Thứ bảy 07/02/2026 20:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về thụ lý các tranh chấp hết thời hiệu khởi kiện

Khoản 1 Điều 159 Bộ luật Tố tụng Dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 qui định: “Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

Việc qui định thời hiệu khởi kiện là rất cần thiết nhằm đảm bảo trật tự xã hội, đảm bảo quyền được bảo vệ an toàn của con người; điều này cũng phù hợp với luật pháp quốc tế. Nếu hết thời hiệu khởi kiện thì chủ thể có quyền khởi kiện mất quyền khởi kiện, nghĩa là Tòa án sẽ không thụ lý giải quyết vụ án đó.

Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 cũng qui định trong thời hạn 05 ngày làm việc sau khi nhận đơn thì Tòa án sẽ xử lý đơn, trả lời cho người khởi kiện: Hoặc là thụ lý vụ án, hoặc là trả lại đơn khởi kiện (theo Điều 168 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011) hoặc là yêu cầu sửa chữa, bổ sung đơn khởi kiện (theo Điều 169 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011). So với Bộ luật Tố tụng dân sự cũ, Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 đã bãi bỏ qui định trả lại đơn khởi kiện với lý do hết thời hiệu khởi kiện, cũng như không có qui định việc sửa chữa, bổ sung đơn khởi kiện, trong trường hợp này thì đồng nghĩa với việc Tòa án phải thụ lý giải quyết các tranh chấp đã hết thời hiệu khởi kiện, các tranh chấp mà chủ thể có quyền đã mất quyền khởi kiện. Rõ ràng việc qui định thời hiệu khởi kiện và thụ lý các tranh chấp đã hết thời hiệu khởi kiện đã “vô tình” mâu thuẫn nhau. Bởi lẽ, vô hình chung, Tòa án phải thụ lý tất cả các tranh chấp hết thời hiệu khởi kiện, điều này có nghĩa các chủ thể được quyền khởi kiện đều có quyền khởi kiện khi thời hiệu khởi kiện đã hết, chứ không phải mất quyền khởi kiện như khoản 1 Điều 159 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 đã qui định nữa.

Mặc dù, khoản 1 Điều 159 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 cũng có qui định trường hợp ngoại lệ đối với thời hiệu khởi kiện “trừ trường hợp pháp luật có qui định khác” nhưng việc qui định này là qui định về thời hiệu khởi kiện (qui định về thời hạn để khởi kiện), chứ không phải qui định về việc còn quyền khởi kiện hay mất quyền khởi kiện. Nghĩa là, không phải trường hợp loại trừ nếu pháp luật có qui định thụ lý các tranh chấp đã hết thời hiệu khởi kiện (pháp luật có qui định khác) là phải tuân theo qui định đó. ở đây, được hiểu là trường hợp loại trừ, trong trường hợp bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện theo qui định tại Điều 162 Bộ luật Dân sự:

“1. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại trong trường hợp sau đây:

a) Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;

b) Bên có nghĩa vụ thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;

c) Các bên đã tự hoà giải với nhau.

2. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra sự kiện quy định tại khoản 1 Điều này”.

Ngoài ra, “trừ trường hợp pháp luật có qui định khác” theo khoản 1 Điều 159 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 cũng được hiểu là loại trừ các trường hợp không tính thời hiệu khởi kiện.

Do đó, định nghĩa và qui định về thời hiệu khởi kiện như Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 là chưa chính xác, chưa phù hợp với thực tiễn áp dụng pháp luật. Mặt khác, nếu tòa án phải thụ lý các tranh chấp đã hết thời hiệu khởi kiện là “vô tình” mâu thuẫn với các qui định pháp luật khác, làm cản trở các qui định của pháp luật chuyên ngành khác. Cụ thể như:

Điều 74 và Điều 75 Luật Thi hành án dân sự có qui định:

“Điều 74. Cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung

1. Trước khi cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án với người khác, kể cả quyền sử dụng đất, chấp hành viên phải thông báo cho chủ sở hữu chung biết việc cưỡng chế.

Chủ sở hữu chung có quyền khởi kiện yêu cầu toà án xác định phần sở hữu của họ đối với tài sản chung. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, nếu chủ sở hữu chung không khởi kiện thì người được thi hành án hoặc chấp hành viên có quyền yêu cầu toà án xác định phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để bảo đảm thi hành án.

Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu chung của vợ, chồng thì chấp hành viên xác định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và thông báo cho vợ, chồng biết. Trường hợp vợ hoặc chồng không đồng ý thì có quyền khởi kiện yêu cầu toà án phân chia tài sản chung trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày phần sở hữu được chấp hành viên xác định. Hết thời hạn trên, đương sự không khởi kiện thì chấp hành viên tiến hành xử lý tài sản và thanh toán lại cho vợ hoặc chồng của người phải thi hành án giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ.

2. Tài sản kê biên thuộc sở hữu chung đã xác định được phần sở hữu của các chủ sở hữu chung được xử lý như sau:

a) Đối với tài sản chung có thể chia được thì chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế phần tài sản tương ứng với phần sở hữu của người phải thi hành án;

b) Đối với tài sản chung không thể chia được hoặc nếu việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với toàn bộ tài sản và thanh toán lại cho chủ sở hữu chung còn lại giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ.

3. Khi bán tài sản chung, chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua tài sản.

Điều 75. Xử lý đối với tài sản khi cưỡng chế có tranh chấp

Trường hợp cưỡng chế đối với tài sản của người phải thi hành án mà có tranh chấp với người khác thì chấp hành viên tiến hành cưỡng chế và yêu cầu đương sự, người có tranh chấp khởi kiện tại toà án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Chấp hành viên xử lý tài sản đã kê biên theo quyết định của toà án, cơ quan có thẩm quyền.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày chấp hành viên yêu cầu mà đương sự, người có tranh chấp không khởi kiện tại toà án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì tài sản được xử lý để thi hành án theo quy định của Luật này”.

Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Nên việc qui định thời hạn 30 ngày để các chủ thể có quyền thực hiện quyền khởi kiện được qui định tại các Điều 74, 75 Luật Thi hành án dân sự chính là thời hiệu khởi kiện theo pháp luật chuyên ngành, điều này phù hợp với Điều 159 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011.

Ngoài ra, Thông tư liên tịch 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC hướng dẫn về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự cũng có hướng dẫn: “Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo mà không có người khởi kiện thì cơ quan thi hành án xử lý tài sản theo quy định của pháp luật, trường hợp có người khởi kiện thì cơ quan thi hành án chỉ xử lý tài sản khi có bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Về nguyên tắc, nếu tòa án thụ lý các tranh chấp liên quan đến tài sản kê biên có tranh chấp thì cơ quan thi hành án dân sự sẽ hoãn việc thi hành án theo điểm d khoản 1 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự và chỉ giải quyết lại khi nào vụ án tranh chấp về tài sản kê biên được giải quyết xong. Do vậy, nếu hết thời hạn 30 ngày, đương sự không khởi kiện thì cơ quan thi hành án dân sự sẽ làm thủ tục tiếp theo như thẩm định giá, bán đấu giá tài sản. Việc xác định trong thời hạn qui định luật định theo pháp luật thi hành án dân sự có ý nghĩa rất quan trọng để xác định hướng tác nghiệp tiếp theo đối với các chấp hành viên, nó góp phần tạo ra các quyết định chính xác và đúng pháp luật.

Tuy nhiên, nếu các đương sự tranh chấp không thực hiện quyền khởi kiện để giải quyết tranh chấp trong thời hạn qui định của cơ quan thi hành án dân sự, mà đợi tới khi cơ quan thi hành án dân sự tiến hành các thủ tục thẩm định giá, bán đấu giá mới khởi kiện tranh chấp tài sản kê biên và căn cứ vào qui định: “Phải thụ lý các tranh chấp hết thời hiệu khởi kiện” thì về nguyên tắc Tòa án vẫn phải thụ lý tranh chấp này. Nhưng việc đương sự thực hiện quyền khởi kiện ngoài thời hạn qui định sẽ gây khó khăn, cản trở cho cơ quan thi hành án, có thể gây tốn kém chi phí thẩm định giá, bán đấu giá tài sản,.. nếu tài sản kê biên có thay đổi vì phán quyết của Tòa án. Thậm chí, nếu các đương sự tranh chấp về tài sản kê biên đợi đến khi bán đấu giá hoàn thành, đang chờ thủ tục giao tài sản mới thực hiện việc khởi kiện thì Tòa án vẫn phải thụ lý giải quyết vụ án và sau đó phán quyết của Tòa án làm thay đổi tài sản kê biên, thay đổi chủ sở hữu của tài sản kê biên…, thì sẽ mang lại những hệ quả khó khắc phục và giải quyết.

Do phán quyết của Tòa án, nên tài sản kê biên bị thay đổi, buộc cơ quan thi hành án phải tiến hành lại thủ tục kê biên, thẩm định giá, bán đấu giá, làm tốn kém chi phí.

Sở dĩ, có qui định “phải thụ lý các tranh chấp hết thời hiệu khởi kiện” là do các nhà làm luật cho rằng: “Dân sự cốt ở hai bên”, đảm bảo quyền tự định đoạt, cũng như quyền khởi kiện của của công dân khi quyền lợi của mình bị xâm phạm. Nếu, vì lý do hết thời hiệu khởi kiện mà trả lại đơn khởi kiện, không thụ lý vụ án là thiệt thòi cho người nộp đơn, tước đi quyền khởi kiện của đương sự. Mặt khác, nó cũng phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự về việc bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện (bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ đối với người khởi kiện; bên có nghĩa vụ đã thực hiện xong một phần nghĩa vụ đối với người khởi kiện; các bên đã tự hòa giải với nhau).

Theo quan điểm trên, dù tranh chấp đã hết thời hiệu khởi kiện, Tòa án vẫn phải thụ lý đơn khởi kiện, sau đó xem xét vụ việc có thể bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện theo quy định của Bộ luật Dân sự hay không.

Vấn đề là Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 cũng có quy định Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án với lý do hết thời hiệu khởi kiện (Điều 192). Cho đến nay, chưa có hướng dẫn rằng tới thời điểm nào sau khi thụ lý vụ kiện, thì thẩm phán ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

Giả sử sau khi thụ lý, thẩm phán không triệu tập bị đơn lên làm việc mà lại ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án ngay, thì điều này chỉ gây phiền phức cho người khởi kiện và gây tốn kém chi phí của người khởi kiện, chưa kể là làm cho lượng án phải thụ lý giải quyết của Tòa án ngày một tăng lên do phải thụ lý giải quyết các tranh chấp hết thời hiệu khởi kiện.

Vì vậy, qui định thụ lý các tranh chấp đã hết thời hiệu khởi kiện là chưa thật sự phù hợp với thực tiễn hiện nay, vì nó làm phát sinh nhiều vụ việc, làm tốn kém chi phí của xã hội, nhưng hiệu quả lại rất ít và không như mong muốn của các nhà làm luật, vì nếu bị đơn biết được qui định đình chỉ giải quyết vụ án khi hết thời hiệu khởi kiện, thì họ cũng “không dại” gì thừa nhận để bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện; để mặc tòa triệu tập và đình chỉ giải quyết vụ án. Bởi vì đó là quyền an toàn của họ, họ được quyền sử dụng quyền đó để “đối phó” bảo vệ cho họ. Cho nên, việc qui định thụ lý các tranh chấp đã hết thời hiệu khởi kiện, để rồi sau đó đình chỉ giải quyết vụ án cũng vì chính lý do này là không cần thiết

Huỳnh Minh Khánh

Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, Tiền Giang

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: