Thứ ba 22/09/2026 11:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về trách nhiệm bồi thường trong trường hợp cơ quan nhà nước công bố thông tin sai sự thật

Điều 623 và Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định về bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra

Điều 623 và Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định về bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra. Kế thừa các quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995, Điều 619 và 620 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra. Như vậy, so với Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 đã thu hẹp phạm vi trách nhiệm bồi thường chỉ đối với đối tượng là cán bộ, công chức khi thi hành công vụ mà gây thiệt hại mà không còn đối tượng là viên chức.

Ngày 18/6/2009, Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Điều 1 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định Nhà nước có trách nhiệm bồi thường đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án. Theo đó, có hai mặt bằng pháp lý để giải quyết bồi thường khi cán bộ, công chức thi hành công vụ gây thiệt hại là Bộ luật Dân sự năm 2005 và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009.

Ngày 24/11/2015, Quốc hội khóa XIII, kỳ hợp thứ 10 đã thông qua Bộ luật Dân sự năm 2015, trong đó, Điều 598 quy định “Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước”. Như vậy, có thể hiểu Nhà nước chỉ bồi thường đối với những hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra khi được quy định trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả đưa ra một số vụ việc phát sinh trong thực tiễn mà cơ quan nhà nước công bố thông tin sai sự thật, không chính xác dẫn đến thiệt hại cho cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp và đánh giá, bình luận về trách nhiệm bồi thường trong các trường hợp này.

1. Một số vụ việc mà cơ quan nhà nước công bố thông tin sai sự thật dấn đến thiệt hại cho cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp

Trong năm 2015 và năm 2016, trên các trang thông tin điện tử có đưa tin về nhiều vụ việc phát sinh từ việc công bố thông tin sai sự thật của các cơ quan nhà nước mà dẫn đến các thiệt hại nặng nề cả về tài sản và uy tín, thương hiệu của cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp.

1.1. Vụ việc thứ nhất, ngày 20/4/2016, Đội Quản lý thị trường (QLTT) số 14 thuộc Chi cục QLTT thành phố Hà Nội đã kiểm tra cơ sở kinh doanh của Công ty TNHH thương mại thực phẩm Hùng Anh, do ông Nguyễn Viết Xuân làm giám đốc, tại địa chỉ số 140C ngõ 351 Lĩnh Nam, Vĩnh Hưng, Hoàng Mai, Hà Nội. Thời điểm kiểm tra, lực lượng chức năng ghi nhận, cơ sở này đang kinh doanh mặt hàng xúc xích các loại do cơ sở kinh doanh và chế biến thực phẩm Việt (địa chỉ tại ấp Lồ Ồ, xã An Tây, huyện Bến Cát, Bình Dương) sản xuất. Qua xác minh, lực lượng chức năng xác định, toàn bộ số xúc xích cơ sở trên đang kinh doanh đều có hóa đơn chứng từ nhưng có dấu hiệu sử dụng phụ gia thực phẩm không đúng đối tượng thực phẩm quy định tại thông tư số 27/2012/TT-BYT ngày 30/11/2012 của Bộ Y tế. Do đó, Đội QLTT số 14 đã tiến hành tạm giữ hơn 2 tấn xúc xích, tương đương với 38.000 chiếc xúc xích, có dấu hiệu vi phạm để tiếp tục xác minh, làm rõ. Ngay trong khi kiểm đếm hàng hóa, đội trưởng Đội QLTT số 14 đã cung cấp thông tin cho báo chí ngay tại hiện trường rằng sản phẩm xúc xích của Viet foods có chứa chất cấm, chất gây ung thư và trong ngày 20/4/2016, trên các báo điện tử như vov.vn, tuoitre.vn, cafef.vn, anninhthudo.vn… đã có bài báo đưa tin về xúc xích chứa chất phụ gia bị cấm. Chi cục QLTT TP.Hà Nội đã đưa mẫu sản phẩm đi kiểm nghiệm tại Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm Quốc gia, kết quả 100% mẫu có chứa chất natri nitrat 251 (89 - 100 mg/kg). Đội QLTT số 14 tiếp tục công bố với báo chí sản phẩm xúc xích của Viet foods sử dụng chất cấm gây ung thư không được Bộ Y tế cho phép (theo vi bằng mà Viet foods lập và cung cấp thì có gần 500 bài báo đăng thông tin sản phẩm Viet foods chứa chất cấm, chất gây ung thư).

Ngày 23/5/2016, Cục An toàn thực phẩm họp hội đồng khoa học để xem xét việc sử dụng và hàm lượng natri nitrat 251 trong sản phẩm xúc xích Viet foods, kết luận natri nitrat 251 không phải là chất cấm sử dụng trong sản xuất, chế biến thực phẩm. Theo tiêu chuẩn Codex, natri nitrat 251 là phụ gia thực phẩm được phép sử dụng đối với phomat ủ chín hoàn toàn, kể cả bề mặt với hàm lượng không quá 35mg/kg. Cũng theo Codex, hàm lượng được áp dụng cho thực phẩm là không quá 300mg/kg. Do đó, hàm lượng natri nitrat 251 được phát hiện trong sản phẩm Viet foods là an toàn cho người tiêu dùng. Việc công bố thông tin không chính xác về Viet foods, đã gây ra những thiệt hại lớn. Bà Huỳnh Vũ Thị Minh Loan, Phó Tổng giám đốc Công ty chế biến thực phẩm Việt (VietFoods) cho biết, kể từ ngày Đội QLTT số 14 công bố với báo chí sản phẩm xúc xích của Viet foods sử dụng chất cấm gây ung thư không được Bộ Y tế cho phép, “doanh nghiệp đã phải ngưng sản xuất hơn một tháng, trên 100 công nhân nghỉ việc, hàng hóa bán đi bị trả về, hàng trong kho không tiêu thụ được, người tiêu dùng quay lưng với sản phẩm. Sự việc trên khiến công ty bị thiệt hại đến hàng chục tỷ đồng, thậm chí có những khách hàng nợ cả tỷ đồng cũng "té nước theo mưa" không chịu thanh toán tiền mua hàng”[1].

Bên cạnh đó, không chỉ Vietfoods mà nhiều doanh nghiệp khác cũng bị thiệt hại. Ví như đại diện Công ty đồ hộp Hạ Long cho biết, mặc dù công ty không có sai phạm gì và sản phẩm luôn được kiểm nghiệm an toàn nhưng hơn một tháng qua sức mua sản phẩm xúc xích tiệt trùng của công ty cũng sụt giảm mạnh. Nhiều người tiêu dùng hoang mang nên hạn chế mua sản phẩm của công ty, thậm chí, có người tiêu dùng đã mua sản phẩm rồi sau đó không dám sử dụng. Còn Công ty Behn Meyer, đơn vị chuyên cung cấp chất phụ gia cho hay, sau khi có thông tin chất phụ gia trên gây ung thư, doanh số bán hàng của công ty cũng giảm tới 50%. Khách hàng liên tục gọi điện tới hỏi thông tin và thắc mắc.

Khoản 4 Điều 68 Luật An toàn thực phẩm quy định việc kiểm tra an toàn thực phẩm phải bảo đảm nguyên tắc bí mật khi chưa có kết luận chính thức. Theo khoản 2 Điều 6 Luật An toàn thực phẩm, người lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm quy định của Luật An toàn thực phẩm tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hay truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Theo đó, Điều 68 Luật An toàn thực phẩm có quy định rõ về việc bảo vệ bí mật thông tin, tài liệu, kết quả kiểm tra cho đến khi có kết luận chính thức của các cơ quan có thẩm quyền. Điều 72 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định nếu vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm mà gây hậu quả lớn hoặc gây ảnh hưởng xấu về dư luận xã hội thì cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có trách nhiệm công bố công khai về việc xử phạt. Như vậy, có thể hiểu việc công bố thông tin chỉ được thực hiện khi đã xác định có hành vi vi phạm, quyết định xử phạt và hình thức xử phạt. Tuy nhiên, tại cuộc họp liên ngành ngày 17/5/2016, Cục An toàn thực phẩm - Bộ Y tế đã khẳng định sản phẩm xúc xích của Vietfoods là sản phẩm an toàn, tuy nhiên, Đội QLTT số 14 đã quá vội vàng cung cấp thông tin cho truyền thông. Theo quy định của Luật An toàn thực phẩm, Đội QLTT số 14 đã vi phạm khoản 4 Điều 68 và khoản 2 Điều 6. Trước ngày 01/01/2017, thời điểm có hiệu lực của Bộ luật Dân sự năm 2015, trường hợp này sẽ được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự năm 2005. Tuy nhiên, sau ngày 01/01/2017, Điều 598 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã dẫn chiếu toàn bộ hành vi trái pháp luật gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra sẽ được áp dụng theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để giải quyết.

1.2. Ngày 20/7/2015 trên cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính có đăng tên 600 doanh nghiệp nợ thuế. Tuy nhiên, ngay sau khi Bộ Tài chính đưa tin, các doanh nghiệp đã lên tiếng việc Bộ Tài chính đưa doanh nghiệp mình vào diện nợ thuế là không chính xác. Qua rà soát, đối chiếu, một số cục thuế các tỉnh, thành phố đã thông tin lại về số liệu doanh nghiệp nợ thuế do Bộ Tài chính công bố là chưa chính xác. Ví như: Cục Thuế TP. Hà Nội đã xác nhận trong số 200 doanh nghiệp nợ thuế tại TP. Hà Nội thì có 34 đơn vị bị bêu tên với số tiền nợ thuế không chính xác, 07 doanh nghiệp không nợ thuế nhưng bị liệt vào sanh sách nợ từ 10 - 50 tỷ đồng[2]; Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh cũng xác nhận về lỗi nhầm lẫn về số liệu trên hệ thống quản lý thuế.

Điều 6 Luật Quản lý thuế quy định người nộp thuế được giữ bí mật thông tin theo quy định của pháp luật và Điều 8 Luật Quản lý thuế quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế. Theo đó, cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm giữ bí mật thông tin của người nộp thuế theo quy định của Luật này. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 74 Luật Quản lý thuế cũng quy định “cơ quan quản lý thuế được công khai các thông tin vi phạm pháp luật về thuế của người nộp thuế trên phương tiện thông tin đại chúng trong các trường hợp trốn thuế, gian lận thuế, chây ỳ không nộp tiền thuế đúng thời hạn”. Một trong những lý do được lãnh đạo cơ quan thuế viện dẫn để xảy ra tình trạng nêu trên là do “lỗi ứng dụng quản lý thuế thu nhập cá nhân. Cụ thể, doanh nghiệp nộp tờ khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân bổ sung năm 2010 vào thời điểm tháng 6/2014. Khi đó, lỗi ứng dụng phần mềm quản lý thuế dẫn tới hạch toán toàn bộ số thuế trên tờ khai bổ sung mà không bù trừ tờ khai cũ. Đúng ra, cơ quan thuế phải hạch toán là khoản chênh lệch giữa hai tờ khai trên”[3].

Tuy nhiên, trường hợp cơ quan quản lý thuế vì lý do chủ quan mà công bố thông tin nợ thuế không đúng thì ngoài việc xin lỗi, đính chính công khai trên các phương tiện thông tin thì cơ quan quản lý thuế phải có trách nhiệm bồi thường đối với những thiệt hại gây ra bởi công bố thông tin sai về việc nợ thuế của doanh nghiệp. Tuy nhiên, hiện nay chưa có quy định về trách nhiệm bồi thường trong trường hợp công bố thông tin thuế sai sự thật.

2. Từ hai vụ việc phát sinh trong thực tiễn nêu trên, có thể thấy, cơ quan nhà nước đã làm sai quy định khi cung cấp thông tin cho báo chí, công bố thông tin trên các phương tiện đại chúng dù thông tin chưa chính xác, làm ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu và doanh thu của doanh nghiệp. Trong tình hình kinh tế hiện nay, khi Việt Nam đã gia nhập các tổ chức kinh tế quốc tế, việc kinh doanh, gây dựng thương hiệu, uy tín, cạnh tranh là không đơn giả. Vì vậy, để tạo một môi trường kinh doanh minh bạch, hạn chế tiêu cực, nhũng nhiễu là yếu tố tiên quyết cho sự sống còn của doanh nghiệp. Nội dung này cũng phù hợp với quan điểm của Đảng và Nhà nước quy định tại Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020. Theo đó, tác giả cho rằng, một trong các biện pháp để góp phần bảo đảm môi trường kinh doanh lành mạnh là xác định cụ thể trách nhiệm của cơ quan nhà nước, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước khi có những sai phạm trong hoạt động quản lý làm ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu và doanh thu của doanh nghiệp.

3. Ngày 09/6/2015, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 89/2015/QH13 về điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII năm 2015 và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2016. Theo đó, Bộ Tư pháp được giao chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan xây dựng dự án Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi) (sau đây gọi là dự thảo Luật). Hiện nay, Chính phủ đã trình Quốc hội dự án Luật (theo nội dung Tờ trình số 336/TTr-CP ngày 23/9/2016). So với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hiện hành, có thể thấy, dự thảo Luật đã bao quát các trường được bồi thường. Tuy nhiên, thực tế đã phát sinh nhiều trường hợp cơ quan nhà nước công bố sai thông tin, nội dung sai sự thật và gây thiệt hại đến doanh thu, uy tín và thương hiệu của sản phẩm. Việc quy định cụ thể các trường hợp này có được bồi thường hay không, bồi thường như thế nào lại chưa được đề cập trong dự thảo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Trong quá trình xây dựng dự thảo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, đã có ý kiến cho rằng: Cần mở rộng hơn trách nhiệm bồi thường của Nhà nước so với Điều 13 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 để phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và hệ thống pháp luật hiện hành, trong đó có trường hợp cơ quan nhà nước cung cấp thông tin không chính xác, sai sự thật[4].

Kinh nghiệm nước ngoài về vấn đề này cho thấy, có một số nước trên thế giới có quy định về trách nhiệm bồi thường do hành vi công bố thông tin sai sự thật của các cơ quan nhà nước. Ví như “trong Luật Công bố thông tin của cơ quan chính quyền Hàn Quốc luôn luôn chú trọng tới việc quy định về quyền khởi kiện cũng như trình tự khởi kiện để định hướng hành vi cho công dân tự bảo vệ quyền được tiếp cận thông tin của mình. Bên cạnh đó, trước hành vi vi phạm pháp luật về quyền công bố thông tin của cán bộ cơ quan chính quyền, hệ thống pháp luật Hàn Quốc đã xây dựng một cơ chế pháp lý đảm bảo việc phát hiện và xử lý qua hệ thống cơ quan giám sát trong nội bộ thuộc Bộ Hành chính và an ninh, trong giám sát của Quốc hội (thông qua báo cáo thường kỳ của Bộ Hành chính và an ninh) và trách nhiệm bồi thường nhà nước được quy định trong chế độ công vụ tại Luật Công vụ Hàn Quốc[5]”.

Tác giả cho rằng, trường hợp cơ quan nhà nước công bố thông tin sai sự thật, gây thiệt hại như đã phân tích ở các ví dụ nêu trên đã phát sinh trong thực tiễn và tiềm ẩn nguy cơ lớn, rủi ro lớn, tác động không nhỏ đến cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp; đồng thời, qua cách xử lý các trường hợp nêu trên đã thể hiện trách nhiệm, thái độ của Nhà nước đối với người dân. Do đó, để góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại cũng như để tăng uy tín, trách nhiệm của Nhà nước trước nhân dân, nên cân nhắc bổ sung theo lộ trình quy định về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong trường hợp cơ quan nhà nước công bố thông tin sai sự thật.

Thịnh Anh


[1] http://baochinhphu.vn/Utilities/PrintView.aspx?distributionid=255224

[2] http://nld.com.vn/kinh-te/bong-dung-bi-no-thue-ai-boi-thuong-cho-doanh-nghiep-20150728215632258.htm

[3] https://viseco.vn/NewsTools/Print.aspx?newsid=427865.

[4] Báo cáo số 64/BC-BTNN ngày 29/6/2015 của Cục Bồi thường nhà nước về kết quả Hội thảo lấy ý kiến các chuyên gia, nhà quản lý, cá nhân, tổ chức về thực tiễn thi hành, những bất cập của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và đề xuất, kiến nghị tổ chức tại thành phố Hà Nội ngày 29/6/2015 và Báo cáo số 169/BC-HĐTVTĐ ngày 07/7/2015 của Hội đồng tư vấn thẩm định các dự án luật, pháp lệnh triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013.

[5] Bài viết về “Luật về công bố thông tin của các cơ quan chính quyền Hàn Quốc” đăng trên trang: http://tcnn.vn/Plus.aspx/vi/News/125/0/1010073/0/6095/Luat_ve_cong_bo_thong_tin_cua_cac_co_quan_chinh_quyen_Han_Quoc của TS. Trương Thị Hồng Hà - Viện Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.

In bài viết Gửi phản hồi

Các tin khác

Bàn về trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tài sản gây ra thiệt hại Hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh với tội phạm mua bán người trong bối cảnh hội nhập quốc tế Một số vấn đề về quản lý và sử dụng đất ở Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào hiện nay Đưa Nghị quyết "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” vào cuộc sống theo lời Bác Hồ Một số vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau trong Dự thảo Luật Hợp tác xã Những vấn đề cần chứng minh trong tố tụng hành chính Công tác phòng, chống tình trạng người Việt Nam sang Căm-Pu-Chia đánh bạc thực trạng và giải pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: