là, hệ thống hình phạt quy định trong Bộ luật Hình sự 2015 bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Miễn CHHP tiền còn lại không chỉ được áp dụng cho hình phạt chính mà còn được áp dụng cho hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, tại khoản 5 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015 chỉ quy định việc miễn CHHP tiền còn lại, không phân định loại hình phạt nào là chưa được chặt chẽ.

Chín là, miễn CHHP do thay đổi hoặc chuyển biến tình hình khi Nhà nước hoạch định chính sách hình sự bằng việc phi tội phạm hóa, xóa bỏ một tội phạm hoặc điều luật có quy định giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý. Đây là một trường hợp của miễn CHHP nếu người bị kết án chưa CHHP, đang được hoãn CHHP thì Tòa án ra quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt; hoặc đang tạm đình chỉ CHHP thì được miễn CHHP còn lại và như vậy, đồng nghĩa với việc xóa toàn bộ cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung (cấm cư trú, quản chế,..). Tương tự, đối với người bị kết án cố tình trốn tránh việc CHHP, trong thời gian đó đã “lập công lớn” hoặc “mắc bệnh hiểm nghèo” nhưng Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định, về vấn đề này, cần thiết đề xuất để sửa đổi, bổ sung trong thời gian tới.

2. Một số đề xuất, kiến nghị

- Đối với quy định tại Điều 62 Miễn chấp hành hình phạt (giữ nguyên tên gọi của Điều luật, sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 1, 2, 3, 5 và 6 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015 như sau:

1. Miễn chấp hành hình phạt là việc hủy bỏ loại hình phạt tương ứng khi có những căn cứ, điều kiện do pháp luật hình sự quy định và không buộc người bị kết án phải chấp hành toàn bộ hoặc phần hình phạt còn lại đã được quyết định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật.

2. Người bị kết án có thể được miễn chấp hành hình phạt nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Khi có quyết định đặc xá hoặc đại xá;

b) Chưa chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, hoặc được hoãn chấp hành hình phạt tù;

c) Đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù;

d) Đang chấp hành hình phạt tiền là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung;

đ) Đang chấp hành hình phạt hình phạt bổ sung cấm cư trú hoặc quản chế;

e) Khi Bộ luật Hình sự xóa bỏ không quy định một tội phạm đối với người bị kết án;

g) Do tình trạng bệnh tật.

3. Người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 62.2, khoản 1 Điều 62.3, Điều 62.4, 62.5, 62.7 và 62.9 của Bộ luật này vẫn thực hiện trách nhiệm dân sự do hành vi phạm tội gây ra, hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, các biện pháp tư pháp khác và án phí được tuyên trong bản án.

- Bổ sung thêm một số điều luật sau

+ Điều 62.1. Không áp dụng miễn chấp hành hình phạt (quy định mới)

Không áp dụng miễn CHHP quy định tại Điều 62.4 của Bộ luật này đối với các tội phạm sau đây:

1. Các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Chương XIII của Bộ luật này;

2. Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh quy định tại Chương XXVI của Bộ luật này.

+ Điều 62.2. Miễn chấp hành hình phạt khi được đặc xá hoặc đại xá (quy định mới về tên gọi của Điều luật, trên cơ sở sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 1 Điều 62 của Bộ luật Hình sự năm 2015).

1. Đặc xá là quyết định của Chủ tịch nước tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân quy định như khoản 3, Điều 3 Luật Đặc xá năm 2007.

2. Đại xá là quyết định của Quốc hội cho người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt.

+ Điều 62.3. Miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ (quy định mới về tên gọi của điều luật, trên cơ sở sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 62 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng thời quy định mới khoản 1 và khoản 2).

1. Người bị kết án cải tạo không giam giữ, chưa chấp hành hình phạt thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Sau khi bị kết án đã lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo;

b) Chấp hành tốt pháp luật và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.

2. Người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt quy định tại khoản 1 Điều này vẫn thực hiện việc khấu trừ thu nhập.

+ Điều 62.4. Miễn chấp hành hình phạt tù có thời hạn (quy định mới về tên gọi của Điều luật, trên cơ sở sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 62 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng thời quy định mới khoản 3).

1. Người bị kết án tù có thời hạn đến 03 năm chưa chấp hành hình phạt thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Sau khi bị kết án đã lập công hoặc có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn;

b) Mắc bệnh hiểm nghèo hoặc người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;

c) Chấp hành tốt pháp luật và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này được áp dụng đối với người bị kết án phạt tù có thời hạn trên 03 năm nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Sau khi bị kết án đã lập công lớn; hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.

b) Quy định tại điểm b, c khoản 1 Điều này.

3. Quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được áp dụng để miễn chấp hành toàn bộ hình phạt đối với người bị kết án được hoãn chưa chấp hành hình phạt tù.

+ Điều 62.5. Miễn chấp hành hình phạt tù khi được tạm đình chỉ (giữ nguyên như khoản 4 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015)

+ Điều 62.6. Miễn chấp hành hình phạt tiền còn lại (quy định mới về tên gọi của điều luật và nội dung tương ứng như quy định tại khoản 5 Điều 62 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng thời sửa đổi, bổ sung điểm a, b, khoản 1, quy định mới khoản 2)

1. Người bị kết án phạt tiền đã tích cực chấp hành được một phần hình phạt, theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Lập công lớn hoặc do tai nạn hoặc ốm đau không tự mình gây ra;

b) Có hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn;

2. Quy định tại khoản 1 Điều này được áp dụng đối với người bị kết án phạt tiền là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung.

+ Điều 62.7. Miễn chấp hành hình phạt hình phạt bổ sung (quy định mới về tên gọi của điều luật và nội dung tương ứng như quy định tại khoản 6 Điều 62 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng thời sửa đổi, bổ sung cụm từ chấp hành tốt pháp luật).

Người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung cấm cư trú hoặc quản chế, nếu chấp hành tốt pháp luật và được một phần hai mức hình phạt, theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện nơi người đó chấp hành hình phạt, Tòa án có thể được Tòa án quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.

+ Điều 62.8. Miễn chấp hành hình phạt do bệnh tật (quy định mới)

Người bị kết án bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đã được điều trị bắt buộc tại cơ sở y tế chuyên khoa nhưng không khỏi bệnh, thì được miễn chấp hành hình phạt tù có thời hạn.

+ Điều 62.9. Miễn chấp hành hình phạt khi Bộ luật Hình sự không quy định là tội phạm (quy định mới)

1. Khi Bộ luật Hình sự xóa bỏ không quy định một tội phạm, người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; nếu chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này được áp dụng đối với người bị kết án trong trường hợp cố tình trốn tránh chấp hành hình phạt.

- Đối với Điều 66. Tha tù trước thời hạn có điều kiện (giữ nguyên tên gọi của điều luật và nội dung tương ứng tại 05 khoản từ khoản 1đến khoản 5, Điều 66 như quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng thời sửa đổi, bổ sung điểm đ, khoản 1 như sau:

1. Người đang chấp hành án phạt tù có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện sau đây:



d) Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, trách nhiệm dân sự và án phí;

- Đối với quy định tại Điều 67. Hoãn chấp hành hình phạt tù (giữ nguyên tên gọi của điều luật và nội dung tương ứng tại khoản 1 Điều 67 như quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng thời sửa đổi, bổ sung điểm c, d khoản 1 và khoản 2; quy định mới khoản 3 như sau:

1. Người bị kết phạt tù có thể được hoãn chấp hành hình phạt trong các trường hợp sau đây: …

c) Là người lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt, được hoãn đến 01 năm.

d) Bị kết án phạt tù đến 03 năm, do nhu cầu công vụ, thì được hoãn đến 01 năm.

2. Trong thời gian được hoãn chấp hành hình phạt tù, nếu có căn cứ quy định tại Điều 62.3 và 62.4 của Bộ luật này thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt; nếu thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

3. Không áp dụng hoãn chấp hành hình phạt tù quy định tại khoản 1 Điều này đối với người bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Chương XIII, các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh quy định tại Chương XXVI của Bộ luật này.

Nguyễn Văn Thủy

Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: