Thứ bảy 02/05/2026 08:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về trách nhiệm bồi thường trong trường hợp cơ quan nhà nước công bố thông tin sai sự thật

Điều 623 và Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định về bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra

Điều 623 và Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định về bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra. Kế thừa các quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995, Điều 619 và 620 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra. Như vậy, so với Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 đã thu hẹp phạm vi trách nhiệm bồi thường chỉ đối với đối tượng là cán bộ, công chức khi thi hành công vụ mà gây thiệt hại mà không còn đối tượng là viên chức.

Ngày 18/6/2009, Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Điều 1 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định Nhà nước có trách nhiệm bồi thường đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án. Theo đó, có hai mặt bằng pháp lý để giải quyết bồi thường khi cán bộ, công chức thi hành công vụ gây thiệt hại là Bộ luật Dân sự năm 2005 và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009.

Ngày 24/11/2015, Quốc hội khóa XIII, kỳ hợp thứ 10 đã thông qua Bộ luật Dân sự năm 2015, trong đó, Điều 598 quy định “Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước”. Như vậy, có thể hiểu Nhà nước chỉ bồi thường đối với những hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra khi được quy định trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả đưa ra một số vụ việc phát sinh trong thực tiễn mà cơ quan nhà nước công bố thông tin sai sự thật, không chính xác dẫn đến thiệt hại cho cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp và đánh giá, bình luận về trách nhiệm bồi thường trong các trường hợp này.

1. Một số vụ việc mà cơ quan nhà nước công bố thông tin sai sự thật dấn đến thiệt hại cho cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp

Trong năm 2015 và năm 2016, trên các trang thông tin điện tử có đưa tin về nhiều vụ việc phát sinh từ việc công bố thông tin sai sự thật của các cơ quan nhà nước mà dẫn đến các thiệt hại nặng nề cả về tài sản và uy tín, thương hiệu của cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp.

1.1. Vụ việc thứ nhất, ngày 20/4/2016, Đội Quản lý thị trường (QLTT) số 14 thuộc Chi cục QLTT thành phố Hà Nội đã kiểm tra cơ sở kinh doanh của Công ty TNHH thương mại thực phẩm Hùng Anh, do ông Nguyễn Viết Xuân làm giám đốc, tại địa chỉ số 140C ngõ 351 Lĩnh Nam, Vĩnh Hưng, Hoàng Mai, Hà Nội. Thời điểm kiểm tra, lực lượng chức năng ghi nhận, cơ sở này đang kinh doanh mặt hàng xúc xích các loại do cơ sở kinh doanh và chế biến thực phẩm Việt (địa chỉ tại ấp Lồ Ồ, xã An Tây, huyện Bến Cát, Bình Dương) sản xuất. Qua xác minh, lực lượng chức năng xác định, toàn bộ số xúc xích cơ sở trên đang kinh doanh đều có hóa đơn chứng từ nhưng có dấu hiệu sử dụng phụ gia thực phẩm không đúng đối tượng thực phẩm quy định tại thông tư số 27/2012/TT-BYT ngày 30/11/2012 của Bộ Y tế. Do đó, Đội QLTT số 14 đã tiến hành tạm giữ hơn 2 tấn xúc xích, tương đương với 38.000 chiếc xúc xích, có dấu hiệu vi phạm để tiếp tục xác minh, làm rõ. Ngay trong khi kiểm đếm hàng hóa, đội trưởng Đội QLTT số 14 đã cung cấp thông tin cho báo chí ngay tại hiện trường rằng sản phẩm xúc xích của Viet foods có chứa chất cấm, chất gây ung thư và trong ngày 20/4/2016, trên các báo điện tử như vov.vn, tuoitre.vn, cafef.vn, anninhthudo.vn… đã có bài báo đưa tin về xúc xích chứa chất phụ gia bị cấm. Chi cục QLTT TP.Hà Nội đã đưa mẫu sản phẩm đi kiểm nghiệm tại Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm Quốc gia, kết quả 100% mẫu có chứa chất natri nitrat 251 (89 - 100 mg/kg). Đội QLTT số 14 tiếp tục công bố với báo chí sản phẩm xúc xích của Viet foods sử dụng chất cấm gây ung thư không được Bộ Y tế cho phép (theo vi bằng mà Viet foods lập và cung cấp thì có gần 500 bài báo đăng thông tin sản phẩm Viet foods chứa chất cấm, chất gây ung thư).

Ngày 23/5/2016, Cục An toàn thực phẩm họp hội đồng khoa học để xem xét việc sử dụng và hàm lượng natri nitrat 251 trong sản phẩm xúc xích Viet foods, kết luận natri nitrat 251 không phải là chất cấm sử dụng trong sản xuất, chế biến thực phẩm. Theo tiêu chuẩn Codex, natri nitrat 251 là phụ gia thực phẩm được phép sử dụng đối với phomat ủ chín hoàn toàn, kể cả bề mặt với hàm lượng không quá 35mg/kg. Cũng theo Codex, hàm lượng được áp dụng cho thực phẩm là không quá 300mg/kg. Do đó, hàm lượng natri nitrat 251 được phát hiện trong sản phẩm Viet foods là an toàn cho người tiêu dùng. Việc công bố thông tin không chính xác về Viet foods, đã gây ra những thiệt hại lớn. Bà Huỳnh Vũ Thị Minh Loan, Phó Tổng giám đốc Công ty chế biến thực phẩm Việt (VietFoods) cho biết, kể từ ngày Đội QLTT số 14 công bố với báo chí sản phẩm xúc xích của Viet foods sử dụng chất cấm gây ung thư không được Bộ Y tế cho phép, “doanh nghiệp đã phải ngưng sản xuất hơn một tháng, trên 100 công nhân nghỉ việc, hàng hóa bán đi bị trả về, hàng trong kho không tiêu thụ được, người tiêu dùng quay lưng với sản phẩm. Sự việc trên khiến công ty bị thiệt hại đến hàng chục tỷ đồng, thậm chí có những khách hàng nợ cả tỷ đồng cũng "té nước theo mưa" không chịu thanh toán tiền mua hàng”[1].

Bên cạnh đó, không chỉ Vietfoods mà nhiều doanh nghiệp khác cũng bị thiệt hại. Ví như đại diện Công ty đồ hộp Hạ Long cho biết, mặc dù công ty không có sai phạm gì và sản phẩm luôn được kiểm nghiệm an toàn nhưng hơn một tháng qua sức mua sản phẩm xúc xích tiệt trùng của công ty cũng sụt giảm mạnh. Nhiều người tiêu dùng hoang mang nên hạn chế mua sản phẩm của công ty, thậm chí, có người tiêu dùng đã mua sản phẩm rồi sau đó không dám sử dụng. Còn Công ty Behn Meyer, đơn vị chuyên cung cấp chất phụ gia cho hay, sau khi có thông tin chất phụ gia trên gây ung thư, doanh số bán hàng của công ty cũng giảm tới 50%. Khách hàng liên tục gọi điện tới hỏi thông tin và thắc mắc.

Khoản 4 Điều 68 Luật An toàn thực phẩm quy định việc kiểm tra an toàn thực phẩm phải bảo đảm nguyên tắc bí mật khi chưa có kết luận chính thức. Theo khoản 2 Điều 6 Luật An toàn thực phẩm, người lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm quy định của Luật An toàn thực phẩm tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hay truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Theo đó, Điều 68 Luật An toàn thực phẩm có quy định rõ về việc bảo vệ bí mật thông tin, tài liệu, kết quả kiểm tra cho đến khi có kết luận chính thức của các cơ quan có thẩm quyền. Điều 72 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định nếu vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm mà gây hậu quả lớn hoặc gây ảnh hưởng xấu về dư luận xã hội thì cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có trách nhiệm công bố công khai về việc xử phạt. Như vậy, có thể hiểu việc công bố thông tin chỉ được thực hiện khi đã xác định có hành vi vi phạm, quyết định xử phạt và hình thức xử phạt. Tuy nhiên, tại cuộc họp liên ngành ngày 17/5/2016, Cục An toàn thực phẩm - Bộ Y tế đã khẳng định sản phẩm xúc xích của Vietfoods là sản phẩm an toàn, tuy nhiên, Đội QLTT số 14 đã quá vội vàng cung cấp thông tin cho truyền thông. Theo quy định của Luật An toàn thực phẩm, Đội QLTT số 14 đã vi phạm khoản 4 Điều 68 và khoản 2 Điều 6. Trước ngày 01/01/2017, thời điểm có hiệu lực của Bộ luật Dân sự năm 2015, trường hợp này sẽ được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự năm 2005. Tuy nhiên, sau ngày 01/01/2017, Điều 598 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã dẫn chiếu toàn bộ hành vi trái pháp luật gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra sẽ được áp dụng theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để giải quyết.

1.2. Ngày 20/7/2015 trên cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính có đăng tên 600 doanh nghiệp nợ thuế. Tuy nhiên, ngay sau khi Bộ Tài chính đưa tin, các doanh nghiệp đã lên tiếng việc Bộ Tài chính đưa doanh nghiệp mình vào diện nợ thuế là không chính xác. Qua rà soát, đối chiếu, một số cục thuế các tỉnh, thành phố đã thông tin lại về số liệu doanh nghiệp nợ thuế do Bộ Tài chính công bố là chưa chính xác. Ví như: Cục Thuế TP. Hà Nội đã xác nhận trong số 200 doanh nghiệp nợ thuế tại TP. Hà Nội thì có 34 đơn vị bị bêu tên với số tiền nợ thuế không chính xác, 07 doanh nghiệp không nợ thuế nhưng bị liệt vào sanh sách nợ từ 10 - 50 tỷ đồng[2]; Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh cũng xác nhận về lỗi nhầm lẫn về số liệu trên hệ thống quản lý thuế.

Điều 6 Luật Quản lý thuế quy định người nộp thuế được giữ bí mật thông tin theo quy định của pháp luật và Điều 8 Luật Quản lý thuế quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế. Theo đó, cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm giữ bí mật thông tin của người nộp thuế theo quy định của Luật này. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 74 Luật Quản lý thuế cũng quy định “cơ quan quản lý thuế được công khai các thông tin vi phạm pháp luật về thuế của người nộp thuế trên phương tiện thông tin đại chúng trong các trường hợp trốn thuế, gian lận thuế, chây ỳ không nộp tiền thuế đúng thời hạn”. Một trong những lý do được lãnh đạo cơ quan thuế viện dẫn để xảy ra tình trạng nêu trên là do “lỗi ứng dụng quản lý thuế thu nhập cá nhân. Cụ thể, doanh nghiệp nộp tờ khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân bổ sung năm 2010 vào thời điểm tháng 6/2014. Khi đó, lỗi ứng dụng phần mềm quản lý thuế dẫn tới hạch toán toàn bộ số thuế trên tờ khai bổ sung mà không bù trừ tờ khai cũ. Đúng ra, cơ quan thuế phải hạch toán là khoản chênh lệch giữa hai tờ khai trên”[3].

Tuy nhiên, trường hợp cơ quan quản lý thuế vì lý do chủ quan mà công bố thông tin nợ thuế không đúng thì ngoài việc xin lỗi, đính chính công khai trên các phương tiện thông tin thì cơ quan quản lý thuế phải có trách nhiệm bồi thường đối với những thiệt hại gây ra bởi công bố thông tin sai về việc nợ thuế của doanh nghiệp. Tuy nhiên, hiện nay chưa có quy định về trách nhiệm bồi thường trong trường hợp công bố thông tin thuế sai sự thật.

2. Từ hai vụ việc phát sinh trong thực tiễn nêu trên, có thể thấy, cơ quan nhà nước đã làm sai quy định khi cung cấp thông tin cho báo chí, công bố thông tin trên các phương tiện đại chúng dù thông tin chưa chính xác, làm ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu và doanh thu của doanh nghiệp. Trong tình hình kinh tế hiện nay, khi Việt Nam đã gia nhập các tổ chức kinh tế quốc tế, việc kinh doanh, gây dựng thương hiệu, uy tín, cạnh tranh là không đơn giả. Vì vậy, để tạo một môi trường kinh doanh minh bạch, hạn chế tiêu cực, nhũng nhiễu là yếu tố tiên quyết cho sự sống còn của doanh nghiệp. Nội dung này cũng phù hợp với quan điểm của Đảng và Nhà nước quy định tại Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020. Theo đó, tác giả cho rằng, một trong các biện pháp để góp phần bảo đảm môi trường kinh doanh lành mạnh là xác định cụ thể trách nhiệm của cơ quan nhà nước, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước khi có những sai phạm trong hoạt động quản lý làm ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu và doanh thu của doanh nghiệp.

3. Ngày 09/6/2015, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 89/2015/QH13 về điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII năm 2015 và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2016. Theo đó, Bộ Tư pháp được giao chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan xây dựng dự án Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi) (sau đây gọi là dự thảo Luật). Hiện nay, Chính phủ đã trình Quốc hội dự án Luật (theo nội dung Tờ trình số 336/TTr-CP ngày 23/9/2016). So với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hiện hành, có thể thấy, dự thảo Luật đã bao quát các trường được bồi thường. Tuy nhiên, thực tế đã phát sinh nhiều trường hợp cơ quan nhà nước công bố sai thông tin, nội dung sai sự thật và gây thiệt hại đến doanh thu, uy tín và thương hiệu của sản phẩm. Việc quy định cụ thể các trường hợp này có được bồi thường hay không, bồi thường như thế nào lại chưa được đề cập trong dự thảo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Trong quá trình xây dựng dự thảo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, đã có ý kiến cho rằng: Cần mở rộng hơn trách nhiệm bồi thường của Nhà nước so với Điều 13 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 để phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và hệ thống pháp luật hiện hành, trong đó có trường hợp cơ quan nhà nước cung cấp thông tin không chính xác, sai sự thật[4].

Kinh nghiệm nước ngoài về vấn đề này cho thấy, có một số nước trên thế giới có quy định về trách nhiệm bồi thường do hành vi công bố thông tin sai sự thật của các cơ quan nhà nước. Ví như “trong Luật Công bố thông tin của cơ quan chính quyền Hàn Quốc luôn luôn chú trọng tới việc quy định về quyền khởi kiện cũng như trình tự khởi kiện để định hướng hành vi cho công dân tự bảo vệ quyền được tiếp cận thông tin của mình. Bên cạnh đó, trước hành vi vi phạm pháp luật về quyền công bố thông tin của cán bộ cơ quan chính quyền, hệ thống pháp luật Hàn Quốc đã xây dựng một cơ chế pháp lý đảm bảo việc phát hiện và xử lý qua hệ thống cơ quan giám sát trong nội bộ thuộc Bộ Hành chính và an ninh, trong giám sát của Quốc hội (thông qua báo cáo thường kỳ của Bộ Hành chính và an ninh) và trách nhiệm bồi thường nhà nước được quy định trong chế độ công vụ tại Luật Công vụ Hàn Quốc[5]”.

Tác giả cho rằng, trường hợp cơ quan nhà nước công bố thông tin sai sự thật, gây thiệt hại như đã phân tích ở các ví dụ nêu trên đã phát sinh trong thực tiễn và tiềm ẩn nguy cơ lớn, rủi ro lớn, tác động không nhỏ đến cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp; đồng thời, qua cách xử lý các trường hợp nêu trên đã thể hiện trách nhiệm, thái độ của Nhà nước đối với người dân. Do đó, để góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại cũng như để tăng uy tín, trách nhiệm của Nhà nước trước nhân dân, nên cân nhắc bổ sung theo lộ trình quy định về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong trường hợp cơ quan nhà nước công bố thông tin sai sự thật.

Thịnh Anh


[1] http://baochinhphu.vn/Utilities/PrintView.aspx?distributionid=255224

[2] http://nld.com.vn/kinh-te/bong-dung-bi-no-thue-ai-boi-thuong-cho-doanh-nghiep-20150728215632258.htm

[3] https://viseco.vn/NewsTools/Print.aspx?newsid=427865.

[4] Báo cáo số 64/BC-BTNN ngày 29/6/2015 của Cục Bồi thường nhà nước về kết quả Hội thảo lấy ý kiến các chuyên gia, nhà quản lý, cá nhân, tổ chức về thực tiễn thi hành, những bất cập của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và đề xuất, kiến nghị tổ chức tại thành phố Hà Nội ngày 29/6/2015 và Báo cáo số 169/BC-HĐTVTĐ ngày 07/7/2015 của Hội đồng tư vấn thẩm định các dự án luật, pháp lệnh triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013.

[5] Bài viết về “Luật về công bố thông tin của các cơ quan chính quyền Hàn Quốc” đăng trên trang: http://tcnn.vn/Plus.aspx/vi/News/125/0/1010073/0/6095/Luat_ve_cong_bo_thong_tin_cua_cac_co_quan_chinh_quyen_Han_Quoc của TS. Trương Thị Hồng Hà - Viện Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.

In bài viết Gửi phản hồi

Các tin khác

Bàn về trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tài sản gây ra thiệt hại Hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh với tội phạm mua bán người trong bối cảnh hội nhập quốc tế Một số vấn đề về quản lý và sử dụng đất ở Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào hiện nay Đưa Nghị quyết "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” vào cuộc sống theo lời Bác Hồ Một số vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau trong Dự thảo Luật Hợp tác xã Những vấn đề cần chứng minh trong tố tụng hành chính Công tác phòng, chống tình trạng người Việt Nam sang Căm-Pu-Chia đánh bạc thực trạng và giải pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: