Thứ ba 21/04/2026 20:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về sự lạm dụng quyền của cổ đông trong công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay

Bài viết tập trung phân tích, đánh giá các hành vi lạm dụng quyền của cổ đông trong hoạt động của công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay và đưa ra định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm hạn chế hành vi này trong thực tiễn.

1. Vài nét khái quát về quyền cổ đông và sự thể hiện của quyền cổ đông

1.1. Khái niệm quyền cổ đông

Cổ đông trong công ty cổ phần (CTCP) thực hiện việc góp vốn mua số lượng cổ phần nhất định, tài sản vốn góp của cổ đông sẽ được chuyển sang công ty là chủ sở hữu. Hoạt động góp vốn “là việc chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền hưởng dụng một thứ tài sản để được hưởng các quyền lợi của công ty”[1]. Sau khi cổ đông góp vốn mua cổ phần, tài sản của công ty và tài sản của các cổ đông có sự tách bạch nhau, công ty với tư cách là chủ sở hữu các tài sản mà các sáng lập viên góp vào, vì vậy, nó là chủ thể của các quan hệ pháp luật - có tư cách pháp nhân.

Quyền cổ đông - có thể hiểu là quyền của chủ thể sở hữu cổ phần của CTCP, phát sinh từ việc chủ thể góp vốn mua cổ phần tạo nên vốn điều lệ. Theo đó, “các cổ đông mua cổ phần của công ty và điều này tạo nên nghĩa vụ của họ. Ngược lại, cổ phần tiêu biểu cho quyền lợi của họ trong công ty. Các quyền này bao gồm việc tham gia điều hành công ty, chia cổ tức, ưu tiên mua cổ phần mới phát hành và nhận lại một phần tài sản công ty”[2]. Cổ đông không có quyền trực tiếp chiếm hữu, sử dụng và định đoạt bất cứ tài sản nào của công ty, mà chỉ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình dựa trên việc sở hữu số lượng cổ phần nhất định theo quy định của pháp luật hoặc điều lệ công ty.

Như vậy, quyền của cổ đông là một loại quyền đặc biệt được xác lập thông qua việc cổ đông sở hữu cổ phần và được thực hiện trên một chủ thể độc lập - pháp nhân CTCP. Số lượng cổ đông trong CTCP “có thể biến đổi hằng ngày, nhưng tài sản của công ty thì luôn luôn được duy trì trạng thái ổn định, trọn vẹn và ở trong quá trình vận hành để tăng thêm giá trị của nó”[3].

1.2. Sự thể hiện của quyền cổ đông

Cổ đông là người góp vốn để mua cổ phần của công ty, khi thực hiện góp vốn thì phải chuyển quyền sở hữu/quyền sử dụng tài sản góp vốn cho công ty. Cổ đông không phải là chủ sở hữu khối tài sản của công ty, cổ đông cũng không phải là chủ sở hữu của công ty. Cổ đông là chủ sở hữu của phần vốn cổ phần và thực hiện các quyền cổ đông trên cơ sở quyền sở hữu cổ phần của mình. Quyền cổ đông là một loại quyền đặc biệt vì được xác lập thông qua việc sở hữu cổ phần nhưng được thực hiện trên một chủ thể quan hệ pháp luật độc lập (pháp nhân công ty).

Quyền của cổ đông rất đa dạng và được gắn liền với tư cách thành viên công ty[4]. Nếu xem xét dưới khía cạnh kinh tế thì quyền cổ đông có thể được chia thành các nhóm quyền như:

- Nhóm quyền mang tính kinh tế của cổ đông, bao gồm những quyền mang lại cho cổ đông những lợi ích vật chất nhất định như: Quyền được hưởng cổ tức, quyền được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán, quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần, quyền được phân chia tài sản khi công ty chấm dứt hoạt động và quyền chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác.

- Nhóm quyền không có tính chất kinh tế của cổ đông là các “quyền phi kinh tế” hay các “quyền tham gia quản lý”, bao gồm: Quyền tham dự và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ), quyền tiếp cận thông tin, quyền triệu tập cuộc họp, quyền đề cử người quản lý, quyền yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của ĐHĐCĐ, quyền khởi kiện người quản lý công ty. Khi thực hiện các quyền không mang tính kinh tế là biện pháp cần thiết để các cổ đông bảo đảm các quyền mang tính kinh tế của mình.

2. Các biểu hiện của hành vi lạm dụng quyền cổ đông

2.1. Sự lạm dụng đa số hoặc thiểu số

Trong CTCP, cổ đông lớn là cổ đông sở hữu từ 5% trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của một tổ chức phát hành[5]. Như vậy, cổ đông thiểu số có thể hiểu là cổ đông sở hữu dưới 5% số cổ phiếu có quyền biểu quyết của một CTCP.

2.1.1. Sự lạm dụng đa số của cổ đông

Quyền của cổ đông có nhiều khả năng bị lạm dụng, nhất là quyền biểu quyết trong các cuộc họp ĐHĐCĐ. Về nguyên tắc, các cổ đông lớn phải có nghĩa vụ là không thực hiện quyền kiểm soát theo cách mà có thể đi ngược lại hoặc không xem xét đến lợi ích của cổ đông khác. Tuy vậy, trên thực tế, các hành vi lạm dụng thường được thực hiện bởi các cổ đông lớn đối với các cổ đông thiểu số, sự biểu hiện của lạm dụng đa số khi phiếu bầu của cổ đông lớn tạo ra cho chính họ một lợi thế hoặc một lợi ích, đồng thời gây bất lợi cho lợi ích của công ty hoặc chỉ dựa trên ý định ủng hộ lợi ích của cổ đông lớn gây bất lợi, tổn hại cho công ty hoặc các cổ đông khác.

Quyền đối với hoạt động quản lý công ty thuộc về số ít các cổ đông lớn, họ sẽ có động cơ để tối đa hóa giá trị công ty phục vụ lợi ích của chính mình. Mặt khác, “lợi ích từ hoạt động kinh doanh của công ty có khả năng bị phân phối không công bằng cho đa số các cổ đông nhỏ, sự lạm quyền của nhóm cổ đông chi phối có khả năng gây hại cho những cổ đông nhỏ còn lại”[6].

Các cổ đông lớn thường là giám đốc hoặc người quản lý của công ty, nhiệm vụ của họ đối với công ty hoặc các cổ đông khác thường với tư cách mà họ đang đảm nhiệm, thay vì là cổ đông lớn. Trên thực tế, một số cổ đông lớn có khuynh hướng thao túng việc quản trị, điều hành công ty, cũng như lạm dụng quyền cổ đông, thành viên lớn để loại bỏ hoặc ngăn cản thực hiện quyền của cổ đông thiểu số.

Bên cạnh đó, sự lạm dụng đa số còn thể hiện ở việc một số cổ đông lớn “bắt tay nhau” để thông qua một quyết định không vì lợi ích chung của công ty; các giao dịch nội bộ, các giao dịch với người có liên quan của công ty không được thông báo công khai hoặc thông báo không kịp thời đến các cổ đông thiểu số. Sự lạm dụng của cổ đông lớn “chỉ biểu hiện rõ nét khi có sự thay đổi chức năng, nếu quyết định chỉ vì quyền lợi ích kỷ trái ngược với quyền lợi công ty và thậm chí là dẫn đến việc hy sinh quyền lợi hợp pháp của các hội viên thiểu số”[7]. Hành vi của các cổ đông lớn lạm quyền làm ảnh hưởng đến lợi ích của công ty, vai trò cá nhân của cổ đông lớn ảnh hưởng gần như bao trùm cả Hội đồng quản trị cũng như cả công ty, trong khi vai trò của Ban kiểm soát lại “mờ nhạt” và bị vô hiệu hóa, các cổ đông nhỏ không dễ dàng để có ý kiến.

2.1.2. Sự lạm dụng thiểu số của cổ đông

Trên thực tế, sự lạm dụng thiểu số thể hiện ở việc các cổ đông thiểu số thường hành động với mục đích duy nhất phục vụ lợi ích của các cổ đông thiểu số và gây bất lợi cho lợi ích của công ty và của các cổ đông khác. Cổ đông thiểu số cũng có thể thực hiện các hành vi lạm dụng quyền biểu quyết của mình bằng việc cản trở quyết định của ĐHĐCĐ một cách vô lý, xâm phạm lợi ích của công ty. Các quyết định của ĐHĐCĐ phải đạt được tỷ lệ theo quy định của Luật Doanh nghiệp hoặc điều lệ, vì vậy, cổ đông thiểu số có thể chống lại việc thông qua quyết định đó để không đạt được tỷ lệ tán thành. Một trong những hành vi lạm dụng thiểu số biểu hiện khi mà các cổ đông thiểu số “phản đối ba lần liên tiếp một quyết định tăng vốn một cách bức thiết để cứu vãn công ty”[8]. Trong nhiều trường hợp, hành vi lạm dụng cũng thể hiện ở những hoạt động với mục đích duy nhất là phục vụ lợi ích của các cổ đông thiểu số, gây bất lợi cho tất cả các cổ đông khác.

Trong một số trường hợp, các cổ đông thiểu số lạm dụng nhằm mục đích để phá rối, gây cản trở hoạt động bình thường của công ty. Cổ đông thiểu số còn thực hiện việc gửi thư đến nhiều cơ quan, báo chí làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động của doanh nghiệp và có nguy cơ xâm phạm đến uy tín, quyền lợi của người quản lý hoặc của công ty.

2.2. Sự lạm dụng quyền tiếp cận thông tin của cổ đông

Quyền tiếp cận thông tin là một trong các quyền cơ bản và quan trọng của cổ đông trong CTCP. Quyền tiếp cận thông tin của cổ đông được hiểu là quyền được đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp các thông tin về hoạt động kinh doanh, tình hình tài chính và những vấn đề liên quan của công ty. Xuất phát của quyền tiếp cận thông tin của cổ đông từ sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quản lý công ty. Do đó, “cơ chế tiếp cận giám sát nguồn vốn được thiết lập thông qua quyền tiếp cận các thông tin về công ty, góp phần bảo đảm lợi ích của cổ đông, phòng ngừa hành vi tư lợi và lạm quyền của người quản lý”[9]. Pháp luật có vai trò quan trọng trong điều chỉnh việc tiếp cận những thông tin trong tương lai, góp phần hạn chế tình trạng cổ đông lớn sử dụng các thông tin chưa được công bố để thực hiện giao dịch chứng khoán, nhằm thu lợi bất chính, gây thiệt hại cho công ty hoặc cổ đông thiểu số.

Theo đó, một số thông tin phải được tiết lộ cho các cổ đông trước, trong và sau các cuộc họp cổ đông. Quyền đặt câu hỏi tại ĐHĐCĐ được ghi nhận cả với công ty niêm yết hoặc không niêm yết. Cổ đông có thể đặt câu hỏi trước bằng việc gửi câu hỏi hoặc đặt câu hỏi bằng miệng trong cuộc họp cổ đông. Các cổ đông thiểu số lạm dụng quyền đó để can thiệp quá mức vào việc chuẩn bị cuộc họp hoặc đặt ra các câu hỏi dẫn đến việc trả lời câu hỏi sẽ tiết lộ thông tin bí mật của công ty hoặc sử dụng cho các động cơ khác ngoài các nội dung của chương trình nghị sự được thông báo đến các cổ đông.

Thông thường, những nội dung và phạm vi quyền tiếp cận thông tin của cổ đông được điều chỉnh bởi các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 và điều lệ của công ty. Vấn đề đặt ra là, sau khi thực hiện quyền được tiếp cận các thông tin của công ty, các cổ đông sử dụng những thông tin đó như thế nào. Nếu cổ đông sử dụng các thông tin nhằm bảo đảm cho các quyền lợi hợp pháp của mình trong công ty, thì đó là yêu cầu hoàn toàn chính đáng. Pháp luật luôn tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu và các quyền phái sinh của quyền sở hữu của các chủ thể trong xã hội.

Về nguyên tắc, mọi cổ đông có quyền nhận được mọi thông tin về hoạt động của công ty mà họ quan tâm, bởi họ là chủ sở hữu số lượng cổ phần nhất định của công ty. Những người quản lý công ty có thể là cổ đông hoặc do chủ sở hữu công ty thuê để thực hiện công việc quản lý. Vì vậy, đôi khi những thông tin mà chủ sở hữu yêu cầu được cung cấp lại bị chính những người quản lý gây khó khăn, thậm chí là cản trở, trì hoãn.

Về lý thuyết, các thông tin mà cổ đông được cung cấp, tiếp cận thì “cổ đông không có bất kỳ nghĩa vụ bảo mật nào và cổ đông có thể chia sẻ thông tin với cổ đông khác hay bất kỳ bên thứ ba nào”[10]. Tuy vậy, theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì nghĩa vụ của cổ đông phải “bảo mật các thông tin được công ty cung cấp theo quy định tại điều lệ công ty và pháp luật; chỉ sử dụng thông tin được cung cấp để thực hiện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; nghiêm cấm phát tán hoặc sao, gửi thông tin được công ty cung cấp cho tổ chức, cá nhân khác”[11]. Đây cũng là điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2020 nhằm gắn nghĩa vụ bảo mật của cổ đông với các thông tin mà họ tiếp cận được do công ty cung cấp. Nếu cổ đông lạm dụng để sử dụng các thông tin làm ảnh hưởng xấu, xâm hại đến lợi ích của công ty hoặc của các cổ đông khác, thì đó là hành vi vi phạm nghĩa vụ của cổ đông. Cổ đông có quyền tiếp cận thông tin của công ty nhưng phải thực hiện nghĩa vụ trong việc sử dụng thông tin về công ty.

Ở nhiều nước, pháp luật quy định tương tự về vấn đề cổ đông có quyền được thông tin nhưng cổ đông phải có hành động “thiện chí và với mục đích chính đáng, có quyền xem xét và sao chép sổ biên bản, báo cáo kế toán và danh sách cổ đông của công ty. Mục đích chính đáng là mục đích giúp đỡ cổ đông trong việc quản lý và bảo vệ việc đầu tư của mình”[12].

2.3. Sự lạm dụng quyền khởi kiện của cổ đông

Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 01% tổng số cổ phần phổ thông có quyền tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm liên đới đối với các thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc/Tổng giám đốc để yêu cầu hoàn trả lợi ích hoặc bồi thường thiệt hại cho công ty hoặc người khác trong các trường hợp sau đây: (i) Vi phạm trách nhiệm của người quản lý công ty; (ii) Không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, thực hiện không kịp thời hoặc thực hiện trái với quy định của pháp luật hoặc điều lệ công ty, nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị đối với quyền và nghĩa vụ được giao; (iii) Lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh, tài sản khác của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác; (iv) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty.

Bên cạnh việc mở rộng quyền được khởi kiện của các cổ đông, nhóm cổ đông trong công ty thì xuất hiện nguy cơ lạm dụng quyền đại diện tố tụng của cổ đông. Nguy cơ đó thể hiện ở chỗ nguyên đơn khởi kiện chưa chắc đã đại diện cho toàn thể cổ đông vì mục đích bảo vệ lợi ích của công ty. Nhiều vụ kiện của cổ đông không có cơ sở pháp lý. Trong các vụ việc lạm dụng quyền khởi kiện, động cơ của cổ đông thường có hai dạng: (i) Nhằm mục đích kinh tế, chẳng hạn như cổ đông bằng việc đưa ra ý kiến phản đối đến thành viên Hội đồng quản trị hy vọng sẽ thu lại được lợi ích kinh tế nào đó; (ii) Nhằm mục đích phi kinh tế, như bán danh, mở rộng quyền phát ngôn trong công ty[13]. Việc lạm dụng quyền khởi kiện của cổ đông vì lợi ích kinh tế hoặc phi kinh tế đều có thể gây ra sự bất tín nhiệm đối với công ty, làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của công ty.

3. Một số định hướng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hành vi lạm dụng quyền của cổ đông trong công ty cổ phần

Một là, Luật Doanh nghiệp năm 2020 cần dự liệu các trường hợp về “lạm dụng đa số” của cổ đông lớn và “lạm dụng thiểu số” của cổ đông thiểu số trong quá trình thực hiện quyền biểu quyết của mình đối với các vấn đề của công ty để đạt được mục đích riêng, xâm hại đến lợi ích của công ty, của các cổ đông khác. Các quy định pháp luật cần cân đối quyền lợi hợp pháp của cổ đông lớn và cổ đông thiểu số với việc bảo đảm hoạt động kinh doanh, tránh tình trạng cổ đông lạm dụng các quy định pháp luật nhằm gây rối, ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp.

Hai là, để hạn chế việc lạm dụng quyền khởi kiện phái sinh của cổ đông “không thân thiện”, cũng như bảo đảm cho CTCP có cơ hội được đưa ra biện pháp phi tố tụng trước khi cổ đông nộp đơn khởi kiện, cần ban hành thủ tục kiện phái sinh. Có thể tham khảo cách tiếp cận của pháp luật Anh - Mỹ: (i) Bắt buộc cổ đông thông báo cho cơ quan quản lý CTCP về sai phạm để tạo điều kiện cho CTCP đưa ra biện pháp khắc phục cũng như trao quyền ưu tiên khởi kiện cho công ty tự mình khởi kiện người quản lý; (ii) Khi quá thời hạn mà CTCP không hồi đáp hoặc từ chối quyền ưu tiên khởi kiện của mình, cổ đông mới có thể nhân danh công ty khởi kiện[14]. Còn theo quy định của Luật Thương mại Nhật Bản, “trong trường hợp thành viên Hội đồng quản trị bị đại diện cổ đông khởi kiện, khi có yêu cầu của thành viên này về việc làm sáng tỏ việc cổ đông nguyên đơn phải đưa ra bảo đảm cho việc khởi kiện”[15]. Quy định này sẽ hạn chế khả năng cổ đông lạm dụng quyền khởi kiện nhằm mục đích cá nhân. Vì vậy, việc pháp luật hiện hành mở rộng quyền khởi kiện cho cổ đông nhưng cũng cần thiết phải đưa ra các quy định hạn chế quyền, để hạn chế việc lạm dụng quyền khởi kiện của cổ đông gây ảnh hưởng đến lợi ích của công ty và cổ đông khác.

Ba là, Luật Doanh nghiệp năm 2020 cần điều chỉnh thỏa thuận cổ đông liên quan tới quyền biểu quyết như gộp quyền biểu quyết nhằm thể hiện ý chí chung về các vấn đề của công ty. Yếu tố then chốt để cân bằng quyền của đa số và quyền của thiểu số là tính hợp lý, thể hiện ở chỗ, đa số cổ đông có quyền quyết định nhưng thiểu số có quyền phản đối, phản biện. Theo đó, cần thiết hoàn thiện quy định về các cơ chế gộp, tập trung quyền biểu quyết của cổ đông thiểu số để đồng ý hoặc không đồng ý các vấn đề của công ty tại ĐHĐCĐ, cơ chế hạn chế quyền biểu quyết của cổ đông lớn tránh việc lạm quyền trong các quyết định, xâm hại đến các cổ đông thiểu số[16].

Bốn là, Luật Doanh nghiệp năm 2020 cần tiếp cận theo hướng quy định cổ đông có quyền được thông tin nhưng cổ đông phải có hành động “thiện chí và với mục đích chính đáng có quyền xem xét và sao chép sổ biên bản, báo cáo kế toán và danh sách cổ đông của công ty. Mục đích chính đáng là mục đích giúp đỡ cổ đông trong việc quản lý và bảo vệ việc đầu tư của mình”[17]. Quy định trên gợi mở cho các quy định của Luật Doanh nghiệp hiện hành trong việc gắn mục đích của việc yêu cầu cung cấp thông tin của cổ đông, dựa trên sự thiện chí và mục đích chính đáng thì người quản lý có thể cung cấp hoặc có thể từ chối cung cấp các thông tin. Đây cũng là cơ sở để lược bỏ quy định về tỷ lệ cổ phần mà cổ đông phải sở hữu tỷ lệ hoặc thời gian sở hữu nhằm bảo đảm tối đa quyền của cổ đông thiểu số trong CTCP[18].

Có thể nói, Luật Doanh nghiệp năm 2020 mặc dù đã chú trọng đến việc quy định tăng quyền của các cổ đông nhưng dường như vẫn chưa thực sự quan tâm đến việc “chống lại” các hành vi lạm dụng tiềm ẩn của quyền cổ đông trong CTCP. Trong thực tiễn, việc phát hiện, chứng minh hành vi lạm quyền của cổ đông không phải điều dễ dàng. Vì vậy, theo tác giả, Luật Doanh nghiệp năm 2020 cần tuân theo xu hướng mở rộng quyền của cổ đông nhằm bảo đảm tính dân chủ trong CTCP, đồng thời đưa ra các cơ chế để bảo đảm thực hiện các quyền đó trong chừng mực nhất định, hạn chế hành vi lạm dụng quyền cổ đông có thể phát sinh trong hoạt động kinh doanh của CTCP ở Việt Nam hiện nay./.

TS. Nguyễn Văn Lâm

Viện Kinh tế và Quản lý, Đại học Bách khoa Hà Nội

[1]. Nguyễn Văn Bình và Lê Thị Tý (1989) (dịch), Tổ chức công ty - Tập 1, Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý, tr. 51.

[2]. Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung (2013), Luật Doanh nghiệp: Vốn và quản lý trong công ty cổ phần, Nxb. Trẻ, tr. 67.

[3]. Ngô Viễn Phú (2003), Bàn về tính chất của quyền cổ đông, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (12), tháng 12, tr.53 - 58.

[4]. Nguyễn Mạnh Bách (2006), Các công ty thương mại, Nxb. Tổng hợp Đồng Nai, tr. 132.

[5]. Khoản 18 Điều 4 Luật Chứng khoán năm 2019.

[6]. Lê Thanh Sơn, Đồng Thái Quang (2022), Giải pháp bảo vệ quyền của cổ đông trong công ty cổ phần, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 10 (458), tháng 5/2022.

[7]. Nguyễn Văn Bình, Lê Thị Tý (1989) (dịch), Tổ chức công ty - Tập 1, Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý, tr. 115.

[8]. Nguyễn Văn Bình, Lê Thị Tý (1989) (dịch), Tlđd, tr. 116

[9]. Phạm Hoàng Huấn (Chủ biên) (2017), Tranh chấp điển hình trong quản trị công ty, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 264.

[10]. Trương Nhật Quang (2016), Pháp luật về doanh nghiệp: Các vấn đề pháp lý cơ bản, Nxb. Dân trí, tr. 275.

[11]. Khoản 5 Điều 119 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[12]. Bùi Ngọc Sơn (2011), Giáo trình Pháp luật doanh nghiệp, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 80.

[13]. Nguyễn Thị Lan Hương (2005), Đại diện tố tụng của cổ đông ở Nhật Bản, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (12), tr. 60.

[14]. Nguyễn Thị Thu Hương (2023), Bảo đảm quyền khởi kiện của cổ đông trong công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Tháng 11 (Số 393).

[15]. Khoản 2 Điều 106 và Điều 267 Luật Thương mại Nhật bản.

[16]. Nguyễn Văn Lâm (2022), Pháp luật về quyền biểu quyết của cổ đông và một số kiến nghị hoàn thiện, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Tháng 4 (378), tr. 25 - 30.

[17]. Bùi Ngọc Sơn (2011), Giáo trình Pháp luật doanh nghiệp, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 80.

[18]. Nguyễn Văn Lâm (2022), Bàn về các quyền không mang tính kinh tế của cổ đông, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Tháng 10 (367), tr. 35 - 40.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 396), tháng 1/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

Theo dõi chúng tôi trên: