Thứ bảy 02/05/2026 02:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về quy định miễn chấp hành hình phạt theo Bộ luật Hình sự năm 2015

Tóm tắt: Bài viết bàn về những bất cập của các quy định về miễn chấp hành hình phạt trong Bộ luật Hình sự năm 2015 và đưa ra một số đề xuất, kiến nghị cụ thể để hoàn thiện chế định này.

Tóm tắt: Bài viết bàn về những bất cập của các quy định về miễn chấp hành hình phạt trong Bộ luật Hình sự năm 2015 và đưa ra một số đề xuất, kiến nghị cụ thể để hoàn thiện chế định này.

Abstract: The paper is concerned with shortcomings of provisions on penalty execution exemption in the Criminal Code of 2015 and some concrete proposals, recommendations for completing this institution.


1. Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về miễn chấp hành hình phạt

Miễn chấp hành hình phạt (CHHP) quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015, được áp dụng đối với người bị kết án bằng loại hình phạt đã tuyên được đặt ra có thể đưa đến việc chấm dứt, hủy bỏ toàn bộ, phần còn lại hoặc không buộc phải chấp hành trong giai đoạn thi hành án hình sự. Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cho thấy các quy định hiện hành về miễn CHHP đã bộc lộ bất cập về tính hợp lý trong thực tiễn áp dụng, căn cứ khoa học và kỹ thuật lập pháp, theo chúng tôi cần phải tiếp tục hoàn thiện chế định này ở những vấn đề sau:

Một là, phân tích quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành về các trường hợp miễn CHHP cho thấy tính hợp lý về mặt cấu trúc của quy phạm chưa chặt chẽ, còn phân tán và không có sự đồng nhất bản chất pháp lý giữa sự liên kết của các biện pháp này. Ngoài ra, quy phạm mang tính định nghĩa trong Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn chưa được xây dựng, cách sắp xếp chế định này trong Chương IX (Thời hiệu thi hành bản án, miễn CHHP, giảm thời hạn CHHP) với các chế định khác có liên quan đến miễn CHHP nhưng chưa phản ánh hết nội hàm đã liệt kê như: (i) Án treo (Điều 65), (ii) Tha tù trước thời hạn có điều kiện (Điều 66), (iii) Hoãn CHHP tù; (iv) Tạm đình chỉ CHHP tù (Điều 68). Do đó, cần xây dựng thành một chế định độc lập, trong đó có khái niệm với những căn cứ và điều kiện về miễn CHHP cụ thể trong Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hai là, miễn CHHP được nhìn nhận dưới các tiêu chí của pháp luật Việt Nam trong sự so sánh với pháp luật một số nước trong việc thiết lập và cần thiết tính toán đến căn cứ, điều kiện được miễn khỏi sự trừng phạt nhưng phải bảo đảm không ảnh hưởng hoặc tác động đến an ninh, trật tự xã hội hoặc lợi ích của các nạn nhân nhằm tăng cường tính hiệu quả trong việc tha miễn khỏi sự trừng phạt của từng nhóm tội phạm (kể cả trường hợp tiếp nhận người bị kết án về Việt Nam CHHP tù). Ở cách tiếp cận này, tha tù trước thời hạn có điều kiện quy định tại Điều 66 Bộ luật Hình sự năm 2015, nhà làm luật hạn chế và không áp dụng đối với các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia; tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh hoặc các tội phạm cụ thể khác... Tuy nhiên, căn cứ để miễn CHHP theo Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015 về hình phạt tù có thời hạn đến 30 năm thì theo chiều hướng ngược lại, không giới hạn về một trong các tội thuộc nhóm tội này là chưa tương thích với những chế định khác nói trên.

Ba là, việc sửa đổi, bổ sung các thuật ngữ để thống nhất chung giữa khoản 2 và khoản 4 với khoản 3 trong Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015 đó là “chấp hành tốt pháp luật”. Lý giải điều này trên cơ sở căn cứ vào loại hình phạt áp dụng ở các điều luật có liên quan tương ứng với miễn CHHP. Người bị kết án với loại hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm (tội ít nghiêm trọng) là đối tượng được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt theo khoản 2 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015 khi có một trong những điều kiện bắt buộc là “chấp hành tốt pháp luật”. Trong khi đó, việc miễn CHHP tù có thời hạn trên 03 năm đến giới hạn tối đa của tù có thời hạn (tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng) là 30 năm tù cho thấy tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi tội phạm mà người bị kết án đã thực hiện rất cao. Tuy nhiên, nhà làm luật chỉ yêu cầu có một trong những điều kiện “đã lập công lớn” hoặc “mắc bệnh hiểm nghèo và người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa” mà bỏ qua yếu tố quan trọng nhất thể hiện ý thức chủ quan tích cực của người bị kết án “chưa chấp hành” về sự ăn năn, hối cải hay sự phản kháng, chống đối xã hội. Như vậy, quy định ở khoản 3 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015 là chưa phù hợp, tỉ lệ nghịch với sự thiết lập miễn CHHP toàn bộ hình phạt khi dựa vào phân loại tội phạm theo chiều hướng từ thấp đến cao.

Bốn là, việc bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự nói chung và trong Bộ luật Hình sự năm 2015 nói riêng trong đó có đối tượng thuộc nhóm người dễ bị tổn thương: Phụ nữ, người chưa thành niên, người cao tuổi, người khuyết tật trong chế định CHHP hay miễn CHHP vẫn chưa quan tâm đúng mức. Có thể nói Bộ luật Hình sự 2015 đã tập hợp hóa, pháp điển hóa các hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong thực tiễn xét xử khi lần đầu tiên xây dựng các quy phạm không chỉ phản ánh sự gia tăng TNHS là đối tượng tác động của tội phạm hoặc giảm nhẹ chúng khi thực hiện hành vi phạm tội đối với người từ 70 tuổi trở lên mà còn là điều kiện - đối tượng được tha tù trước thời hạn có điều kiện (Điều 66 Bộ luật Hình sự năm 2015). Tuy nhiên, đối chiếu với quy định tại Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người bị kết án từ 70 tuổi trở lên không thuộc đối tượng - là một trong những điều kiện để miễn CHHP cho loại hình phạt cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn đến 03 năm (ít nghiêm trọng) hoặc người bị kết án tù trên 03 năm không phân biệt loại tội bị kết án, mức hình phạt đã tuyên khi chưa chấp hành là chưa phù hợp với một trong những dạng miễn CHHP đã nêu. Do đó, bên cạnh những quy định hiện hành cần mở rộng hơn nữa người bị kết án thuộc nhóm (đối tượng) nói trên nghĩa là, ghi nhận chính thức những điều kiện đã phân tích vào Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét trong trường hợp miễn chấp hành toàn bộ hình phạt tại khoản 2 và khoản 3 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Năm là, quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa có sự đồng nhất nếu xét về tính chất, mức độ nguy hiểm theo phân loại tội phạm. Đối với loại hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm nếu có đủ điều kiện quy định thì được “miễn CHHP” mà không phải “miễn toàn bộ hình phạt” như khoản 3 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, cần thống nhất khoản 2 và khoản 3 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015 với quy định chung là “miễn chấp hành toàn bộ hình phạt”.

Sáu là, quy định khoản 1 Điều 67 Bộ luật Hình sự năm 2015 về hoãn CHHP tù và quy định tạm đình chỉ CHHP tù tại Điều 68 Bộ luật Hình sự năm 2015 là trùng khớp nhau về điều kiện áp dụng. Điều kiện hoãn và tạm đình chỉ CHHP tù được đặt chung một điều luật để dẫn chiếu tương tự là không chặt chẽ về mặt quy phạm. Khi căn cứ và điều kiện giống nhau được sử dụng cho hai trường hợp khác biệt “chưa chấp hành” (do hoãn CHHP tù) và “đang chấp hành” (được tạm đình chỉ CHHP tù) đã cho kết quả không tương thích về tình trạng pháp lý chỉ mức độ miễn chấp hành của người bị kết án. Hay nói cách khác, căn cứ và điều kiện chưa chấp hành” và “đang chấp hành” hình phạt do người bị kết án tạo ra như nhau đã không mang lại kết quả giống nhau khi xem xét tổng thể về miễn, hoãn, tạm đình chỉ CHHP tù.

Bảy là, phân tích quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về các trường hợp miễn CHHP cho thấy sự đa dạng và tính chất không đồng nhất của các biện pháp này, bao gồm: (i) Các biện pháp của pháp luật hình sự không liên quan đến TNHS, không phải là một phương tiện để thực hiện (các biện pháp y tế bắt buộc áp dụng đối với người mắc bệnh tâm thần); (ii) Các biện pháp của pháp luật hình sự (hiệu ứng) gắn liền với TNHS, đó là những phương tiện thực hiện của nó (về CHHP, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra, khấu trừ thu nhập, bắt buộc chữa bệnh). Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định thực hiện khấu trừ một phần thu nhập (tư pháp dân sự); bắt buộc chữa bệnh; án phí, kể cả phạt tiền là hình phạt bổ sung (trong một số trường hợp) phải thực hiện khi được miễn CHHP.

Tám là, hệ thống hình phạt quy định trong Bộ luật Hình sự 2015 bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Miễn CHHP tiền còn lại không chỉ được áp dụng cho hình phạt chính mà còn được áp dụng cho hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, tại khoản 5 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015 chỉ quy định việc miễn CHHP tiền còn lại, không phân định loại hình phạt nào là chưa được chặt chẽ.

Chín là, miễn CHHP do thay đổi hoặc chuyển biến tình hình khi Nhà nước hoạch định chính sách hình sự bằng việc phi tội phạm hóa, xóa bỏ một tội phạm hoặc điều luật có quy định giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý. Đây là một trường hợp của miễn CHHP nếu người bị kết án chưa CHHP, đang được hoãn CHHP thì Tòa án ra quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt; hoặc đang tạm đình chỉ CHHP thì được miễn CHHP còn lại và như vậy, đồng nghĩa với việc xóa toàn bộ cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung (cấm cư trú, quản chế,..). Tương tự, đối với người bị kết án cố tình trốn tránh việc CHHP, trong thời gian đó đã “lập công lớn” hoặc “mắc bệnh hiểm nghèo” nhưng Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định, về vấn đề này, cần thiết đề xuất để sửa đổi, bổ sung trong thời gian tới.

2. Một số đề xuất, kiến nghị

- Đối với quy định tại Điều 62 Miễn chấp hành hình phạt (giữ nguyên tên gọi của Điều luật, sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 1, 2, 3, 5 và 6 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015 như sau:

1. Miễn chấp hành hình phạt là việc hủy bỏ loại hình phạt tương ứng khi có những căn cứ, điều kiện do pháp luật hình sự quy định và không buộc người bị kết án phải chấp hành toàn bộ hoặc phần hình phạt còn lại đã được quyết định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật.

2. Người bị kết án có thể được miễn chấp hành hình phạt nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Khi có quyết định đặc xá hoặc đại xá;

b) Chưa chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, hoặc được hoãn chấp hành hình phạt tù;

c) Đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù;

d) Đang chấp hành hình phạt tiền là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung;

đ) Đang chấp hành hình phạt hình phạt bổ sung cấm cư trú hoặc quản chế;

e) Khi Bộ luật Hình sự xóa bỏ không quy định một tội phạm đối với người bị kết án;

g) Do tình trạng bệnh tật.

3. Người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 62.2, khoản 1 Điều 62.3, Điều 62.4, 62.5, 62.7 và 62.9 của Bộ luật này vẫn thực hiện trách nhiệm dân sự do hành vi phạm tội gây ra, hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, các biện pháp tư pháp khác và án phí được tuyên trong bản án.

- Bổ sung thêm một số điều luật sau

+ Điều 62.1. Không áp dụng miễn chấp hành hình phạt (quy định mới)

Không áp dụng miễn CHHP quy định tại Điều 62.4 của Bộ luật này đối với các tội phạm sau đây:

1. Các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Chương XIII của Bộ luật này;

2. Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh quy định tại Chương XXVI của Bộ luật này.

+ Điều 62.2. Miễn chấp hành hình phạt khi được đặc xá hoặc đại xá (quy định mới về tên gọi của Điều luật, trên cơ sở sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 1 Điều 62 của Bộ luật Hình sự năm 2015).

1. Đặc xá là quyết định của Chủ tịch nước tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân quy định như khoản 3, Điều 3 Luật Đặc xá năm 2007.

2. Đại xá là quyết định của Quốc hội cho người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt.

+ Điều 62.3. Miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ (quy định mới về tên gọi của điều luật, trên cơ sở sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 62 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng thời quy định mới khoản 1 và khoản 2).

1. Người bị kết án cải tạo không giam giữ, chưa chấp hành hình phạt thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Sau khi bị kết án đã lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo;

b) Chấp hành tốt pháp luật và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.

2. Người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt quy định tại khoản 1 Điều này vẫn thực hiện việc khấu trừ thu nhập.

+ Điều 62.4. Miễn chấp hành hình phạt tù có thời hạn (quy định mới về tên gọi của Điều luật, trên cơ sở sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 62 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng thời quy định mới khoản 3).

1. Người bị kết án tù có thời hạn đến 03 năm chưa chấp hành hình phạt thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Sau khi bị kết án đã lập công hoặc có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn;

b) Mắc bệnh hiểm nghèo hoặc người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;

c) Chấp hành tốt pháp luật và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này được áp dụng đối với người bị kết án phạt tù có thời hạn trên 03 năm nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Sau khi bị kết án đã lập công lớn; hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.

b) Quy định tại điểm b, c khoản 1 Điều này.

3. Quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được áp dụng để miễn chấp hành toàn bộ hình phạt đối với người bị kết án được hoãn chưa chấp hành hình phạt tù.

+ Điều 62.5. Miễn chấp hành hình phạt tù khi được tạm đình chỉ (giữ nguyên như khoản 4 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015)

+ Điều 62.6. Miễn chấp hành hình phạt tiền còn lại (quy định mới về tên gọi của điều luật và nội dung tương ứng như quy định tại khoản 5 Điều 62 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng thời sửa đổi, bổ sung điểm a, b, khoản 1, quy định mới khoản 2)

1. Người bị kết án phạt tiền đã tích cực chấp hành được một phần hình phạt, theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Lập công lớn hoặc do tai nạn hoặc ốm đau không tự mình gây ra;

b) Có hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn;

2. Quy định tại khoản 1 Điều này được áp dụng đối với người bị kết án phạt tiền là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung.

+ Điều 62.7. Miễn chấp hành hình phạt hình phạt bổ sung (quy định mới về tên gọi của điều luật và nội dung tương ứng như quy định tại khoản 6 Điều 62 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng thời sửa đổi, bổ sung cụm từ chấp hành tốt pháp luật).

Người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung cấm cư trú hoặc quản chế, nếu chấp hành tốt pháp luật và được một phần hai mức hình phạt, theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện nơi người đó chấp hành hình phạt, Tòa án có thể được Tòa án quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.

+ Điều 62.8. Miễn chấp hành hình phạt do bệnh tật (quy định mới)

Người bị kết án bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đã được điều trị bắt buộc tại cơ sở y tế chuyên khoa nhưng không khỏi bệnh, thì được miễn chấp hành hình phạt tù có thời hạn.

+ Điều 62.9. Miễn chấp hành hình phạt khi Bộ luật Hình sự không quy định là tội phạm (quy định mới)

1. Khi Bộ luật Hình sự xóa bỏ không quy định một tội phạm, người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; nếu chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này được áp dụng đối với người bị kết án trong trường hợp cố tình trốn tránh chấp hành hình phạt.

- Đối với Điều 66. Tha tù trước thời hạn có điều kiện (giữ nguyên tên gọi của điều luật và nội dung tương ứng tại 05 khoản từ khoản 1đến khoản 5, Điều 66 như quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng thời sửa đổi, bổ sung điểm đ, khoản 1 như sau:

1. Người đang chấp hành án phạt tù có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện sau đây:



d) Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, trách nhiệm dân sự và án phí;

- Đối với quy định tại Điều 67. Hoãn chấp hành hình phạt tù (giữ nguyên tên gọi của điều luật và nội dung tương ứng tại khoản 1 Điều 67 như quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng thời sửa đổi, bổ sung điểm c, d khoản 1 và khoản 2; quy định mới khoản 3 như sau:

1. Người bị kết phạt tù có thể được hoãn chấp hành hình phạt trong các trường hợp sau đây: …

c) Là người lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt, được hoãn đến 01 năm.

d) Bị kết án phạt tù đến 03 năm, do nhu cầu công vụ, thì được hoãn đến 01 năm.

2. Trong thời gian được hoãn chấp hành hình phạt tù, nếu có căn cứ quy định tại Điều 62.3 và 62.4 của Bộ luật này thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt; nếu thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

3. Không áp dụng hoãn chấp hành hình phạt tù quy định tại khoản 1 Điều này đối với người bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Chương XIII, các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh quy định tại Chương XXVI của Bộ luật này.

Nguyễn Văn Thủy

Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: