Thứ năm 11/12/2025 03:34
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về tổ chức chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

Tóm tắt: Bài viết này nêu lên sự cần thiết phải tiếp tục có sự đột phá về tư duy, cách tiếp cận và các nguyên tắc để xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương phù hợp ở các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.

Abstract: This article points out the need of further breakthrough in thinking, approaching and principles for setting up an appropriate model of local government organization in administrative - economic special units.

Theo Hiến pháp năm 2013, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định thành các đơn vị hành chính theo cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. Ngoài ra còn có đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt[1]. Theo sự phân định này, chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Tuy nhiên, tổ chức chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt mới chỉ được quy định những vấn đề cơ bản, mang tính nguyên tắc[2]. Trong quá trình xây dựng Dự thảo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt[3] thì mô hình tổ chức chính quyền địa phương ở đó được tổ chức như thế nào đang trở thành một vấn đề quan trọng, cần thể hiện được tính “đặc biệt” phù hợp yêu cầu thúc đẩy phát triển kinh tế, thu hút đầu tư ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.

1. Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

Đặc khu kinh tế (SEZ)[4] là thuật ngữ dùng để chỉ một đơn vị hành chính/vùng lãnh thổ được lập ra vì mục đích phát triển kinh tế rõ rệt hơn những vùng còn lại của quốc gia. Các ngành nghề và doanh nghiệp hoạt động trong đó được hưởng chính sách pháp luật và các ưu đãi đặc biệt hơn những khu vực khác. Như vậy, các SEZ là một khu vực nằm trong lãnh thổ một quốc gia, mục đích của SEZ bao gồm: Gia tăng thương mại, tăng cường đầu tư, tạo việc làm và quản lý hiệu quả. Khi gia nhập hoạt động trong đặc khu kinh tế, các doanh nghiệp có thể “miễn nhiễm” với pháp luật quốc gia liên quan đến thuế, hạn ngạch, lao động và những nội dung pháp luật khác nhằm tạo ra các hàng hóa có mức giá cạnh tranh trên quy mô toàn cầu.

Đặc khu hành chính (SAR)5 là một khu vực/vùng lãnh thổ tự trị về hành chính. Thuật ngữ này có thể được bắt nguồn từ Trung Quốc với hai đặc khu hành chính nổi tiếng là Hồng Kông SAR và Macau SAR. Hồng Kông và Macau là những vùng lãnh thổ tự trị thuộc phạm vi chủ quyền của Trung Quốc, nhưng không tạo thành một phần của Trung Quốc đại lục. Cơ sở pháp lý cho việc thành lập SAR/RAE không giống như các đơn vị hành chính của Trung Quốc đại lục. SAR được quy định tại Điều 31 của Hiến pháp, còn Điều 30 là quy định dành cho các đơn vị hành chính đại lục. Đặc điểm của SAR tại Trung Quốc liên quan đến những vấn đề như: Mức độ tự chủ cao, chính sách đối ngoại, chính sách quốc phòng/quân sự, vấn đề nhập cư và quốc tịch. Như vậy, chế độ hành chính đặc biệt như Hồng Kông hay Macau nhằm mục đích giải quyết sự ổn thỏa về an ninh - chính trị cho hai vùng đất vốn là thuộc địa được trao trả, nhằm khắc phục những biệt lệ từ thời kỳ thuộc địa. Điều này khác với việc muốn tạo ra những khu vực thúc đẩy phát triển kinh tế thì cần trao những qui chế hành chính đặc biệt. Tổng quát lại, các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt có một số đặc điểm sau: (i) Thường là các vùng đất có địa vị đặc biệt về mặt lịch sử, chính trị hoặc thuận lợi cho phát triển kinh tế; (ii) Được thành lập vì mục đích chính trị, lịch sử hoặc kinh tế; (iii) Do cơ quan trung ương trực tiếp quản lý hoặc được trao các qui chế quản lý/hoặc tự trị khác biệt với các đơn vị hành chính - lãnh thổ thông thường, tùy thuộc vào tính chất của từng loại đặc khu.

Từ các phân tích trên, xét thấy khái niệm đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt trong Hiến pháp Việt Nam năm 2013 gần gũi với dạng thức SEZ (Đặc khu kinh tế/khu kinh tế tự do), mà có thể được trao những qui chế đặc biệt hơn cả nhằm những mục đích lâu dài trong phát triển kinh tế - xã hội. Nó đồng thời khác các dạng thức khác đã tồn tại hoặc đang thí điểm ở nước ta[6]. Hiện tại, Việt Nam cũng không tồn tại yếu tố lịch sử dẫn đến thành lập dạng thức SAR (Đặc khu hành chính) như Trung Quốc hoặc Indonesia. Tuy nhiên, địa vị và phân loại đơn vị hành chính cho các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt chưa được rõ nét. Có ý kiến cho rằng, Điều 110 Hiến pháp năm 2013 quy định đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt là do Quốc hội thành lập nên nó phải thuộc Trung ương (tương đương cấp tỉnh). Tuy nhiên, Hiến pháp không minh định đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt là thuộc tỉnh hay Trung ương. Do đó, khi Quốc hội thành lập thì việc quy định thực thể này thuộc Trung ương hay tỉnh là thẩm quyền của Quốc hội. Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, với các bước đi ban đầu, nên xác lập các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt là đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh. Sau khi đã mở rộng, phát triển về chiều sâu, về quy mô sẽ xem xét để xác lập lại địa vị thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương.

2. Tổ chức chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

2.1. Điều kiện thành lập đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

Trong các điều kiện tạo nên sự thành công của Đặc khu mà các quốc gia đã và đang làm, thì tổ chức chính quyền địa phương phù hợp là điều kiện cần và đủ rất quan trọng. Hơn nữa, mô hình chính quyền địa phương phải được xác định và đi trước một bước rồi mới tới các chính sách, cơ chế đặc thù để phát triển kinh tế, thu hút đầu tư. Từ kinh nghiệm của các mô hình thành công và chưa thành công cho thấy, để tạo lập và tổ chức chính quyền địa phương tại các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt (sau đây gọi là Đặc khu) đạt được mục đích đề ra phải bảo đảm các điều kiện cần và đủ sau:

Một là, vùng lãnh thổ xây dựng đặc khu phải có vị trí địa lý kinh tế mang tính chiến lược, hàm chứa các tiềm năng kinh tế như giao thông thủy, bộ, cảng biển, có thể kết nối thuận lợi với các vùng trong khu vực hoặc quốc tế, có khả năng thu hút đầu tư về vốn, tài chính và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Hai là, về thể chế, Nhà nước phải xây dựng và ban hành các quy định riêng cho các Đặc khu về các vấn đề: Bộ máy quản lý hành chính phù hợp với tính chất và đặc điểm của Đặc khu, cam kết trách nhiệm của Nhà nước đối với Đặc khu về xây dựng cơ sở hạ tầng, các chính sách ưu đãi về đầu tư, ưu đãi về thuế, hải quan, về quản lý và sử dụng lao động…

Ba là, bộ máy chính quyền địa phương được tổ chức tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, không nhất thiết theo các mô hình thông thường, được phân cấp, phân quyền và giao quyền tự chủ mạnh, hoạt động có sự giám sát.

Bốn là, xác định mục tiêu và chiến lược phát triển ngành nghề, nhất là các lĩnh vực, ngành nghề có lợi thế so sánh.

Năm là, trong điều kiện Việt Nam hiện nay phải xử lý được các tác động môi trường và xã hội đối với dân cư địa phương khi thành lập đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, gắn với quá trình chuyển đổi tái cơ cấu kinh tế; sử dụng và chuyển đổi nguồn nhân lực đang làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp sang làm các ngành, nghề khác có yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ cao; sắp xếp lại đội ngũ công chức, viên chức từ mô hình hiện hữu sang mô hình mới, giải phóng mặt bằng và đền bù cho dân.

2.2. Lựa chọn mô hình đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt cho Việt Nam

Để xây dựng bộ máy chính quyền địa phương với yêu cầu tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng được các yêu cầu về phát triển kinh tế, thu hút đầu tư, năng động, linh hoạt, theo tác giả có thể tiếp cận chính quyền địa phương ở Đặc khu thuộc tỉnh theo hướng tổ chức một cấp chính quyền địa phương. Theo hướng này thì chính quyền Đặc khu sẽ không tổ chức Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND), mà chỉ cần tổ chức cơ quan hành chính Đặc khu với người đứng đầu là Trưởng Đặc khu (có 02 phó) với cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính của Đặc khu gồm các cơ quan chuyên môn tham mưu và các khu hành chính. Cơ quan chuyên môn tham mưu giúp Trưởng Đặc khu có số lượng không quá 09 đơn vị. Trưởng Đặc khu do Thủ tướng Chính phủ tuyển dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm (sau này khi hoạt động ổn định và tốt rồi sẽ giao Chủ tịch UBND tỉnh tuyển dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm).

Cơ chế về tuyển chọn, bổ nhiệm nhân sự này được thực hiện cơ bản như sau: Thường trực Tỉnh ủy (Đảng) giới thiệu nhân sự; Chủ tịch UBND tỉnh trình HĐND xem xét, thông qua; nếu được HĐND có Nghị quyết thông qua thì Chủ tịch UBND tỉnh bổ nhiệm hoặc trình Thủ tướng bổ nhiệm. Giám sát hoạt động của Trưởng Đặc khu do HĐND cấp tỉnh thực hiện và đương nhiên có cả Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh thực hiện theo quy định của luật. UBND tỉnh cùng các Bộ, ngành giúp Thủ tướng thực hiện việc quản lý nhà nước, kiểm tra, thanh tra theo quy định của pháp luật. Chức danh Phó Trưởng Đặc khu do Trưởng Đặc khu trình Chủ tịch UBND tỉnh bổ nhiệm sau khi báo cáo cấp ủy Đặc khu thống nhất. Trong trường hợp Trưởng Đặc khu từ chức hoặc bị miễn nhiệm thì Phó Trưởng Đặc khu cũng đồng thời phải từ chức hoặc bị miễn nhiệm theo.

Người đứng đầu mỗi cơ quan chuyên môn hoặc khu hành chính là Trưởng ban, Trưởng khu hành chính... do Trưởng Đặc khu tuyển dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm. Trưởng Đặc khu và Phó Trưởng Đặc khu là công chức, còn lại là công chức hợp đồng. Thẩm quyền tuyển dụng, sử dụng, bố trí công việc, trả lương, khen thưởng, kỷ luật, giải quyết thôi việc, nghỉ hưu đối với người làm việc tại các cơ quan chuyên môn hoặc khu hành chính của Đặc khu thực hiện theo nguyên tắc: “Ai sử dụng thì người đó tuyển dụng”, nghĩa là gắn thẩm quyền tuyển dụng với thẩm quyền sử dụng. Theo nguyên tắc này, thì Trưởng ban chuyên môn hoặc Trưởng Khu hành chính sẽ thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức trên cơ sở danh mục vị trí việc làm. Không thực hiện cơ chế tuyển dụng “suốt đời” mà thực hiện theo cơ chế công chức hợp đồng. Khi không đáp ứng được yêu cầu công việc thì chấm dứt hợp đồng và giải quyết chế độ thôi việc. Bên cạnh mô hình này, có ý kiến đề nghị tổ chức mô hình chính quyền địa phương theo hướng có HĐND để thực hiện chức năng giám sát (cùng cấp). Vì HĐND cấp tỉnh chỉ thực hiện giám sát đối với cấp dưới. Chính quyền địa phương ở Đặc khu không quy định là một cấp chính quyền địa phương (không tổ chức HĐND và UBND), nhưng bao gồm HĐND và Trưởng cơ quan hành chính của Đặc khu. HĐND của Đặc khu có số lượng từ 09 thành viên, gồm 05 đại diện của nhân dân địa phương, 02 đại diện của các nhà đầu tư chiến lược hoặc đại diện của cộng đồng doanh nghiệp, 02 đại diện của các cơ quan nhà nước. Các thành viên của cơ quan hành chính của Đặc khu do HĐND Đặc khu bầu. UBND tỉnh cùng các Bộ, ngành giúp Thủ tướng thực hiện việc quản lý nhà nước, kiểm tra, thanh tra theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, theo mô hình này thì tổ chức chính quyền địa phương chưa tạo được bước đột phá, chưa tinh gọn một cách triệt để, việc quyết định vẫn thực hiện theo cơ chế tập thể, chưa tương thích với tính chất đặc biệt của các chính sách ưu đãi, các chính sách thu hút của đặc khu.

2.3. Nguyên tắc, yêu cầu và xu hướng tổ chức chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

Thứ nhất, về nguyên tắc: Khi chính quyền địa phương được tổ chức theo mô hình nói trên, thì nguyên tắc tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở Đặc khu cần tuân thủ theo các nguyên tắc sau: (i) Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật; (ii) Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, trong đó đề cao trách nhiệm và thẩm quyền quyết định của người đứng đầu; (iii) Nhất thể hóa một số chức danh Đảng và chính quyền phù hợp; (iv) Tinh gọn, năng động, hiện đại, minh bạch, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân; (v) Chịu sự giám sát của HĐND cấp tỉnh, của Đoàn Đại biểu Quốc hội ở địa phương và sự quản lý thống nhất của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch UBND cấp tỉnh; (vi) Đẩy mạnh phân công, phân cấp và kiểm tra, thanh tra giữa Đặc khu với các khu hành chính, giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với Trưởng cơ quan hành chính; (vii) Quy định rõ thẩm quyền và nhiệm vụ của Trưởng Đặc khu và của Trưởng khu hành chính, Trưởng các cơ quan chuyên môn giúp việc cho Trưởng Đặc khu.

Thứ hai, về yêu cầu: Đặc khu là đơn vị hành chính có tính đặc biệt so với các đơn vị hành chính khác. Do đó, mô hình tổ chức chính quyền địa phương ở Đặc khu được thiết kế sẽ có điểm khác so với quy định của pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, tổ chức chính quyền địa phương ở Đặc khu vẫn cần phải bảo đảm một số yêu cầu như: (i) Tổ chức phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và phù hợp với các điều ước, công ước quốc tế; (ii) Bảo đảm tính khoa học, khách quan và có tính thực tiễn cao. Cần thay đổi tư duy theo hướng mở về tổ chức chính quyền địa phương, phù hợp với tính chất đặc biệt của Đặc khu và phải phù hợp yêu cầu của thực tế; (iii) Bảo đảm bộ máy chính quyền địa phương được tổ chức tinh gọn, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả, được phân cấp, phân quyền mạnh mẽ. Phù hợp với quá trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách hành chính và cải cách công vụ, công chức; (iv) Bảo đảm giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ. Bảo đảm thực hiện sự giám sát của nhân dân thông qua các hình thức khác nhau và kiểm soát được thực hiện quyền lực; (vi) Bảo đảm sự lãnh đạo về công tác quốc phòng và an ninh hiệu quả.

Thứ ba, về xu hướng: Xây dựng mô hình chính quyền địa phương phù hợp với tính chất đặc biệt của Đặc khu, có thể tiếp cận theo một số điểm như: Phân biệt rõ chính quyền địa phương với cấp chính quyền địa phương; tổ chức chính quyền một cấp là thế nào; bảo đảm tổ chức thực hiện tốt cơ chế giám sát và kiểm soát quyền lực; gắn thẩm quyền với trách nhiệm trong thực thi quyền lực, thực thi công vụ... Hiến pháp năm 2013 quy định việc phân chia đơn vị hành chính theo cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Bên cạnh đó, có loại đơn vị hành chính do Quốc hội thành lập gọi chung là đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, nhưng không minh định đó là cấp nào. Đồng thời, với việc phân chia đó thì chính quyền địa phương đều được tổ chức ở các đơn vị hành chính. Điều 111 Hiến pháp năm 2013 đã quy định đơn vị hành chính (kể cả đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt) đều có chính quyền địa phương. Cũng tại Điều 111, có quy định về cấp chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương ở một đơn vị hành chính nếu được xác định là cấp chính quyền địa phương thì bao gồm HĐND và UBND. Trong trường hợp pháp luật không quy định chính quyền địa phương ở một đơn vị hành chính cụ thể nào đó là cấp chính quyền địa phương, thì chính quyền địa phương tại đó không nhất thiết phải tổ chức cả HĐND và UBND. Như vậy, theo quy định của Hiến pháp năm 2013 mô hình tổ chức chính quyền ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt có thể có nhiều cách tiếp cận. Tuy nhiên, cho dù là quan điểm nào thì chính quyền địa phương ở các đơn vị loại này đều phải đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, thu hút đầu tư, năng động, hiệu lực, hiệu quả, được Nhà nước giao cho nhiều thẩm quyền để chủ động trong phát triển kinh tế. Đồng thời, phải bảo đảm sự giám sát của người dân với các hình thức khác nhau.

Tóm lại, mô hình tổ chức chính quyền địa phương ở Đặc khu có thể tiếp cận từ nhiều hướng khác nhau nhưng phải bảo đảm các nguyên tắc và yêu cầu nêu trên. Trong đó, nguyên tắc “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” là nguyên tắc xuyên suốt, đảm bảo tính khả thi, tính thực tiễn; bảo đảm sự giám sát và kiểm soát quyền lực của chính quyền địa phương ở Đặc khu.

TS. Trần Anh Tuấn

Bộ Nội vụ

Tài liệu tham khảo:

[1]. Khoản 1 Điều 110 Hiến pháp năm 2013.

2. Xem Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.

[3]. Dự thảo “Luật Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt” trình cho ý kiến tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội Khóa14.Nguồn:http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=1319&LanID=1320&TabIndex=1.

[4]. Tham khảo: Ngân hàng Thế giới (2008), Khu Kinh tế đặc biệt: Hiệu suất, bài học kinh nghiệm và ý nghĩa đối với phát triển khu vực, Washington DC: Ngân hàng Thế giới, tr. 9-11.

[5]. Tham khảo: Wang Yu, Đánh giá tóm tắt về các khu hành chính đặc biệt và hệ thống khu vực. Nguồn:https://translate.googleusercontent.com/translate_c?depth=1&hl=vi&prev=search&rurl=translate.google.com.vn&sl=en&sp=nmt4&u=http://www.ipm.edu.mo/cntfiles/upload/docs/research/common/1country_2systems/academic_eng/issue3/07.pdf&usg=ALkJrhj9E6_yxHwwg2ouGOA51Ien5rwz_w.

Truy cập lần cuối: 25/10/2017.

[6]. Về “Đơn vị hành chính tương đương” có thể tương đồng với “Khu đặc biệt” khi Việt Nam tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại một số thành phố lớn.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.
Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Tóm tắt: Bài viết phân tích, làm rõ khái niệm người có ảnh hưởng, tình hình thực tiễn về mô hình quảng cáo thông qua người có ảnh hưởng và các hành vi quảng cáo gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới với những yêu cầu đặt ra về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như yêu cầu tháo gỡ những “điểm nghẽn”, “nút thắt” có nguyên nhân từ quy định của pháp luật hiện nay, việc hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật về thi hành án dân sự nói riêng là cấp thiết, đặc biệt, dự án Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) dự kiến được Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ họp thứ 10 vào tháng 10/2025. Trước bối cảnh đó, với vai trò là trụ cột, là nguồn lực chủ yếu để xây dựng và phát triển lực lượng sản xuất mới, đồng thời là đội ngũ tiên phong tham gia các lĩnh vực mới, thanh niên ngành thi hành án dân sự cần tiếp tục phát huy vai trò và trách nhiệm trong việc tham gia vào công tác hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự.
Hoạt động giám sát của Quốc hội trong thực hiện điều ước quốc tế - Một số tồn tại, hạn chế và kiến nghị, đề xuất hoàn thiện

Hoạt động giám sát của Quốc hội trong thực hiện điều ước quốc tế - Một số tồn tại, hạn chế và kiến nghị, đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam đối với việc thực hiện điều ước quốc tế, từ đó, đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, bảo đảm công tác giám sát thực hiện điều ước quốc tế ngày càng đi vào thực chất, hiệu quả.

Theo dõi chúng tôi trên: